ìm hiểu một số ảnh hưởng của tôn giáo đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt hiện nay - Pdf 25

Hà Nội - 2010Hà Nội - 2010
Tìm hiểu một số ảnh h ởng của tôn giáo
đến đời sống văn hoá tinh thần
ng ời việt hiện nay
Tìm hiểu một số ảnh h ởng của tôn giáo
đến
đời
sống văn hoá tinh thần
ng
ời việt
hiện nay
Luận văn thạc sỹ triết họcLuận văn thạc sỹ triết học
Vũ đức chính
(Thích Thanh Nhiễu)
Vũ đức chính
(Thích
Thanh Nhiễu)
đạI học quốc gia hà nội
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN V N
đạI học quốc gia hà nội
TRNG I
HC KHOA HC X HI V NHN V N
luận văn thạc sỹ triết học
h nội 2010
Vũ đức chínhVũ đức chính
(Thích Thanh Nhiễu)(Thích Thanh Nhiễu)
Hà Nội - 2010Hà Nội - 2010
Luận văn thạc sỹ triết họcLuận văn thạc sỹ triết học
đạI học quốc gia hà nội
TRNG I HC KHOA HC X HI V NHN V N
đạI học quốc gia hà nội


119
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6. Đóng góp của luận văn: 6
7. Ý nghĩa của luận văn: 6
8. Kết cấu của luận văn 7
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ
TRƯỚC KHI CÓ TÔN GIÁO NGOẠI NHẬP 8
1.1. Khái quát về tôn giáo ở Việt Nam 8
1.1.1. Tôn giáo và những biểu hiện của tôn giáo 8
1.1.2. Vài nét về tôn giáo ở Việt Nam 21
1.2. Đời sống văn hóa tinh thần của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ
trước khi có tôn giáo ngoại nhập. 25
1.2.1. Một số khái niệm chung 25
1.2.2. Đôi nét về đời sống văn hóa tinh thần của người Việt 32
Chương 2: MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI
SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY 38
2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần người Việt 40
2.1.1. Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa tín ngưỡng và luân lý đạo đức 40
2.1.2. Ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn học nghệ thuật. 56
2.2. Ảnh hưởng của Công giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần
người Việt 73


giáo với tính cách là một yếu tố của cấu trúc xã hội, đã có những ảnh hưởng
không nhỏ đến con người và xã hội trên cả hai mặt, tích cực và tiêu cực, góp
phần tạo nên sắc thái đặc biệt cho đời sống văn hóa tinh thần của nhân loại.
Ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần được đánh
giá hết sức khác nhau, thậm chí đối lập nhau trong lịch sử. Tuy nhiên, có
nhiều ý kiến thống nhất với nhau rằng: tôn giáo vừa có khả năng tạo nên
những giá trị làm phong phú và thúc đẩy đời sống văn hóa tinh thần của xã hội
song cũng có thể tạo nên những cản trở đối với sự phát triển đời sống văn hóa
tinh thần, đời sống xã hội. Vì vậy, vấn đề được đặt ra cho người nghiên cứu

2
tôn giáo học là phải thấy được những hợp lý và khiếm khuyết của hiện tượng
tôn giáo và những ảnh hưởng của nó đã, đang và sẽ cản trở lịch sử nhân loại.
Điều này thực sự cần thiết trong thời đại ngày nay, khi cùng với sự phát triển
của khoa học kỹ thuật, các trào lưu hiện đại hóa, các tôn giáo thế giới có xu
hướng gắn bó hơn với đời sống thế tục, đặc biệt trong các lĩnh vực văn hóa
tín ngưỡng truyền thống, luân lý đạo đức và văn học nghệ thuật để tự điều
chỉnh, thích ứng với xu thế của thời đại, mong giữ được thánh địa thiêng
liêng của mình để tiếp tục tồn tại và tồn tại lâu dài.
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo. Bên cạnh những tôn giáo nội
sinh như đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, còn có những tôn giáo được du
nhập từ bên ngoài vào như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo…
Các tôn giáo ở Việt Nam luôn tồn tại song hành cùng lịch sử dân tộc,
bên cạnh những hạn chế nhất định, tôn giáo đã có những đóng góp tích cực
nhất định cho nền văn hóa dân tộc, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo
của dân tộc Việt Nam.
Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra
mạnh mẽ, trước những biến đổi của tình hình thế giới và trong nước, tôn giáo
ở Việt Nam đang có những biến động phức tạp theo nhiều chiều hướng. Vì
vậy, nhiều vấn đề được đặt ra, nhất là xung quanh việc đánh giá ảnh hưởng

