ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRƢƠNG THANH CHÂU
ẢNH HƢỞNG HỌC THUYẾT ÂM DƢƠNG, NGŨ
HÀNH ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
NGƢỜI VIỆT HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Đà Nẵng – Năm 2017
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRƢƠNG THANH CHÂU
ẢNH HƢỞNG HỌC THUYẾT ÂM DƢƠNG, NGŨ
HÀNH ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
NGƢỜI VIỆT HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.03.01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. TRẦN MAI ƢỚC
Đà Nẵng – Năm 2017
2.2. SỰ BIẾN ĐỔI CÁC GIÁ TRỊ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH
THẦN NGƢỜI VIỆT DƢỚI TÁC ĐỘNG CỦA ÂM DƢƠNG, NGŨ
HÀNH................................................................................................................................................... 38
2.2.1. Ảnh hƣởng của Âm dƣơng, Ngũ hành tới đời sống văn hóa thể
hiện qua tƣ duy lý luận................................................................................................................ 38
2.2.2. Ảnh hƣởng của Âm dƣơng, Ngũ hành qua hiệu ứng thực tiễn........54
2.3. NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA HỌC THUYẾT ÂM
DƢƠNG, NGŨ HÀNH ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN
NGƢỜI VIỆT................................................................................................................................... 62
2.4. NHỮNG TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA THUYẾT ÂM DƢƠNG,
NGŨ HÀNH TỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN Ở NGƢỜI VIỆT. 66
Kết luận chƣơng 2.......................................................................................................................... 74
CHƢƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY NHỮNG
GIÁ TRỊ TÍCH CỰC VÀ HẠN CHẾ ẢNH HUỞNG TIÊU CỰC CỦA
THUYẾT ÂM DƢƠNG, NGŨ HÀNH TRONG ĐỜI SỐNG
TINH
THẦN NGƢỜI VIỆT HIỆN NAY.................................................................................... 74
3.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIẢI PHÁP........................................................................... 74
3.2. CÁC GIẢI PHÁP.................................................................................................................. 76
3.2.1. Nhóm giải pháp phát huy những giá trị tích cực...................................... 76
3.2.2. Nhóm giải pháp hạn chế ảnh hƣởng tiêu cực............................................ 84
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN ( bản sao)
2
đời sống tinh thần. Trong đời sống văn hoá tinh thần, trên cơ sở tiếp thu có
chọn lọc, ngƣời Việt đã kế thừa và ứng dụng nó một cách linh hoạt phù hợp
với những điều kiện sống, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của mình.
Hiện nay, Việt Nam đang chủ động mở rộng, giao lƣu hội nhập quốc tế,
trong bối cảnh đó đã đặt ra nhiều cơ hội và không ít những thách thức. Để
khẳng định đƣợc sức sống tiềm tàng của dân tộc trong lĩnh vực đời sống tinh
thần, thiết nghĩ tìm kiếm các giá trị văn hóa chung của nhân loại để bồi đắp
cho các giá trị tinh thần của dân tộc là một điều hết sức cần thiết.
Việc giữ gìn và phát huy các giá trị to lớn của nền văn hóa dân tộc và
hạn chế những mặt tiêu cực làm cản trở sự phát triển của đời sống văn hóa, xã
hội đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết cho mỗi ngành, mỗi cấp và toàn thể
nhân dân .
Trong thời đại ngày nay, khi kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân
dân đƣợc nâng cao thì yêu cầu thỏa mãn các giá trị về đời sống tinh thần càng
đƣợc coi trọng, văn hóa đƣợc xem là mục tiêu, động lực cho chiến lƣợc phát
triển kinh tế, xã hội. Vì vậy, Đảng ta chủ trƣơng xây dựng “ nền văn hóa tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ”.
