báo cáo những giá trị của nho giáo và ảnh hưởng nho giáo trong đời sống văn hóa xã hội - Pdf 15

Báo cáo
Những giá trị của
Nho giáo và ảnh hưởng
nho giáo trong đời
sống văn hóa xã hội
MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu Error: Reference source not found
Chương 1
Sự du nhập, hình thành và phát triển của Nho giáo . 5
Chương 2
Những ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống vãn hóa xã hội ở Việt Nam hiện
nay……………………………………………………………………….…….8
I/ Đối với kinh tế…………………………………………………… 8
1/ Những mặt tích cực.
2/ Những tiêu cực
II/ Đối với đạo đức…………………………………………………… 14
1/ Những mặt tích cực.
2/ Những tiêu cực
III/ Đối với gia đình và giáo dục……………………………………….19
1/ Đối với gia đình
1.1/ Những mặt tích cực.
1.2/ Những tiêu cực
2/ Đối với giáo dục
2.1/ Những mặt tích cực.
2.2/ Những tiêu cực
Kết luân. …………………………………………………………… 31
Tài liệu tham khảo……………………………………………………… 32
LỜI MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
Nho giáo hình thành ở Trung Quốc và du nhập vào Việt Nam cách đây hàng

còn vạch ra để tiếp thu, phát triển và vận dụng những giá trị tích cực của Nho giáo
trong việc thực hiện những nhiệm vụ và mục đích của công cuộc công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Mặt khác, dưới góc độ tiếp cận triết học, sự cần thiết phải
nghiên cứu những giá trị của Nho giáo về đời sống văn hóa xã hội một cách có hệ
thống và trên cơ sở đó mà chỉ ra và phân tích những giá trị của Nho giáo.
Xuất phát từ những vấn đề trên cần phải tiếp tục nghiên cứu những nội dung
cơ bản cùng những giá trị và hạn chế trong quan niệm của Nho giáo trong đời sống
văn hóa xã hội trong chuyên đề này. Vì vậy, tôi lựa chọn vấn đề: “ Những giá trị
của Nho giáo và ảnh hưởng nho giáo trong đời sống văn hóa xã hội ” làm
chuyên đề nghiên cứu với hy vọng làm sáng tỏ thêm những giá trị của nho giáo
cũng như phát huy những mặt tích cực và loại bỏ những mặt hạn chế của Nho giáo
trong đời sống văn hóa xã hội, qua đó có thể rút ra một số ý nghĩa của nó trong xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Nho giáo đã du nhập và phát triển ở Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử,
nó đã trở thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị Việt Nam, là công cụ quan trọng
trong việc cai trị, quản lý xã hội của nhiểu triều đại phong kiến Việt Nam. Vì vậy,
việc nghiên cứu các giá trị của Nho giáo và những ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt
Nam là một vấn đề thu hút nhiều người quan tâm. Từ trước cho đến nay, việc
nghiên cứu Nho giáo nói chung và các giá trị của Nho giáo trong đời sống văn hóa
xã hội qua các giai đoạn. Nghiên cứu Nho giáo là để hiểu đúng về Nho giáo, thấy
được những giá trị tích cực và những hạn chế tiêu cực của Nho giáo và nhất là vai
trò, ảnh hưởng của nó đối với xã hội và con người Việt Nam. Hướng nghiên cứu
này thu hút được nhiều người quan tâm và được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác
nhau. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các công trình nghiên cứu của Phan
Bội Châu, Trần Trọng Kim, Nguyễn Đăng Thục, Đào Duy Anh, Quang Đạm, Vũ
Khiêu, Trần Văn Giàu, Phan Ngọc, Nguyễn Tài Thư, Lê Sỹ Thắng Trần Đình
Hượu, Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Trần Ngọc Vương, Vũ Minh Tâm, Lê Văn
Quán, Trần Nguyên Việt,…v.v.
Trong các công trình nghiên cứu này, trước hết phải kể đến các công trình nghiên