Việt Nam” của Trần Quốc Vượng (chủ biên); “Việt Nam văn hóa sử cƣơng”
của học giả Đào Duy Anh; “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc
Thêm; Một số vấn đề lý luận văn hoá thời kỳ đổi mới” của Hoàng Văn Vinh;
“Văn hoá và văn hóa học thế kỷ XX”, của Viện khoa học xã hội; “Văn hóa và
sự phát triển” của một số tác giả nước ngoài viết về văn hóa như: Iu.Đavưđôp,
L.G.Ionin, V.E.Đaviđôvich, Zđanôp
Nghiên cứu về tôn giáo tiêu biểu là các công trình: “Lý luận về tôn
giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của Đặng Nghiêm Vạn, “Một số tôn

4
giáo ở Việt Nam”, của Nguyễn Thanh Xuân; “Mƣời tôn giáo lớn trên thế
giới”, của Hoàng Tâm Xuyên; “Tôn giáo thế giới và Việt Nam” của Mai
Thanh Hải; Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, 2 của Lê Mạnh Thát, “Phật
giáo Việt Nam những vấn đề hiện nay”, của Nguyễn Tài Thư; “Phật giáo
trong mạch sống dân tộc”, của Thích Thanh Từ; “Việt Nam giáo sử”, của
Phan Phát Huồn; “Lịch sử truyền giáo”, tập 1, 2 của Nguyên Hồng; “Nghi lễ
và lối sống Công giáo trong văn hoá Việt Nam” của Nguyễn Hồng Dương
Ngoài ra, còn một số ít công trình đề cập trực tiếp tới một vài phương
diện biểu hiện sự tác động qua lại giữa văn hóa và tôn giáo: “Tôn giáo trong
mối quan hệ với văn hóa và phát triển ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hồng
Dương; “Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngƣỡng tôn giáo ở Việt Nam” của
Chu Quang Trứ; “Ảnh hƣởng của các hệ tƣ tƣởng và tôn giáo đối với con
ngƣời Việt Nam hiện nay” do Nguyễn Tài Thư chủ biên; “Những vấn đề lý
luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam” và “Lý luận về tôn giáo và tình hình
tôn giáo ở Việt Nam”, của Đặng Nghiêm Vạn
Một số tạp chí cũng có những bài viết nghiên cứu về tôn giáo và ảnh
hưởng của tôn giáo đến đời sống văn hóa xã hội như: Tạp chí Triết học, Tạp
chí Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Công tác tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Phật
học, Tạp chí Công giáo và dân tộc, Có thể kể đến các bài viết như: “Đạo
đức và đạo đức tôn giáo nhìn từ góc độ triết học” của Nguyễn Hữu Vui (Tạp

đồng bằng Bắc Bộ hiện nay. Đồng thời đưa ra một số một số giải pháp nhằm
phát huy những giá trị tốt đẹp, khắc phục những hạn chế trong tôn giáo ở Việt
Nam hiện nay.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu: Ảnh hưởng của tôn giáo (Phật giáo, Công giáo)
đối với đời sống văn hoá tinh thần người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu một số ảnh hưởng của
tôn giáo (mà cụ thể là Phật giáo và Công giáo) đến đời sống văn hóa tinh

6
thần của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ trên một số lĩnh vực cụ thể: tư
tưởng, tín ngưỡng truyền thống, văn học nghệ thuật. Những lĩnh vực này rất
gần gũi và gắn bó với sinh hoạt đời sống văn hoá tinh thần của người Việt.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; những quan điểm, đường lối chính sách
của Đảng về tôn giáo; các công trình nghiên cứu về tôn giáo của các nhà Khoa
học trong và ngoài nước.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tôn giáo trong
mối quan hệ với đời sống văn hoá tinh thần từ góc độ tôn giáo học, sử
dụng tổng hợp các phương pháp trong quá trình nghiên cứu như kết hợp
logic với cơ sở, lý luận gắn với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng
hợp tư liệu
6. Đóng góp của luận văn:
Trên cơ sở phân tích khái quát về tôn giáo ở Việt Nam và đời sống văn
hóa tinh thần người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trước khi có tôn giáo ngoại
nhập, luận văn phân tích một số ảnh hưởng của tôn giáo cụ thể như Phật giáo,
Công giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ
hiện nay. Đồng thời đưa ra một số một số giải pháp nhằm phát huy những giá
trị văn hóa tôn giáo tốt đẹp, khắc phục những hạn chế trong tôn giáo ở Việt