Xuất phát từ những yêu cầu trên đây, chúng tôi chọn đề tài “Ảnh
hưởng học thuyết Âm dương, Ngũ hành đến đời sống văn hóa tinh thần
người Việt hiện nay” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu ảnh hƣởng của học thuyết Âm dƣơng, Ngũ hành đến
đời sống văn hoá tinh thần ngƣời Việt. Trên cơ sở đó xây dựng các giải pháp để
phát huy giá trị tích cực và hạn chế ảnh hƣởng tiêu cực của học thuyết này nhằm
xây dựng đời sống văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn giải quyết một số nhiệm vụ
sau:
sống văn hóa tinh thần ngƣời Việt
4
Chƣơng 3: Các giải pháp cơ bản nhằm phát huy những giá trị tích cực
và hạn chế ảnh huởng tiêu cực của thuyết Âm dƣơng, Ngũ hành trong đời
sống tinh thần ngƣời Việt hiện nay.
6. Tổng quan tài liệu
Đến nay, vấn đề học thuyết Âm dƣơng, Ngũ hành trong đời sống văn
hoá tinh thần ngƣời Việt đã đƣợc nhiều ngƣời nghiên cứu, nhất là từ khi
nƣớc ta tiến hành công cuộc đổi mới (1986). Sớm nhất, là những khảo cứu về
văn hóa Việt Nam ở những thập kỷ đầu thế kỷ XX của một số nhà nghiên cứu
trong và ngoài nƣớc. Những tác giả và công trình tiêu biểu cho giai đoạn này
nhƣ: Phan Kế Bính (Việt Nam phong tục – 1915), Nguyễn Văn Huyên (Hội
Phù Đổng – 1938, Văn minh Việt Nam – 1944), Đào Duy Anh (Việt Nam văn
hóa sử cƣơng - 1938). Ở những công trình trên, các tác giả đã đề cập đến học
thuyết Âm dƣơng, Ngũ hành trong một số lĩnh vực văn hóa dân gian. Tuy
nhiên, do không phải là trọng tâm cần trình bày nên ở những công trình trên,
học thuyết Âm dƣơng, Ngũ hành mới đƣợc các tác giả đề cập đến một cách
khái quát hoặc tản mạn.
Tiếp nối những công trình trên, từ những năm 60 của thế kỷ XX đến
nay đã có nhiều ngƣời nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, và vì vậy, học thuyết
Âm dƣơng, Ngũ hành trong đời sống văn hóa tinh thần ngƣời Việt cũng đƣợc
nghiên cứu nhiều hơn. Từ nội dung và phạm vi vấn đề học thuyết Âm dƣơng,
Ngũ hành đƣợc nghiên cứu, có thể chia các công trình thành hai nhóm: 1/
Những công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam mà trong đó có đề cập đến
học thuyết Âm dƣơng; 2/ Những công trình nghiên cứu học thuyết Âm
dƣơng, Ngũ hành trong văn hóa ngƣời Việt.
Nhóm thứ nhất, học thuyết Âm dƣơng, Ngũ hành không phải là đối
vào những “trọng tâm” nhất định.
- Về học thuyết Âm dƣơng, Ngũ hành trong những lĩnh vực văn hóa cụ
thể, hiện đã có các công trình nghiên cứu học thuyết Âm dƣơng trong y dƣợc
6
học, học thuyết Âm dƣơng trong nghệ thuật, học thuyết Âm dƣơng trong ẩm
thực.
