1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo không chỉ có gốc rễ trong xã hội và nhận thức của con người,
mà nó còn là nhu cầu tâm linh của các tầng lớp, cộng đồng dân cư. Ảnh hưởng
của tôn giáo có tác động rất lớn đến sự tồn tại hoặc suy vong quyền lực của các
thể chế chính trò nhất đònh. Bởi thế, trong xã hội có đối kháng giai cấp, bất kỳ
Nhà nước nào cũng quan tâm đến tín ngưỡng tôn giáo và các hoạt động tôn giáo
chí ít là trong phạm vi đất nước mình. Vì lợi ích cụ thể của mỗi Nhà nước, mỗi
thế lực cầm quyền mà tôn giáo được sử dụng theo những phương thức và thủ
đoạn khác nhau. Các Nhà nước của giai cấp bốc lột đã sử dụng tôn giáo vào mục
đích cai trò, xâm lược, ru ngủ quần chúng tín đồ, dập tắt sự đấu tranh của họ,
phục vụ cho lợi ích chính trò của mình. Các Nhà nước Xã hội Chủ nghóa với cách
nhìn nhận khách quan và khoa học về tôn giáo luôn phấn đấu để loại bỏ yếu tố
chính trò, phản động trong tôn giáo, vạch ra những điểm tương đồng, phù hợp
giữa tôn giáo và Chủ nghóa Xã hội, đưa tôn giáo hội nhập vào sự phát triển của
Quốc gia, dân tộc. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng Sản
Việt Nam chỉ rõ: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, tín ngưỡng tôn giáo là
nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều
phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới [42,128].
Việt Nam là nước có nhiều tôn giáo, các tôn giáo ở Việt Nam có khả
năng đáp ứng ở một mức độ nào đó nhu cầu văn hóa tinh thần và có ý nghóa nhất
đònh về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo đức, phong cách, lối sống của một bộ
phận nhân dân. Nhưng trong lòch sử, các tôn giáo ở Việt Nam cũng đã từng bò
các thế lực thù đòch, xâm lược, các tập đoàn chính trò phản động lợi dụng, sử
dụng vào mưu đồ chính trò. Cao Đài là một trong hai tôn giáo do người Việt Nam
2
thành một tôn giáo thuần túy. Song, trong quá trình biến đổi bản thân Đạo Cao
Đài vẫn còn nhiều phức tạp, đó là những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu. Đồng
thời trong các hệ phái của Đạo Cao Đài, Cao Đài Tây Ninh là một phái lớn nhất,
có các hoạt động tôn giáo và chính trò phức tạp nhất, để lại trong nhận thức và
đánh giá khác nhau. Vì vậy, nghiên cứu Đạo Cao Đài nói chung, phái Cao Đài
Tây Ninh nói riêng dưới góc độ triết học, làm rõ diện mạo của Đạo Cao Đài
hiện nay và ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân
vùng Đông Nam Bộ để góp phần xác lập cơ sở khoa học, nhằm phát triển và
hoàn thiện chính sách tôn giáo của Đảng là việc làm cần thiết và hữu ích.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài: “Đạo Cao
Đài hiện nay và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hoá, tinh thần của cộng
đồng người Việt vùng Đông Nam Bộ” làm luận án Tiến só khoa học triết học
của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đạo Cao Đài chính thức ra đời năm 1926, từ một hiện tượng tín ngưỡng
mang màu sắc chính trò, Đạo Cao Đài phát triển thành một tôn giáo và tồn tại
cho đến ngày nay. Quá trình ra đời, tồn tại và phát triển của Đạo Cao Đài ảnh
hưởng rất lớn đến đời sống chính trò , văn hoá, xã hội và tư tưởng của một bộ
phận nhân dân ở nước ta. Chính vì vậy, từ lâu Đạo Cao Đài là đề tài được nhiều
nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước, trong Đạo và ngoài Đạo quan tâm.
Đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Đạo Cao Đài dưới góc độ
lòch sử, tư tưởng, chính trò, xã hội được công bố. Song, các tác giả tiếp cận Đạo
Cao Đài ở nhiều góc độ khác nhau, với những quan điểm khác nhau, nên việc lý
giải, đánh giá về sự ra đời và những hoạt động của Đạo Cao Đài cũng khác
nhau. Có thể phân thành một số nhóm nghiên cứu như sau:
4
án Cao Đài” của Đào Trinh Nhất ra đời. Ông Băng Thanh cho rằng Đạo Cao Đài
ra đời xét về mặt đạo đức là cần thiết. Ông Băng Thanh viết “Tương lai hiện
thời đã quá cùng, người đã hẳn đổi, cang thường đã nghiên ngửa, phong tục đã
suy đồi, … nói về sự loạn thì ngày nay hoá ra cực điểm vì thế mà bao nhiêu cái
tinh thần của Tam giáo và Gia giáo đều bò tay phàm đánh đổ cả…” nên “…lấy
theo cái lý mà suy thì thời kỳ này mà có nền Đạo Cao Đài xuất thế tưởng cũng
không quá đáng” [141, 11-27]. Khi phân tích về giáo lý, ông Băng Thanh nhấn
mạnh đến khía cạnh đạo đức của các tôn giáo mà Cao Đài tổng hợp, đến tư
tưởng Tam giáo đồng nguyên ở Việt Nam mà Cao Đài kế thừa. Ông viết: “Đạo
Phật ví cũng như mặt Nhựt, Đạo Tiên cũng như mặt Nguyệt, Đạo Nho cũng như
Ngũ Tinh, bộ Nhựt – Nguyệt – Tinh, ba cái đó ở trên đời, thiếu một cũng không
đặng. Nho để trò phần đời, Tiên để trò phần xác thân, còn Phật để trò về phần cốt
tuỷ. Đó là cái ý cao thượng của Thượng đế đã sắp đặt trong nền Đạo Cao Đài
vậy” [141, 8-27].
Một nhà văn người Pháp – ông G. Gobron, sau khi trở thành một chức sắc
của Đạo Cao Đài, năm 1948, 1949 đã cho xuất bản tại Paris một số ấn phẩm về
Đạo Cao Đài: Lòch sử Đạo Cao Đài (Histoire do Caodaisme - Boudhisme
renové, Paris, Dervy, 1948), Lòch sử và triết lý Đạo Cao Đài (Histoire et Philoso
– phie du Caodaisme, Paris, Dervy, 1948), Lòch sử Đạo Cao Đài (Histoire du
Caodaisme, Paris, 20 Rue de la Trimolle, 1948). Gobron chỉ đề cập thoáng qua
về lòch sử Đạo Cao Đài và tập trung giới thiệu về giáo lý, luật lệ, lễ nghi, tổ
chức Giáo hội của Đạo Cao Đài. Gobron cho rằng đặc điểm nổi bật của Đạo Cao
Đài là“tinh thần tổng hợp tôn giáo”, là “Thuật chiêu hồn Việt Nam”. Tuy nhiên,
khi xét Cao Đài trong mối quan hệ với Phật giáo, ông cho rằng Cao Đài là Đạo
Phật canh tân, giống như Đạo Tin lành với Đạo Công giáo. Xét về cách thức
hành đạo Gobron khen rằng Đạo Cao Đài là đạo đơn giản nhất ngày nay [177].
6
Vào những năm 1990, một công trình nghiên cứu quan trọng về Đạo Cao
Đài của tập thể tác giả Viện nghiên cứu tôn giáo do Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn
chủ biên được công bố với tựa đề “Bước đầu tìm hiểu về Đạo Cao Đài”, với độ
dài 422 trang, sách gồm 5 phần của 5 tác giả về Đạo Cao Đài.