sâu sắc chính là tiếp tục bổ sung và cụ thể hóa những căn nguyên, cơ sở hình thành
tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng: ví
dụ như với bài viết Bước đầu tìn hiểu Bác Hồ với học thuyết của Nho gia, tác giả
Lê Văn Quán đã đưa ra những dẫn chứng để chứng minh học thuyết Nho gia đã
ảnh hưởng đến Bác Hồ như thế nào ? Bác đã khẳng định cần phải kế thừa và phát
huy những điểm tích cực của Nho gia, Bác nhấn mạnh giáo dục cần phải kết hợp
giữa học với hành; người cách mạng phải hội đủ 5 điều: trí – tín – nhân – dũng –
liêm. Và tác giả cũng chỉ ra rằng, trên thực tế, Bác đã kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố
Nho giáo với truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc: nhân, nghĩa, trí, tín, dũng,
trung, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Cũng tác giả Lê Văn Quán với bài viết
Bác Hồ với học thuyết Nho giáo, đã khẳng định, Hồ Chí Minh là người rất am hiểu
Nho giáo và vận dụng một cách tài tình những tinh hoa của Nho giáo vào điều
kiện cách mạng nước ta. Người vận dụng Nho giáo trong việc rèn luyện đạo đức
cách mạng, trong việc phê phán tư tưởng trọng nam khinh nữ đồng thời phản đối
chế độ đẳng cấp Nho giáo. Hay như tác giả Nguyễn Văn Hồng với bài viết Ảnh
hưởng của văn hóa Khổng giáo Trung Hoa qua sự tiếp nhận chọn lọc, sáng tạo
trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, qua phân tích đã đi đến khẳng định, Hồ Chí
Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo đức, Người đã chọn lọc những tinh
hoa từ những chuẩn mực đạo đức Nho giáo và vận dụng một cách sáng tạo vào
điều kiện cụ thể của xã hội Việt Nam….vv.
Nghiên cứu nho giáo về ảnh hưởng trong đời sống văn hóa xã hội từ góc độ
nghiên cứu triết học, bản thân nhận thấy rằng, cần phải nghiên cứu, làm rõ thêm về
nội dung, dù chỉ là những nội dung cơ bản trong quan niệm này của Nho giáo một
cách có hệ thống để từ đó có cơ sở chỉ ra những giá trị và hạn chế cũng như ý nghĩa
của nó ở Việt Nam trong chế độ phong kiến và trong giai đoạn hiện nay
3. Mục đích và nhiệm vụ của chuyên đề.
Mục đích của chuyên đề là: Xuất phát từ Lý do chọn chuyên đề và Tình hình
nghiên cứu liên quan đến chuyên đề, thông qua nghiên cứu những tiền đề, điều
kiện và những giá trị của Nho giáo đối với đời sống văn hóa xã hội chỉ để chỉ ra
những giá trị, hạn chế chủ yếu của nó và từ đó rút ra ý nghĩa của nó trong việc xây

nho giáo trong giai đoạn hiện nay.
8. Kết cấu của chuyên đề:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung của
chuyên đề gồm 2 chương với 4 tiết.
Chương 1. Sự du nhập, hình thành và phát triển của Nho giáo
Chương 2: Những ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống xã hội ở Việt Nam
hiện nay
Chương 1
SỰ DU NHẬP, HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
NHO GIÁO Ở VIỆT NAM .
Nho giáo du nhập vào Việt Nam thời kì Bắc thuộc, đó là một quá trình lâu dài,
bằng con đường xâm lược và giao lưu văn hoá , kinh tế Việt Nam và Trung Quốc ,
trước hết đó là công cụ của Hán Đường tiến hành đồng hoá . Nho giáo du nhập vào
Việt Nam không còn là Nho giáo nguyên sơ mà đã được Hán nho trước nhất là
Đổng Trọng Thư cải tạo cho thích hợp với chế độ phong hiến trung ương tập
quyền. Cùng xâm nhập với Nho còn có Phật và Đạo. Cả ba học thuyết này đều có
ảnh hưởng đến tư tưởng Việt Nam, vào các phong tục tập quán của người Việt cho
đến nay .
Trên 1000 năm Bắc thuộc, bọn xâm lược ra sức truyền Nho, Phật, Đạo vào
nước ta. Nhưng số người học Nho không nhiều lắm; còn Phật và Đạo lại đi sâu vào
dân gian hoà lẫn trong tín ngỡng bản địa
Sau khi giành độc lập , nhân dân ta đã sử dụng Nho, Phật và Đạo để bắt tay
xây dựng đất nước, trước hết là để xây dựng một tổ chức Nhà nước độc lập để đủ
sức chống lại sự uy hiếp và xâm lược từ phương Bắc. Sở dĩ Nho giáo và Phật giáo
được chọn làm hệ tư tưởng chính trong xã hội Việt Nam là vì cả ha học thuyết này
ít nhiều ảnh hưởng trong xã hội Việt Nam . Sự truyền bá và tiếp nhận tư tưởng này
diễn ra khá thuận lợi và nhanh chóng. Chế độ phong kiến Việt Nam phát triển theo
xu hướng tập quyền thống nhất nên có nhu cầu sử dụng Nho học. Nhà nước Đại
Việt thời Lý đã đưa Nho giáo phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực ở Việt
Nam . Năm 1070 , nhà Lý lập Văn Miếu và Quốc Tử Giám , năm 1075 nhà Lý mở