Nghiên cứu về học thuyết Âm dƣơng, Ngũ hành trong lĩnh vực y dƣợc
học có: Hoàng Tuấn (Học thuyết Âm dƣơng và phƣơng dƣợc cổ truyền 1994); Trần Thị Thu Huyền (Âm dƣơng ngũ hành với y học cổ truyền và đời
sống con ngƣời - 1999); Ngô Gia Hy (Thử kết hợp Đông Tây y qua dịch lý và
thận – 1999)… Nghiên cứu về học thuyết Âm dƣơng, Ngũ hành trong lĩnh
vực nghệ thuật có: Mịch Quang nghiên cứu về ảnh hƣởng của kinh dịch trong
nghệ thuật truyền thống, nhất là hát bộ (Kinh dịch với nghệ thuật truyền thống
– 1997, Khơi nguồn mỹ học dân tộc – 2004); Trần Văn Khê nghiên cứu về
học thuyết Âm dƣơng trong một số loại nhạc cụ, trong cách diễn xƣớng của
ngƣời Việt (Âm và dƣơng trong âm nhạc truyền thống – 2006)… Nghiên cứu
về học thuyết Âm dƣơng trong lĩnh vực ẩm thực có: Phạm Văn Chính (Ăn
uống hòa hợp âm dƣơng – 2004). Trần Văn Khê (Ngƣời Việt ăn uống thế
nào)…
Qua phần trình bày khái quát nêu trên có nhể thấy, học thuyết Âm
dƣơng, Ngũ hành đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, qua
đó cũng nhận thấy rằng các tác giả chủ yếu mới chỉ đề cập đến học thuyết Âm
dƣơng, Ngũ hành, một cách khái quát (Nguyễn Văn Huyên, Kim Định, Đinh
Gia Khánh...), hoặc trình bày học thuyết Âm dƣơng trong văn hóa Việt Nam
nói chung ( Trần Ngọc Thêm, Lê Văn Sửu, Nguyễn Đình Phƣ, Lê Văn Quán),
hay là học thuyết Âm dƣơng, Ngũ hành ở các lĩnh vực văn hoá cụ thể (Trần
Thị Thu Huyền, Hoàng Tuấn, Mịch Quang, Trần Văn Khê…) nhƣng cũng
chƣa tập trung vào bộ phận văn hóa dân gian. Có thể nói, hiện vẫn chƣa có
hình thành vào thế kỷ thứ 3, tức là sau Khổng Tử đến hai thế kỷ, mà vào thời
Khổng Tử đã có Kinh Dịch, có âm dƣơng bát quái. Điều này cho thấy
phái Âm dƣơng gia chỉ vận dụng âm dƣơng để giải thích địa lý - lịch sử và
vận dụng ngũ hành để tạo ra “Ngũ đế đức”.
Hiện nay các nghiên cứu khoa học liên ngành của Việt Nam và Trung
Quốc đã kết luận rằng "khái niệm âm dƣơng có nguồn gốc phƣơng Nam".
("Phƣơng Nam" ở đây bao gồm vùng nam Trung Hoa, từ sông Dƣơng Tử trở
xuống và vùng Việt Nam) Những dẫn chứng cho kết luận này đã lý giải cho
nhiều yếu tố khác nhau, nhƣ việc vật tổ cặp đôi (Rồng – Tiên) của ngƣời Việt
cổ, trong khi ngƣời Hán chỉ có một là thần Nữ Oa.
Cƣ dân phƣơng nam sinh sống bằng nông nghiệp nên quan tâm số một
của họ là sự sinh sôi nảy nở của hoa màu và con ngƣời. Sinh sản của con
9
ngƣời thì do hai yếu tố: cha và mẹ, nữ và nam; còn sự sinh sôi nảy nở của hoa
màu thì do đất và trời, "đất sinh, trời dƣỡng". Chính vì thế mà hai cặp "mẹ cha", "đất -trời" là sự khái quát đầu tiên trên con đƣờng dẫn đến quan niệm
âm dƣơng.