Đây là một công trình nghiên cứu với quy mô lớn về Đạo Cao Đài không
chỉ thời gian tiến hành mà lực lượng tham gia cũng khá đông, đúng như lời giới
thiệu của cuốn sách: “Đó là kết quả của hai năm nghiên cứu trên sách vở, khảo
sát ở các đòa phương khác nhau, đặc biệt ở Tây Ninh, Bến Tre và các tỉnh Đồng
Bằng Sông Cửu Long. Cuốn sách đề cập đến hoàn cảnh ra đời, quá trình hình
thành, sự cấu thành nội dung, tổ chức, nghi thức của Đạo Cao Đài nói chung, các
giáo phái nói riêng [160, 11-71].
Trong công trình này, đánh giá về Đạo Cao Đài, giáo sư Đặng Nghiêm
Vạn khẳng đònh Đạo Cao Đài là một thực thể khách quan, một thế ứng xử của
người dân Nam Bộ. Tác giả cho rằng, sở dó Đạo Cao Đài thành công được vì nó
là một tôn giáo nhập thế, hiểu được tâm lý xã hội của nông dân đương thời:
“Cao Đài mang tính thực hành, một Đạo chú trọng đến việc thu hút quần chúng
bằng cách đưa cho người dân đương thời món ăn tinh thần, trộn cái đời thường
với cái siêu hình, muốn tìm cho họ con đường giải thoát ức chế của cuộc sống
thường ngày” [160, 11-71].
Nhóm tác giả nghiên cứu về văn hoá, tư tưởng, năm 1929, một học giả
người Pháp – ông G. Coulet đã từng làm thầy giáo ở Trường Pétrus Ký (Sài
Gòn) khi nghiên cứu về văn hoá, tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam đã đề cập đến
Đạo Cao Đài. Trong sách “Thờ cúng và tôn giáo ở các xứ Việt Nam trong Đông
Dương” (Cultes et Religions de l’Indochine An-namite) xuất bản năm 1929 ở Sài
Gòn, G.Coulet đã cho rằng sỡ dó Đạo Cao Đài ra đời được là do người Việt Nam
có đức tín khoan dung tôn giáo, và nhất là truyền thống Tam giáo (Phật, Lão,
8
mực nào đó “là sự phản ánh quá trình tiếp biến văn hoá diễn ra khá phức tạp ở
Miền Nam Việt Nam” [13, 6-22], do đó, có thể xem “Đạo Cao Đài như một thử
nghiệm hoà giải mâu thuẫn giữa sự sùng bái những giá trò truyền thống với nền
văn minh Phương Tây” [13, 6-22]. Nghiên cứu sự phát triển của Đạo Cao Đài, S.
Blagov cho rằng: “khuynh hướng biệt lập trong Đạo Cao Đài đã quy đònh tính
đặc thù của tôn giáo này như một tổ chức chính trò xã hội” [13, 6-22].
Nhóm tác giả nghiên cứu về chính trò, trong những tài liệu của chính
quyền Pháp về Đạo Cao Đài có nhiều bản báo cáo quan trọng có giá trò như
những nghiên cứu khoa học. Đó là tập báo cáo số 7 năm 1934 mang tựa đề Le
Caodaisme (1925 – 1934) của Louis Matry, Giám đốc Phòng II – Phòng Chính
trò và an ninh chung - thuộc Phủø Toàn quyền Đông Dương; tập báo cáo năm
1933 cũng mang tự đề Le Caodaisme của Lalaurette, Thanh tra Chính trò sự vụ
và hành chính Nam Kỳ (L’impecteur des Affaires politiques et Administratives
de la Cochinchine ) và Vilmont, Tham biện chủ tỉnh Tây ninh (L’Ad-ministrateur
eds Services Civilas chef de la province de Tây Ninh).
Tập báo cáo số 7 của Louis Matry gửi Toàn quyền Đông Dương, sau khi
đề cập nguồn gốc và giáo lý của Đạo Cao Đài là liên quan đến Phật, Lão, Nho,
Louis Matry có nhận đònh tương tự như Đào Trinh Nhất và Trần Huy Liệu – chủ
bút tờ “Đông Dương thời báo”, rằng: “Đạo Cao Đài không phải là tôn giáo, cũng
chẳng phải là chính trò… Đạo cao Đài chỉ là một công cuộc làm ăn để khai thác
tính nhẹ dạ của những kẻ ngây thơ”, “… và về phương diện xã hội ảnh hưởng của
nó rất phiến diện, như một thời trang sẽ qua đi” [180, 17].