đã nêu rõ vai trò của tôn giáo và tầm quan trọng của công tác tôn giáo: “Tín
ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và
Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân
dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục
mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống
những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời nghiêm cấm và ngăn
chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc,
chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”[20;78].
Vậy, tôn giáo là gì? Bản chất của tôn giáo ra sao? Tôn giáo đã ảnh hưởng đến
đời sống xã hội như thế nào? mà Đảng ta lại khẳng định như vậy?
Tôn giáo là gì? Đây là một vấn đề xưa cũ nhưng cũng là một vấn đề
thường xuyên mới. Người ta xem xét, nhận thức tôn giáo từ những không gian
văn hóa và truyền thống tư tưởng khác nhau, do sự đa dạng của xuất phát điểm
và góc nhìn khác nhau mà dẫn đến kết luận và giải đáp cũng rất khác nhau. Điều
này làm nảy sinh ra vấn đề là nên lý giải tôn giáo như thế nào?
Theo những định nghĩa phổ thông thì tôn giáo là một dạng sinh hoạt
tâm linh, trong đó con người tin vào sự hiện hữu của các thế lực siêu nhiên, có
quyền lực siêu phàm, có thể tác động đến đời sống của con người khi con
người sống cũng như khi đã chết. Tin vào sự bất tử của linh hồn và một thế

9
giới sau khi chết, trong đó linh hồn của những người đã chết vẫn tồn tại trong
một cuộc sống khác. Từ đó con người đi đến chỗ tôn vinh, thờ phụng các thế
lực siêu nhiên, linh hồn của những người đã chết với hy vọng được sống an
lành nơi trần thế và được hưởng phúc vĩnh hằng nơi thế giới bên kia sau khi
đã chết.
Tôn giáo có đặc trưng nổi bật là đặt niềm tin vào các lực lượng siêu
nhiên, đặt ra những phương thức ứng xử để trước mắt có được một cuộc sống
an bình nơi trần thế và sẽ được hưởng một hạnh phúc vĩnh hằng nơi thế giới
bên kia, nhờ vào sự hỗ trợ của những sức mạnh siêu nhiên đó.

diệt. Phật giáo dần dần tách ra nhiều tông phái, trong đó nổi bật là hai tông phái
Tiểu thừa (Hinayana) và Đại thừa (Mahayana). Tông phái Tiểu thừa phát triển ở
Nam Ấn và truyền qua các nước như Xrilanca, Miến Điện, Thái Lan,
Campuchia, Lào và Nam Việt Nam. Tông phái Đại thừa phát triển ở Bắc Ấn rồi
truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Bắc Việt Nam.
Xét về đặc tính tông truyền thì đạo Ki tô có phần tiêu biểu hơn, như
Ph.Ăngghen đã từng nhận xét: Sau Cơ Đốc giáo con người không thể sáng tạo
ra một tôn giáo nào hoàn hảo hơn. Và chỉ trong vài năm, Ki tô giáo bành
trướng từ Palextin tiến sâu vào nội địa ba châu Á, Âu, Phi. Và sau này Công
giáo lan sang miền Lưỡng Hà (Mesopotamie), Ba Tư rồi Ấn Độ, đồng thời
tràn qua Alexandri và Bắc Phi.
Tôn giáo còn là một sự kiện của lịch sử xã hội, bởi tôn giáo không chỉ
quan tâm đến những vấn đề của thế giới bên kia mà còn dành phần quan trọng
cho sự quan tâm đến những vấn đề đời thường của xã hội con người và được
thể hiện rõ trong luân lý, đạo đức của tư tưởng tôn giáo. Ở bất cứ điều kiện
kinh tế nào, những thiên tai, những bất hạnh trong xã hội như núi lửa, động
đất, hỏa hoạn, lụt lội, bệnh tật mà con người đang gánh chịu thì tôn giáo đã
góp phần nhất định trong việc gánh vác bớt những nỗi khổ đau đó của con
người. Nó góp phần hạn chế những hành vi tiêu cực của con người, hàn gắn,