Về mặt ngôn ngữ học, "âm dƣơng" là phát âm của yin yang trong tiếng
Hán, nhƣng chính tiếng Hán để chỉ khái niệm âm dƣơng lại vay mƣợn từ các
ngôn ngữ phƣơng Nam trƣớc đây. Từ yang (dƣơng) trong tiếng Hoa đƣợc
phiên âm từ yang (= trời, giàng) của các tiếng Đông Nam Á, còn yin (âm) thì
có thể thấy là đƣợc phiên âm từ yana, ina (= mẹ) của các ngôn ngữ phƣơng
Nam. Cặp từ “mẹ - trời” không thuộc cùng một cặp đối lập, bởi vì truyền
thống tƣ duy tổng hợp ghép “mẹ” với “trời” để tổng hợp đƣợc cả hai cặp “mẹ
- cha” và “đất - trời” là hai quá trình sinh sản quan trọng nhất: sản sinh ra con
ngƣời và sản sinh ra mùa màng. Cũng giống nhƣ là để tổng hợp đƣợc các
quan hệ hành động có liên quan nhƣ quan hệ ông - cháu và cha - con (=ông
hình thành học thuyết Âm dƣơng, thì ý tƣởng tìm hiểu bản thể thế giới, bản
thể các hiện tƣợng trong vũ trụ đã giúp cho họ hình thành học thuyết Ngũ
hành.
Sự đề cập đầu tiên về ngũ hành đƣợc thấy trong tác phẩm "Kinh thƣ" ở
chƣơng "Hồng phạm" qua lời "Cơ Tử cáo với Vua Vũ nhà Chu". Trong Cửu trù
"Hồng Phạm" thì ngũ hành về mặt tự nhiên đƣợc hình thành bằng những tên của
năm loại vật chất cụ thể (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) và kèm theo tính chất của các
loại vật chất đó, năm loại vật chất này không thể thiếu đƣợc đối với đời sống con
ngƣời. Đứng về mặt thiên thời, "Hồng phạm" cho rằng có cái gọi là ngữ "kỷ"
(một là năm, hai là tháng, ba là ngày, bốn là các vì sao, năm là lịch số). Về hiện
tƣợng xã hội và hiện tƣợng tinh thần của con ngƣời, "Hồng phạm" đề xuất "ngũ
sự" và "ngũ phúc". Ngũ sự nhƣ: một là tƣớng mạo, hai là lời nói, ba là trông,
bốn là nghe, năm là suy nghĩ. Ngũ phúc nhƣ: một là thọ, hai là phúc, ba là thông
minh, bốn là hiếu đức, năm là khảo trung mệnh. Qua
11
đó nhận thấy "Hồng phạm" dùng ngũ hành để liên hệ hiện tƣợng tự nhiên với
hiện tƣợng xã hội, nhằm thuyết minh thế giới là một chỉnh thể thống nhất, có
trật tự. Trong tƣ tƣởng đó có chứa đựng nhân tố duy vật, khẳng định ngũ
hành là cơ sở của thế giới, tính chất của sự vật đều thể hiện tính năng của năm
loại vật chất: thủy, hỏa, kim, mộc, thổ. "Hồng phạm" đã ảnh hƣởng rất lớn
đến triết học của thời đại phong kiến sau này. Các nhà duy vật và duy tâm từ
những lập trƣờng và góc độ khác nhau mà rút ra từ "Hồng phạm" những tƣ
tƣởng phù hợp với mình. Chính "Hồng phạm" và "Kinh dịch" đã tạo nên cái
nền của vũ trụ luận.
Trong thiên "Thập nhi kỉ" sách “Lã Thị Xuân Thu" phần nói về mối
quan hệ giữa ngũ hành với giới tự nhiên có rõ nét hơn. "Nguyệt lệnh" dùng
thuộc tính vốn có của năm loại vật chất và tác dụng (tƣơng sinh) lẫn nhau
dƣơng của trời đất mà còn muốn khẳng định trong mỗi sự vật đều chứa đựng
thuộc tính mâu thuẫn, đó là âm dƣơng.
Học thuyết Âm dƣơng đƣợc thể hiện sâu sắc nhất trong "Kinh Dịch".