Tập Le Caodaisme của Lalaurette và Vilmont thực ra là hai bản báo cáo
của Lalaurette đề ngày 01 tháng 6 năm 1931 gửi Thống Đốc Nam Kỳ.
Với phương pháp nhìn nhận khá khoa học và khách quan, hai ông
Lalaurette và Vilmont đã phân tích môi trường xã hội Nam Kỳ lúc Đạo Cao Đài
10
chức tốt nhất và thành công nhất” [171, 1]. Về cơ bản, tác giả thống nhất với
ông Trần Văn Giàu trong cách lý giải sự ra đời của Đạo Cao Đài. Tuy nhiên, tác
giả nhấn mạnh đến nguyên nhân chính trò, kinh tế, xã hội qua mối quan hệ giữa
nông dân (là tín đồ) với đòa chủ, tư sản (là chức sắc). Tác giả đã thể hiện quan
điểm này trong phần kết luận, rằng: “Nghiên cứu này nhấn mạnh rằng nông dân
theo Đạo Cao Đài vì những lý do chính trò và kinh tế, xã hội” [171, 55-56]. Xét
về mặt tư tưởng – ý thức hệ, tác giả cho rằng “Đạo Cao Đài có được một điều gì
đó giành cho mọi người. Sự khéo léo tổng hợp truyền thống Tam giáo và sự diễn
giải minh bạch, chính xác truyền thống Tam giáo, không những tạo ra sức hút
văn hoá mãnh liệt và hẳn còn sinh lực. Đạo Cao Đài còn là sự phản ứng lại sự
quyết liệt truyền Đạo Công Giáo của người Pháp, vì nhiều người Việt Nam coi
Đạo ấy là Đạo của quân xâm lược. Nền cai trò của Pháp nghèo nàn về ý thức hệ
cùng với hoàn cảnh kinh tế, xã hội tuyệt vọng, đã tạo ra môi trường văn hoá
thuận lợi cho Đạo Cao Đài” [171, 55, 56].
Ngoài những nội dung nêu trên, tác giả còn đề cập đến mối quan hệ giữa
Đạo Cao Đài với cách mạng (được gọi là Việt minh, Cộng sản), chủ yếu dựa
trên hai phương diện ý thức hệ và vấn đề quần chúng.
Nói tóm lại, đây là một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu và có
giá trò nhiều mặt. Tuy nhiên, tác giả chú trọng nhiều đến cơ sở xã hội và tư
tưởng của sự ra đời Đạo Cao Đài, về giáo thuyết Cao Đài. Tác giả chưa có dòp
đề cập nhiều đến những diễn biến của Đạo Cao Đài qua các giai đoạn lòch sử,
về sự chia rẽ của Đạo Cao Đài và về những ảnh hưởng của Đạo Cao Đài.
Năm 2001, Nhà xuất bản Trẻ – Thành phố Hồ Chí minh, xuất bản tập
sách: Cao Triều Phát – Nghóa khí Nam Bộ của tác giả Phan Văn Hoàng.Với độ
dài 240 trang, nội dung của cuốn sách chủ yếu giới thiệu về cuộc đời, thân thế
và sự nghiệp của cụ Cao Triều Phát – Chưởng quản Cao Đài Minh Chơn Đạo
12
sinh động mà tác giả luận án sẽ chọn lọc kế thừa khi thực hiện luận án của
mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án
Luận án tập trung làm rõ nguồn gốc, đặc trưng của Đạo Cao Đài, phân
biệt thực trạng và quá trình biến đổi của phái Cao Đài Tây Ninh qua hai giai
đoạn (từ 1926 – 1975), (từ 1975 – 2007) và những khuynh hướng của phái Cao
Đài Tây Ninh. Đồng thời, làm rõ ảnh hưởng của Đạo Cao Đài Tây Ninh hiện
nay đến đời sống văn hoá, tinh thần của cộng đồng người Việt ở Đông Nam Bộ.