sở Nho là một hướng giải quyết về lý thuyết tư tưởng và xã hội .
Đến đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn vẫn duy trì độc tôn Nho giáo trong khi các
nước khác ngay cả Trung Quốc cũng đã bắt đầu có những phản kháng. Khoa thi
Hương cuối cùng vào năm 1918 và thi hội cuối cùng vào năm 1919. Tác phẩm “
Khổng học đăng” của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu là sự bùng lên cuối cùng
của Nho giáo trước khi dập tắt .
Có thể nói, Nho giáo được duy trì lâu nhất ở Việt Nam. Có một học giả nước
ngoài khi sang Việt Nam đã có nhận xét như sau : “ dường như Nho giáo Việt Nam
từ thế kỉ XIX có vẻ nặng sâu hơn chính ở Trung Quốc . Nói như thế không phải là
không có cơ sở. Một thực tế ở Việt Nam là , Nho giáo ở Việt Nam chưa một làn bị
phê phán gay gắt như các học giả ở Trung Quốc hay Nhật Bản. Sự phê phán Nho
giáo ở nước ta mới chỉ xuất hiện trong các tác phẩm văn học hay trong dân gian.
Vùng đồng bằng Bắc Bộ là vùng có lẽ chịu ảng hưởng sâu sắc nhất và lâu đời nhất
ở Việt Nam .
Chương II
NHỮNG ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA XÃ HỘI VIỆT NAM
I/ Đối với kinh tế
1/ Ảnh hưởng tích cực
Con người với tư cách là nhân tố thúc đẩy kinh tế
Mục đích của Nho giáo là nhằm giáo hóa, đào tạo con người, hoàn thiện
con người và hoàn thiện xã hội, làm cho xã hội luôn ổn định, thái bình, thịnh trị.
Theo Nho giáo, sự hoàn thiện con người vừa là kết quả, vừa là điều kiện, nguyên
nhân của sự hoàn thiện xã hội. Nếu gạt sang một bên những điều kiện lịch sử, xã
hội thì phải chăng Nho giáo đã sớm nhận ra vai trò của con người đối với sự ổn
định và phát triển xã hội. Kinh tế, văn hóa ổn định phát triển xét cho cùng là do con
người, vì con người.
Ở nước ta, thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế thị trường đã đẩy nhanh
sự tăng trưởng về kinh tế nhưng cũng đồng thời tạo ra nhiều xáo trộn trong quan hệ
xã hội, sinh hoạt gia đình và phẩm chất cá nhân. Để ngăn ngừa những hiệu quả tiêu