11
bù đắp một cách thiết thực, dù ở mức độ nào đó, những rủi ro bất hạnh của
con người phần nào cũng giải quyết được.
Hơn thế nữa tôn giáo còn là văn hóa, như chúng ta đã biết văn hóa đã
sản sinh ra văn hóa tôn giáo, văn hóa tôn giáo ấy mang tính đặc trưng của tôn
giáo sản sinh ra nó, nhưng đồng thời cũng in đậm màu sắc của nó lên văn hóa
đời thường của cộng đồng đi theo tôn giáo đó. Bởi vì, những nơi nào đó coi
tôn giáo là Quốc giáo hoặc nơi có số tín đồ đông nhất sẽ đem lại cho nền văn
hóa ấy một bản sắc riêng. Các công trình văn hóa kiệt xuất của Hy Lạp, Ai
Cập, Ấn Độ, Trung Quốc không chỉ là sản phẩm của tôn giáo đơn nhất, mà là

bên ngoài họ, mà họ không nhận biết được, cũng như không chi phối và kiểm
soát được, vì thế mà đối với chúng, họ cảm thấy có sợ hãi bí ẩn, sự sợ hãi
này sẽ sản sinh ra các vị thần linh”[31;46].
Nhưng khi nghiên cứu về tác động, ảnh hưởng của các yếu tố ý thức hệ,
đặc biệt là ý thức hệ tôn giáo tới đời sống văn hóa xã hội ta phải thận trọng
với những giá trị về cuộc sống mà tôn giáo mang lại có khả năng thỏa mãn
nhu cầu tinh thần của con người như: giá trị đạo đức dân tộc, ý nghĩa cho cuộc
đời mỗi người, sự bảo đảm theo cách này hay cách khác cho thắng lợi của lẽ
công bằng, sự thỏa mãn nhu cầu tuyệt đối của cuộc sống ấm no nơi Thiên
Đàng, Niết Bàn Rất dễ đưa ta đến chỗ biến tôn giáo và ảnh hưởng của nó,
vốn chỉ mang tính độc lập tương đối, trở thành tính độc lập tuyệt đối, nghĩa là
nó tác động đến đời sống con người với vị thế như là một yếu tố ở bên ngoài
thế giới vật chất – một luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy tâm.
Bởi xét cho cùng trên thực tế những lý tưởng cao quý mà tôn giáo đem
lại cho con người không bao giờ thực hiện được, nó chỉ là sự thỏa mãn nhu
cầu một cách ảo tưởng. C.Mác nói: “Tôn giáo là trái tim của thế giới không
trái tim”, “Tôn giáo là tinh thần của những trật tự không có tinh thần”, “Tôn
giáo chỉ là cái mặt trời ảo tưởng xoay quanh con người chừng nào con người
chưa biết đầu xoay quanh bản thân mình”[52;569-570].

13
Từ lâu các nhà nghiên cứu tôn giáo ở nước ta (chỉ nói riêng các nhà
nghiên cứu mác xít) đã có những cuộc tranh luận khoa học với nhiều ý kiến
khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về những ảnh hưởng của tôn giáo. Không
ít người chỉ nhìn thấy tôn giáo như một thứ “thuốc phiện” của nhân dân, một
hiện tượng tinh thần xã hội, hoàn toàn tiêu cực (như đạo Ki tô khi du nhập vào
nước ta). Nhiều người khác lại tuyệt đối mặt tích cực của tôn giáo trong đời
sống xã hội, đồng nhất lý tưởng và đạo đức tôn giáo (nhất là Phật giáo) với lý
tưởng và đạo đức của con người Chủ nghĩa xã hội.
Điều đó cho thấy, vấn đề ảnh hưởng của tôn giáo đến đời sống xã hội

với tới được. Chính nhờ vào những yếu tố này con người mới tiến được vào
cõi xa xăm, mà từ trước chỉ coi như là sự huyền bí. Vì vậy, nhu cầu tâm linh
tín ngưỡng của quần chúng nhân dân cũng bức thiết như nhu cầu về đời sống
vật chất như ăn, ở, mặc Nói cách khác, tôn giáo là phần không thể thiếu
được của mỗi con người.
Vì vậy mà đạo Phật ra đời ở Ấn Độ khoảng thế kỷ thứ V trước Công
nguyên. Đức Phật là con vua Tịnh Phạn (Suddhadama) ở phía Bắc xứ Ấn Độ.
Mẹ thân sinh ra Ngài mang họ Thích Ca (Cakya), nên sau gọi Thích Ca Mâu
Ni Phật. Thái tử Tất Đạt Đa sinh vào khoảng 563-438 TCN. Thời đó, xã hội
Ấn Độ theo đạo Bà La Môn, được phân chia thành năm đẳng cấp. Ba lớp
người thuộc đẳng cấp trên (vua chúa, quý tộc, thương gia) tha hồ đàn áp bóc
lột hai đẳng cấp dưới (giới lao động và lớp người cùng khổ gọi là Parisas).
Thái tử Tất Đạt Đa buồn phiền vì nỗi thống khổ cùng cực của người lao
động và với cảnh sinh, lão, bệnh, tử của họ, Ngài đã từ bỏ đạo Bà La Môn
(
1
)
,
đến năm 29 tuổi, đã quyết chí bỏ nhà đi tu hành tìm con đường giải thoát cho
loài người khỏi mọi đau khổ trên đời. Sau khi đã thành Phật – Bụt (Bậc giác
ngộ) (hình 1). Ngài đã đi khắp lưu vực sông Hằng và những nơi khác để giáo 1
Đạo Bà La Môn lúc đó là hệ tư tưởng chính thống trị xã hội Ấn Độ cổ đại.