Phân biệt rõ vai trò xã hội của Đạo Cao Đài Tây Ninh ở hai giai đoạn trước kia
và hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
- Nghiên cứu, trình bày nguồn gốc kinh tế- xã hội, nguồn gốc nhận thức
và nguồn gốc tâm lý của Đạo Cao Đài, vạch ra đặc trưng và lòch sử phát triển
của Đạo Cao Đài.
- Bối cảnh lòch sử Việt Nam sau năm 1975, những thay đổi về giáo lý,
nghi lễ, tổ chức Giáo hội và các hoạt động chính trò của Cao Đài Tây Ninh.
- Cao Đài Tây Ninh hiện nay – ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa
tinh thần của cộng đồng người Việt ở Đông Nam Bộ.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu ở Cao Đài Tây Ninh đối với đời
sống văn hoá tinh thần của cộng đồng người Việt ở Đông Nam Bộ. Bởi lẽ, trong
các hệ phái của Cao Đài, Cao Đài Tây Ninh là hệ phái lớn nhất, có số lượng tín
đồ đông nhất, có mặt ở tất cả các tỉnh ở Nam Bộ, và những hoạt động tôn giáo
của Cao Đài Tây Ninh mang tính chất tiêu biểu.
14
5. Cái mới của luận án
Xin giới thiệu 13 môn đồ đầu tiên của Đạo Cao Đài:
Ông Ngô Minh Chiêu (còn gọi là Ngô Văn Chiêu) (1878 – 1934) là người
đầu tiên khai sinh ra Đạo Cao Đài. Ông đậu bằng Thành chung của Pháp, từng
làm việc cho Pháp qua các chức vụ: 01.01.1903: làm thư ký Dinh Thống đốc
Nam Kỳ, 01.05.1909: Thư ký Toà bố tỉnh Long An, 1917: thi đậu ngạch Tri
huyện, làm chủ quận Tân An, 01.03.1920: Làm việc ở Hà Tiên, 26.10.1920: đổi
đi Phú Quốc, 29.07.1924: rời Phú Quốc về Sài Gòn, làm việc ở Dinh Thống đốc
như trước và sau đó lên ngạch Tri phủ.
Trong cuộc đời làm quan, ông luôn chọn một nếp sống kín đáo, dè dặt,
không dính líu vào chính trò, và cũng không để chính quyền thuộc đòa lợi dụng.
Ông là vò quan thanh liêm, yêu nước, thương dân; ông càng được lòng dân đòa
phương, thì chính quyền thuộc đòa lại càng không hài lòng và để tâm ngờ vực.
Đó cũng là lý do Thực dân Pháp đã liên tục thuyên chuyển ông đi hết nơi này
đến nơi khác. [30, 55-56]
Vốn theo tín ngưỡng Đạo giáo, ông Chiêu từng ngồi đàn cầu cơ từ năm 24
tuổi. Năm 1920, tại một đàn cầu cơ ở Đảo Phú Quốc ông đã nhận được điềm linh
16
ứng của Đạo Cao Đài, đưa ra biểu tượng Thiên Nhãn và thờ “Cao Đài Tiên Ông
Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.
Lê Văn Trung (1875 – 1934) tốt nghiệp Thành chung, làm thư ký Dinh
Thống đốc Nam Kỳ, Uỷ viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, sau đó là Nghò viện
Hội đồng Thượng Nghò Viện Đông Dương, kinh doanh thương nghiệp, bò Pháp
chèn ép, sau khi thất bại trong kinh doanh, ông thường ngồi đàn cầu cơ và
chuyển sang hoạt động Đạo Cao Đài. [126, 12-14].
Phạm Công Tắc (1893 – 1959), vốn theo Đạo Kitô, đậu bằng Thành
chung, làm việc ở Sở Thương chính Sài Gòn vì bò chèn ép ông bỏ việc đi theo
Đạo Cao Đài với chức Hộ pháp, đứng đầu Hiệp Thiên Đài [126, 114].