Tƣơng truyền, Phục Hy (2852 trƣớc CN) nhìn thấy bức đồ hình trên lƣng con
long mã trên sông Hoàng Hà (Hà Đồ: Bức đồ trên sông Hà ) mà hiểu đƣợc lẽ
biến hóa của vũ trụ, mới đem lẽ đó vạch thành nét. Đầu tiên vạch một nét liền
(-) tức "vạch lề" để làm phù hiệu cho khí dƣơng và một nét đứt (--) là vạch
chẵn để làm phù hiệu cho khí âm. Hai vạch (-), (--) là hai phù hiệu cổ xƣa
nhất của ngƣời Trung Quốc, nó bao trùm mọi nguyên lý của vũ trụ, không vật
gì không đƣợc tạo thành bởi âm dƣơng, không vật gì không đƣợc chuyển hóa
bởi âm dƣơng biến đổi cho nhau. Các học giả từ thời thƣợng cổ đã nhận thấy
những quy luật vận động của tự nhiên bằng trực quan, cảm tính của mình và
ký thác những nhận thức vào hai vạch (--) (-) và tạo nên sức sống cho hai
vạch đó. Dịch quan niệm vũ trụ, vạn vật luôn vận động và biến hóa không
ngừng, do sự giao cảm của âm dƣơng mà ra, đồng thời coi âm dƣơng là hai
mặt đối lập với nhau nhƣng cùng tồn tại trong một thể thống nhất trong mọi
sự vật từ vi mô đến vĩ mô, từ một sự vật cụ thể đến toàn thể vũ trụ.
Âm và Dƣơng theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể,
14
không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tƣợng, mọi sự vật trong toàn
vũ trụ cũng nhƣ trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm và dƣơng là hai mặt đối
lập, mâu thuẫn thống nhất, trong dƣơng có mầm mống của âm và ngƣợc lại.
Căn cứ nhận xét lâu đời về giới tự nhiên, ngƣời xƣa đã nhận xét thấy sự biến
hoá không ngừng của sự vật (thái cực sinh lƣỡng nghi, lƣỡng nghi sinh tứ
tƣợng, tứ tƣợng sinh bát quái). Lƣỡng nghi là âm và dƣơng, tứ tƣợng là thái
âm, thái dƣơng, thiếu âm và thiếu dƣơng. Bát quái là càn, đoài, ly, chấn, tốn
khảm, cấn, khôn. Ngƣời ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá
trong âm bao giờ cũng có dƣơng. Khi dƣơng phát triển đến thái dƣơng thì
trong lòng nó đã xuất hiện thiếu dƣơng rồi, khi âm phát triển đến thái âm thì
trong lòng nó đã xuất hiện thiếu âm rồi. Sở dĩ gọi là âm vì trong nó phần âm
lấn phần dƣơng, sở dĩ gọi là dƣơng vì trong nó phần dƣơng lấn phần âm. Âm
dƣơng bao giờ cũng nƣơng tựa vào nhau. Sách Lão Tử viết: "phúc là chỗ núp
của họa, họa là chỗ dựa của phúc” [36, tr. 33] .
Từ những quan niệm trên về âm dƣơng, ngƣời xƣa đã khái quát thành
quy luật để khẳng định tính phổ biến của học thuyết này:
Quy luật về bản chất của các thành tố
Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dƣơng, và trong âm có
dƣơng, trong dƣơng có âm.