15
hóa chúng sinh. Ngài không phân biệt sang hèn, chủng tộc, mong giải thoát bể
khổ cho loài người.
Xuất phát từ góc độ như vậy, cho nên Ki tô giáo thời kỳ đầu hình thành

Vì như vậy, từ đời sống trần tục, tôn giáo bị “người đời” làm biến đổi, tha
hóa, có khi ngược lại mục tiêu tốt đẹp cao cả ban đầu của nó. Lịch sử nhân
loại cũng đã chứng kiến nhiều trường hợp các giai cấp, các tập đoàn xã hội
đã lợi dụng tôn giáo gây ra chiến tranh, tàn phá, gây tai họa cho loài người.
Thậm chí họ còn dùng nó như là một công cụ cho chính sách xâm lược tàn
bạo của chủ nghĩa bành trướng xâm lược.
Phật giáo vốn là một tôn giáo từ bi, hỉ xả - một triết thuyết giải thích
một cách sâu xa về cuộc sống con người, về căn nguyên nỗi khổ đau của họ
và chỉ ra cho con người một con đường cực kỳ vi diệu để tự giải phóng mình
khỏi nỗi khổ đau đó. Vì vậy, nguyên tắc chính được nêu ra là Tứ Thánh Đế,
còn gọi là Tứ Diệu Đế.
Khổ đế: Cõi đời là cảnh khổ, không những chỉ con người khổ mà vạn
vật đều khổ cả. Phật đã chỉ ra nỗi cực khổ vô hạn của đời: “Sinh là khổ, già là
khổ, không ưa mà hợp là khổ, ưa mà phải dời là khổ, muốn mà không được là
khổ, lưu luyến trong ngũ trọc là khổ”[1;254]. Nỗi khổ con người gồm “Bát
khổ”, đó là: Sinh, Lão, Bệnh, Tử, Oán tăng hội khổ, Ái biệt ly khổ, Cầu bất
đắc khổ, Ngũ uẩn xí hành khổ.
Tập đế: Cho rằng những nỗi khổ của con người đều do nhiều nguyên
nhân, tuy nhiên tựu chung lại gồm các nguyên nhân chính: Theo Phật giáo,
nguyên nhân thứ nhất là do “vô minh”, tức là sự mông muội, không thấu hiểu
lẽ sinh tử ở đời; còn chín nguyên nhân khác cùng với lão, bệnh, tử và các nỗi
khổ do sinh mà ra, gồm lại thành mười hai nguyên nhân, liên hệ mật thiết với
nhau, tức là Thập nhị nhân duyên. Thập nhị nhân duyên gồm:
1. Vô minh là sự u mê, mờ tối
2. Hành là tưởng – nghĩ và hành động, tức là tự buộc mình vào luân
hồi.
3. Thức là biết ta là ta, biết ta có thể hành động, tạo tác được.

17
4. Danh – sắc là ta có danh xưng và có hình thể.