đạt trong cuộc sống, bất mãn về đòa vò và quyền lợi, bản thân những con người
này vốn mang nặng đầu óc mê tín, dễ tin vào những chuyện thần tiên. Họ liên
kết với nhau dựng ngọn cờ tôn giáo với mưu cầu lợi ích khác nhau, một số vì lợi
ích chính trò, một số vì kinh tế và một số khác vì danh vọng.
Ý tưởng thành lập tôn giáo mới được thể hiện bằng các hoạt động cụ thể;
việc tổ chức xây bàn, xướng hoạ thi ca, dần dần được thay thế bằng cầu cơ, chấp
bút lời chỉ dạy của Cao Đài Tiên Ông về cách tổ chức Giáo lý, làm cơ sở cho
việc hình thành đạo.
Căn cứ vào sử ký Cao Đài, Đạo Cao Đài xuất hiện vào đêm Noel năm
1925, trong buổi cầu cơ bình thường như những buổi khác. Đêm đó Cao Đài
Tiên Ông xuất hiện nói rõ tá danh là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát
và chọn 12 người đứng ra lập tôn giáo mới lấy tên là: “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ
Độ” gọi tắt là Cao Đài [59, 11-12]. Sau đó, ông Lê Văn Trung đứng ra lập tờ
khai đạo và trình lên Thống đốc Nam kỳ là Le Fol, báo cáo về việc thành lập
Đạo Cao Đài.
18
Sau một thời gian chuẩn bò, những người sáng lập tôn giáo này đã tổ chức
lễ ra mắt rất long trọng tại Chùa Từ Lâm (Gò Kén – Tây Ninh), với sự hiện diện
của quan Toàn quyền Đông Dương, quan Thống đốc Nam Kỳ với nhiều quan
chức cao cấp người Pháp, người Việt. Từ đây, tuy gặp nhiều phản ứng, công kích
của dư luận, Đạo Cao Đài vẫn cứ phát triển thành “Phong trào Cao Đài”, quy
mô ngày càng lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ, ra cả miền Trung, sang
Campuchia và có cả đại diện Cao Đài ở Pháp. Số lượng tín đồ tăng lên nhanh
chóng, chỉ hơn một năm sau ngày thành lập số lượng tín đồ lên tới 40.000 người,
trong vòng 4 năm sau lên tới 500.000 người, năm 1935, số tín đồ Cao Đài là
1.000.000 người.
Khi mới ra đời, Đạo Cao Đài là một tổ chức thống nhất với cơ quan đầu
khiến cho số lượng tín đồ của phái này ngày càng đông hơn. Tuy vậy, Cao Đài
Minh Chơn Lý có đường hướng hành đạo gắn với dân tộc, phái này đã từng tham
gia Cao Đài Cứu quốc 12 phái hiệp nhất trong Liên giao I, Liên giao II và góp
sức vào phong trào giải phóng khu vực Tây Nam Bộ. Qua hai cuộc kháng chiến
cứu nước, Cao Đài Minh Chơn Lý có 15 bà mẹ Việt Nam anh hùng, hàng trăm
gia đình liệt só và gia đình có công với cách mạng [20, 187].