Quy luật này cho thấy việc xác định một vật là âm hay dƣơng chỉ là
tƣơng đối, nhƣng lại rõ ràng. Mọi khái niệm thời gian đều có trƣớc có sau;
mọi vật thể không gian đều có trên dƣới, trái phải, trong ngoài…tức là đã có
âm dƣơng. Trong vũ trụ không có sự vật, hiện tƣợng chứa cả bản chất âm lẫn
dƣơng, âm với dƣơng tuy hai mà một, ngƣời xƣa gọi đó là tình trạng “lƣỡng
nhất”. Chính bởi vì vật nào cũng chứa cả âm lẫn dƣơng cho nên nếu muốn
xác định xem một vật thiên về âm hay dƣơng thì mới phải đặt nó trong quan
hệ so sánh. Ví dụ về trong âm có dƣơng: đất lạnh nên thuộc âm nhƣng càng
đi sâu xuống lòng đất thì càng nóng; về trong dƣơng có âm: nắng nóng thuộc
dƣơng, nhƣng nắng nhiều sẽ có mƣa nhiều (hơi nƣớc bay lên) làm nên mƣa
lạnh thuộc âm.
Muốn xác định đƣợc tính chất âm dƣơng của một sự vật, hiện tƣợng thì
18
trƣớc hết phải xác định đƣợc đối tƣợng so sánh, sau đó phải xác định đƣợc
cơ sở so sánh. Màu trắng so với màu đỏ thì là âm, nhƣng so với màu đen là
dƣơng. Ví dụ, nƣớc so với đất thì về độ cứng thì nƣớc là âm, đất là dƣơng;
là hai hƣớng phát triển khác nhau trong quá trình phát triển của học thuyết
này, tạo nên tính dân tộc của học thuyết. Xét riêng ở phƣơng Đông thì từ bắc
xuống nam, phía bắc Trung Quốc nặng về phân tích hơn tổng hợp, còn phía
nam thì ngƣợc lại, nặng về tổng hợp hơn phân tích. Học thuyết Âm dƣơng
bắt nguồn từ phƣơng Nam, nhƣng đối với các dân tộc Đông Nam Á, do tính
phân tích yếu nên họ chỉ lại ở tƣ duy âm dƣơng sơ khai mang tính tổng hợp.
Trong khi đó khối Bách Việt đã phát triển và hoàn thiện nó. Tổ tiên ngƣời
Hán cũng vậy, sau khi tiếp thu học thuyết Âm dƣơng sơ khai, họ cũng phát
triển nó nhƣng do năng lực phân tích của họ mạnh hơn năng lực phân tích của
ngƣời Bách Việt mà từ học thuyết Âm dƣơng ban đầu, ngƣời Bách Việt và
ngƣời Hán đã xây dựng nên hai hệ thống học thuyết khác nhau.
Ở phƣơng Nam, với lối tƣ duy mạnh về tổng hợp, ngƣời Bách Việt đã
tạo ra mô hình vũ trụ với số lƣợng thành tố lẻ (dƣơng): hai sinh ba (tam tài),
ba sinh năm (ngũ hành). Chính vì thế mà Lão Tử, một nhà triết học của nƣớc
Sở ( thuộc phƣơng Nam) lại cho rằng: "Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh
20
tam, tam sinh vạn vật" [36, tr. 37]. Tƣ duy số lẻ là một trong những nét đặc
thù của phƣơng Nam. Trong rất nhiều thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, các số lẻ
nhƣ 1, 3, 5, 7, 9 xuất hiện rất nhiều. Ví dụ: "ba mặt một lời"; "ba vợ, bảy
nàng hầu"; "tam sao, thất bản", “ ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh”...
Ở phƣơng Bắc, với lối tƣ duy mạnh về phân tích, ngƣời Hán đã gọi âm
dƣơng là lƣỡng nghi, và bằng cách phân đôi thuần túy mà sinh ra mô hình vũ trụ
chặt chẽ với số lƣợng thành tố chẵn (âm). Chính vì vậy Kinh Dịch trình bày sự
hình thành vũ trụ nhƣ sau: "lƣỡng nghi sinh tứ tƣợng, tứ tƣợng sinh bát
quái, bát quái biến hóa vô cùng" (hai sinh bốn, bốn sinh tám). Ngƣời phƣơng
Bắc thích dùng số chẵn; ví dụ, "tứ đại", "tứ mã", "tứ trụ",... Lối tƣ duy nhƣ