cần thiết là Đảng và Nhà nước ta phải đề ra những chính sách, biện pháp kinh tế -
xã hội phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác trí tuệ, năng lực sáng tạo của
con người. Những biện pháp, chính sách của Đảng, Nhà nước cần phải xuất phát từ
con người và vì con người. Bởi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của
toàn bộ sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta.
Sản xuất đi đôi với tiết kiệm
Nho giáo nhấn mạnh sản xuất đi đôi với tiết kiệm, sớm đặt ra vấn đề tiết
kiệm: "Đạo lớn làm ra của cải là: số người làm việc sinh lợi ngày càng nhiều, số
người ăn tiêu phung phí ngày càng ít số người làm ra của cải phải mau mắn, siêng
năng, những người tiêu dùng phải thư thả, từ từ. Như vậy của cải luôn luôn đủ".
Khổng Tử còn khuyên vua "tiết dụng nhi ái dân", nghĩa là phải tiêu dùng tiết kiệm
mà thương yêu dân.
Tuân Tử cho rằng nếu như hết sức làm việc nông, lại tiết kiệm tiêu dùng thì
trời chẳng bao giờ làm mình đói.
Với lời răn dạy về tiết kiệm ấy của Nho giáo, những người làm quan thanh
liêm ngày xưa thường ăn uống đơn sơ, trang phục giản dị, coi vẻ đẹp của con người
là sự thanh cao của tâm hồn chứ không phải ở sự xa xỉ trong nhà cửa, áo quần, vật
liệu tiêu dùng.
Xã hội Việt Nam ngày nay đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa. Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cần có nhiều yếu tố: tài
nguyên, vốn, kỹ thuật, công nghệ mới và con người. Trong khi đó đối với nước ta,
nguồn tài chính, nguồn lực vật chất còn rất hạn hẹp, thế nhưng "chúng ta lại chưa
thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, dồn vốn cho đầu tư
phát triển". Hiện nay, Việt Nam vẫn còn là nước nông nghiệp, lao động nông
nghiệp chiếm hơn 70%, đời sống nhân dân ở nhiều vùng nông thôn, các vùng dân
tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn rất thấp, GDP bình quân đầu người chưa đến 300
USD/năm nhưng tình trạng tiêu dùng xa hoa, lãng phí diễn ra khá phổ biến cả ở
nông thôn và thành thị, trong một số khá đông cán bộ và nhân dân. Đó là điều đáng
lo ngại. Vì vậy, "chúng ta nhất thiết phải cần kiệm để công nghiệp hóa, khắc phục
xu hướng chạy theo xã hội tiêu dùng, lối sống xa hoa, lãng phí. Đó là một trong

của sản xuất xã hội.
Sau cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nước ta vẫn chưa có nền sản xuất
hàng hóa, nền kinh tế vẫn trong tình trạng tự cấp tự túc là chủ yếu. Đó chính là
thách thức cơ bản đối với dân tộc ta khi bước vào con đường phát triển hiện đại
văn minh.
Do những sai lầm chủ quan mang tính giáo điều, kinh nghiệm duy
ý chí cùng với ảnh hưởng của tư tưởng "trọng nông ức thương", trước thời
kỳ đổi mới nền kinh tế hàng hóa ở nước ta không phát triển. Nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung, bao cấp cùng những chính sách xã hội kèm theo nó
đã là một trong những nguyên nhân cơ bản đưa nước ta tới khủng hoảng trầm
trọng.
Thực tiễn đã giúp Đảng ta nhận thức sâu hơn về CNXH, về con đường đi
lên CNXH, vai trò tác dụng của sự phát triển và sử dụng các yếu tố, các khâu trung
gian quá độ lên CNXH theo kiểu quá độ gián tiếp mà Lênin đã vạch ra. Nhận thức
mới đưa đến chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
Đó cũng chính là nội dung cơ bản của đổi mới kinh tế - nhiệm vụ trọng tâm của
công cuộc đổi mới hiện nay.
Sản xuất hàng hóa đòi hỏi phải khắc phục tình trạng chia cắt, khép kín, trì
trệ của sản xuất và lưu thông, nhưng do ảnh hưởng của tư tưởng cũ - tư tưởng
"trọng nông ức thương" cùng với tư tưởng cục bộ bản vị (địa phương chủ nghĩa),
nhiều địa phương vẫn còn xu hướng biệt lập khép kín trong quá trình thực hiện các
mục tiêu kinh tế, không chú ý đến tính chỉnh thể thống nhất, đến yêu cầu phát triển
chung của đất nước. Thực hiện nhiệm vụ tự cân đối các mặt của sản xuất và sinh
hoạt của địa phương không có nghĩa là thực hiện tự cung tự cấp, từ bỏ giao lưu
kinh tế giữa các vùng, các địa phương. Do không nhận thức đúng yêu cầu trên, do
ảnh hưởng của tư tưởng cũ, cộng với những khó khăn về giao thông, về nguồn vốn,
một số địa phương không đưa hàng hóa ra khỏi địa phương mình. Cách làm đó về
thực chất là tự cung tự cấp trên bình diện rộng. Vô hình chung dẫn đến hạn chế sự
phát triển của sản xuất hàng hóa, làm nghèo nàn nhu cầu của đời sống