Phái Cao Đài Minh Chơn Đạo, do Chưởng pháp Trần Đạo Quang sáng
lập. Năm 1928, do thấy một số chức sắc cao cấp của Tòa Thánh Tây Ninh có
tham vọng không chính đáng, ông Trần Đạo Quang rời Tây Ninh về Bạc Liêu
cùng Cao Triều Phát lập phái Cao Đài Minh Chơn Đạo, với ý nghóa làm sáng tỏ
nền đạo chân chính. Trần Đạo Quang chủ trương “lấy tu nhơn đạo làm nền tảng,
coi cứu khổ chúng sanh làm công quả cao nhất của người tu hành” nên ông luôn
chăm lo đời sống vật chất lẫn tinh thần cho tín đồ. Chẳng bao lâu, tín đồ Minh
Chơn Đạo trở thành một lực lượng Cao Đài lớn không kém gì lực lượng Cao Đài
Tây Ninh. Năm 1939, ông Cao Triều Phát thành lập Đoàn Thanh niên đạo đức,
20
nhằm giáo dục thanh niên Cao Đài đoàn kết, nâng cao trình độ giáo lý, củng cố
tinh thần “thương đạo yêu nước”. Tổ chức này nhanh chóng tập hợp được hàng
ngàn thanh niên tín đồ. Với sự lãnh đạo của Cao Triều Phát, phái Minh Chơn
Đạo có thái độ chính trò rõ ràng, không thân Pháp cũng không thân Nhật, mà
đứng hẳn về phía cách mạng kháng chiến chống xâm lược. Tòa Thánh Ngọc Sắc
ở ấp Giồng Bốm, xã Phong Thạnh Tây, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu là nơi diễn
ra những trận đánh của chức sắc, tín đồ Cao Đài Minh Chơn Đạo và một số chi
phái ở các tỉnh miền Tây chống lại bọn Thực dân xâm lược do Cao Triều Phát
chỉ huy. Từ năm 1945 đến năm 1975, Cao Đài Minh Chơn Đạo tiếp tục có những
đóng góp đáng kể vào phong trào cách mạng và có ảnh hưởng rất lớn đến tầng
lớp nông dân Nam Bộ – những người lao động nghèo khổ có truyền thống văn
Tắc, Trần Quang Vinh, Cao Hoài Sang… các chức sắc này đã xây dựng quân đội
Cao Đài, nhằm tạo dựng thanh thế cá nhân và bành trướng nền đạo” [20, 389],
có xu hướng chống Cộng, khi thân Nhật, khi thân Pháp, khi thân Mỹ với nhiều
nhóm đấu đá lẫn nhau, gây tổn thất cho tín đồ và cho nhân dân. Tuy nhiên, phái
Cao Đài Tây Ninh vẫn có một nhóm đi theo Mặt trận Giải phóng, đóng góp cho
sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, như: Phối sư Đặng Trung Chữ, Giáo hữu Thượng
Nhuận Thanh, Thượng Thâu Thanh, Đạo nhơn Lê Văn Buội, Thiếu tá lực lượng
Cao Đài Huỳnh Thanh Mừng, Trương Văn Bảo…
Đến năm 1975, Đạo Cao Đài có hơn 20 tổ chức hệ phái, với hơn 2 triệu
tín đồ, hơn 20 ngàn chức sắc, chức việc, hơn 600 Thánh thất, Điện thờ và các cơ
sở tôn giáo. Có thể nói rằng, quá trình phát triển Đạo Cao Đài là quá trình chia
rẽ về tổ chức, hình thành nhiều hệ phái và phân hoá về thái độ chính trò. Trong
đó, đa số tín đồ và số đông chức sắc là người lao động có tinh thần yêu nước,
tích cực ủng hộ, tham gia hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế
22
quốc Mỹ xâm lược, còn một bộ phận chức sắc mang tư tưởng cơ hội từng bò thế
lực đế quốc lợi dụng chống lại cách mạng.
1.2. NGUỒN GỐC XUẤT HIỆN CỦA ĐẠO CAO ĐÀI
Nguồn gốc của tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng của lý luận
về tôn giáo. Bản chất của khoa học về tôn giáo là vạch ra được nguyên nhân
xuất hiện, tồn tại và phát triển của một hiện tượng tôn giáo. Đạo Cao Đài là một
tôn giáo, để hiểu được một cách khoa học về tôn giáo này chúng tôi thấy cần
phải làm rõ nguồn gốc của nó trên bình diện triết học tôn giáo; một trong những
nhiệm vụ của luận án này là phải vạch ra được nguồn gốc, đặc trưng của Đạo
Cao Đài – một tôn giáo xuất hiện ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Có thể nói,
nguồn gốc của Đạo Cao Đài là toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu
làm nẩy sinh nhận thức, niềm tin và hệ thống lễ nghi của một cộng đồng nhân
tỏ cơ sở kinh tế, chính trò, xã hội của sự hình thành Đạo Cao Đài.