Nhân hiện tại

18
Diệt đế: Cho rằng mọi nỗi khổ của con người hoàn toàn có thể tiêu
diệt được bằng cách diệt trừ những nguyên nhân, tức là diệt trừ “vô minh” và
“ái dục”.
Đạo đế: Con đường thoát khổ của con người. Phật giáo chỉ ra “Bát
chính đạo” – tám con đường thoát khổ: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ,
Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định.
Tóm lại, về phương diện thực hành thì đạo Phật cũng trình bày nhiều
nguyên tắc. Nhưng xét ra, quan niệm đáng cho ta thấy lưu ý hơn cả có lẽ là
điều răn và sáu phép tu, mà nhà Phật gọi là Ngũ giới và Lục độ. Thực hành
theo đạo đế để diệt trừ những nguyên nhân gây đau khổ cho con người thì con
người được giải thoát và đạt đến Niết bàn. Niết bàn được hiểu là trạng thái
vẳng lặng, tịch diệt, con người sống an nhiên, tự tại, vô ngã, vị tha.
Với đạo Ki tô là một tôn giáo bình đẳng, bác ái, xuất hiện như là một
tôn giáo của những người nô lệ, họ cho rằng cuộc sống thế gian đầy rẫy tội ác,
họ luôn coi trọng lao động, chống ách áp bức, bóc lột và chống xâm lược,
chống bọn giàu có, nhưng họ tin và hy vọng sẽ được cứu vớt. Họ chờ đợi ở sự
phán quyết của Chúa và cho rằng đế quốc La Mã “mụ đàn bà khổng lồ đầy tội
lỗi” sẽ bị diệt vong, những tín đồ Ki tô sẽ được sung sướng trong vương quốc
của Chúa. Điều đó đã an ủi người nghèo khổ, điều mà những tôn giáo trước
đó mang tính chất quí tộc và là công cụ thống trị của Nhà nước, nô lệ không
thể làm được, bởi vậy mà tôn giáo này không phân biệt chủng tộc, và ai cũng
có thể phạm tội và cũng có thể sám hối. Cho nên Giáo lý Ki tô luôn khuyên
con người, làm điều lương thiện, tránh xa điều ác, tích đức hành thiện, thương
yêu con người, nhân ái, vị tha. Phạm vi của giáo lý Ki tô rất rộng, nhưng tựu
chung gồm một số vấn đề cơ bản sau:
Thiên Chúa luận: Nói về quan niệm độc thần, nguồn gốc vũ trụ và nhân
loại, bản chất và thuộc tính của Thiên Chúa, mối quan hệ giữa Thiên Chúa với

Thánh Mẫu luận: Nói về ý nghĩa của Maria, thân mẫu của Giê su.

20
Giáo lý Công giáo còn đề cập đến những chuẩn mực luân lý của con
người trong cuộc sống, điều này được thể hiện rõ trong mười điều răn của
chúa: 1. – Ngoài Thiên Chúa ra không được tin thờ bất cứ vị thần nào khác; 2
– Không được chế tạo và sùng bái ngẫu tượng; 3- Không được dùng danh
Thiên Chúa một cách bất xứng; 4- Hãy nhớ ngày sa – bát, và coi đó là ngày
thánh; 5- Hãy hiếu kính cha mẹ; 6- Không được giết người; 7- Không được
gian dâm; 8- Không được trộm cắp; 9- Không được làm chứng hại người; 10-
Không được ham muốn tài sản của người khác.
Có thể nói, những triết thuyết nói trên của tôn giáo đều là sản phẩm trí
tuệ của những con người xuất chúng, đạt tới một cấp độ chân lý, có sức thuyết
phục và hấp dẫn lớn đối với quảng đại quần chúng trên con đường tìm đến cõi
hạnh phúc trọn vẹn mà họ hằng ấp ủ, nên được ngưỡng mộ, tôn quý, coi đó là
những điều giáo huấn cao quý, là chỗ nương tựa cho đời sống tâm linh và tinh
thần. Do đó, có tên gọi là “tôn giáo” (theo ngữ Hán - Việt là những điều giáo
huấn tôn quý). Và như vậy, đặc trưng nổi bật của “tôn giáo” là cung cấp cho
con người một con đường (Đạo) để tự mình vận dụng đặng đạt tới đích mong
muốn. Cũng từ nhận thức đó mà trong Báo Cứu quốc, số 14 và 15 tháng 1
năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đức Chúa hy sinh vì nhân
loại. Người đã vì loài người mà hy sinh phấn đấu, còn chúng ta thì chúng ta
hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc. Trong Công giáo có câu “Vạn chúng nhất
tâm”, nên chúng ta phải hy sinh cho nhân loại và chúng sinh”.
Hay: “Chúa Giê su dạy: Đạo đức là bác ái
Phật Thích ca dạy: Đạo đức là từ bi”[57;225].
Tôn giáo là một thành tố của văn hóa tinh thần nên đối với người Việt
Nam, đạo nào cũng được coi trọng, miễn là giáo lý không đi ngược lại đạo
đức căn bản của dân tộc, trái với thuần phong mỹ tục của nhân dân, không
phản lại lợi ích của cộng đồng, của đất nước.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status