Về kinh tế, vào những năm đầu của thế kỷ XX, mặc dù là nước thắng
trận, nước Pháp bước ra khỏi cuộc chiến tranh Thế giới Thứ nhất với những tổn
thất nặng nề về kinh tế và tài chính. Để hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi
phục nền kinh tế, đợt khai thác thuộc đòa lần thứ hai của Thực dân Pháp diễn ra
tàn bạo hơn, khốc liệt hơn, chúng tiến hành đầu tư ồ ạt vào các ngành kinh tế
Việt Nam với tốc độ nhanh hơn và quy mô rộng lớn hơn đợt khai thác lần thứ
nhất. Nếu trong cuộc khai thác lần thứ nhất, số vốn đầu tư của tư bản Pháp tập
trung chủ yếu vào các ngành khai thác mỏ và giao thông vận tải, thì vào thời kỳ
này tư sản Pháp lại đổ xô vào kinh doanh nông nghiệp, song song việc tiếp tục
đẩy mạnh hoạt động khai thác khoáng sản.
So với các ngành kinh tế khác, nông nghiệp là ngành được Thực dân Pháp
chú trọng đầu tư khai thác nhiều hơn cả, nên số vốn Pháp bỏ vào nông nghiệp
tăng lên gấp nhiều lần so với trước, với vốn đó Thực dân Pháp ra sức cướp đoạt
24
ruộng đất của nhân dân ta để lập đồn điền trồng lúa và các cây công nghiệp
như: cao su, cà phê… Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, tại các đồn điền trồng lúa,
các chủ người Pháp cũng như người Việt vẫn thực hiện canh tác và bóc lột theo
kiểu Phong kiến, nghóa là vẫn giao ruộng đất cho các gia đình nông dân sản xuất
rồi thu tô thuế. Mức tô mà người nông dân phải nộp từ 50 – 75% hoa lợi thu
được. Chưa hết, chính quyền Thực dân tìm cách bắt buộc nhân dân mua các loại
công trái, quốc trái để lấy tiền xây dựng các công trình công cộng phục vụ nhu
cầu quân sự, ngoài ra chúng còn thi hành một chế độ mộ phu cực kỳ man rợ.
Ngoài việc độc chiếm ruộng đất của nông dân, độc quyền xuất khẩu, độc
quyền muối, rượu và thuốc phiện, Thực dân Pháp còn thiết lập một hệ thống
ngân hàng và cho vay nặng lãi.
Bên cạnh việc bóc lột tàn bạo về kinh tế, Thực dân Pháp còn thực hiện
Về chính trò, dưới chính sách cai trò tàn bạo của Thực dân Pháp và sự nhu
nhược của Triều đình Huế, xã hội Việt Nam bò phân hoá thành nhiều giai cấp.
Chính sách của Thực dân Pháp đối với các tầng lớp xã hội cũng khác nhau, và
thể hiện sự phân biệt chủng tộc một cách trắng trợn. Tất cả người Pháp đều được
ưu tiên trong mọi vò trí, mọi công việc và thời gian, người Việt bò coi thường và
khinh rẻ. Đời sống của các tầng lớp nhân dân vô cùng khó khăn, nhất là giai cấp
nông dân – lực lượng đông đảo nhất trong xã hội – có thể cầm chắc họ đang
sống ở mức cùng cực của đói kém và nghèo khổ. Tầng lớp trí thức và giới công
chức làm việc cho Pháp có đời sống vật chất cao hơn so với công nhân và nông
dân, nhưng họ vẫn bò Pháp chèn ép và đối xử bất bình đẳng. Chẳng hạn, thu
nhập của công chức người Việt thấp hơn từ 30 đến 100 lần so với thu nhập của
người Pháp. Trong công sở, lương của viên chức nhỏ là 49 đồng/năm, viên chức
trung bình là 166 đồng/năm, còn thu nhập của người Pháp là 5.000 đồng/năm.
[105, 6]. Hoặc cùng một công sở, một người Pháp và một người Việt có bằng