quán lâu dài chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Các hình
thức phân phối trong thời kỳ này cũng rất đa dạng: phân phối theo lao động, phân
phối theo vốn đầu tư, phân phối thông qua phúc lợi tập thể Tuy nhiên, tình trạng
bình quân trong phân phối vẫn còn tồn tại, biểu hiện rõ nét nhất ở khối hành chính
sự nghiệp. Tiền lương nhìn chung chưa đảm bảo tái sản xuất sức lao động, chưa
thực sự trở thành đòn bẩy kích thích người lao động làm việc với sự nhiệt tình và
sức sáng tạo cao.
Sự phát triển nền kinh tế trong thời kỳ đổi mới ở nước ta đòi hỏi phải khắc
phục những ảnh hưởng tiêu cực đó của Nho giáo.
II/ ĐỐI VỚI ĐẠO ĐỨC
1. Ảnh hưởng tích cực
Tu thân và vấn đề rèn luyện đạo đức cách mạng
Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội, đạo đức cho nên vấn đề tu
thân được đặt lên hàng đầu: Từ Thiên tử ở địa vị cao nhất cho đến người dân bình
thường đều phải lấy việc tu thân làm gốc. Đó cũng là bài học mà chúng ta không
thể bỏ qua.
Trên thực tế, nhiều nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc đã khai thác
triết lý tu thân của Nho giáo nhằm bảo đảm ổn định chính trị xã hội, nhất là trong
thời kỳ chuyển biến mạnh mẽ của đất nước. Các nước này không chỉ đòi hỏi sự nỗ
lực của bản thân mỗi người trong việc tu thân mà còn quy định trách nhiệm của
mỗi gia đình, trường học, xã hội đối với việc tu thân. Tại những nước này, những
nét đẹp truyền thống đã được duy trì, những mối quan hệ giữa người với người
trong gia đình và xã hội đã được củng cố.
Ở nước ta, công cuộc đổi mới đang đi vào chiều sâu của nó. Sau
16 năm nhìn lại, chúng ta có quyền tự hào về những chuyển biến đáng kể trên tất
cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Tuy nhiên những thành tựu của sự nghiệp đổi mới
chỉ là bước đầu. Vẫn còn muôn ngàn khó khăn, thử thách đòi hỏi mỗi chúng ta phải
nâng cao thêm niềm tin, ý chí cách mạng, không ngừng tu dưỡng trau dồi đạo đức
cách mạng. Chúng ta thừa nhận rằng nền kinh tế thị trường phát triển đã góp phần
thúc đẩy sản xuất phát triển, đem lại bộ mặt mới cho xã hội, nhưng cũng phải thừa

vinh hoa phú quý, không chính đáng. Nếu cần, có gan hy sinh cả tính mệnh cho
Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát.
Liêm: là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sung sướng.
Không tham người ta tâng bốc mình.Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao
giờ hủ hóa.
Chỉ có một thứ ham là ham đọc, ham làm, ham tiến bộ.
Đó là đạo đức cách mạng.
Hồ Chí Minh còn chỉ ra cốt lõi của đạo đức cách mạng gồm bốn đức: Cần,
Kiệm, Liêm, Chính. Người giải thích như sau:
Cần tức là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng, dẻo dai
Kiệm là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí
Liêm là trong sạch, không tham lam Tham tiền, tham địa vị, tham ăn ngon,
sống yên đều là bất liêm.
Chính là không tà, nghĩa là thẳng thắn đứng đắn. Điều gì không đứng đắn,
thẳng thắn tức là tà.
Như vậy, cũng là tu thân nhưng chúng ta tu thân theo nội dung của đạo đức
cách mạng đã được Hồ Chí Minh đề cập. Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam, chịu
ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng đạo đức Nho giáo, việc sử dụng những từ ngữ vốn
quen thuộc của Nho giáo để đưa vào nội dung đạo đức mới là một biện pháp sáng
tạo của Hồ Chí Minh. Những chuẩn mực đạo đức mà người nêu ra không bao giờ
xưa cũ. Để đẩy mạnh tăng trưởng về kinh tế với sự phát triển về mọi mặt của xã
hội, để thống nhất văn hóa với kinh doanh, đạo đức con người với sự giàu mạnh
của đất nước, hơn lúc nào chúng ta càng phải chú trọng rèn luyện đạo đức cách
mạng.
Hồ Chí Minh từng nói: Đạo đức là gốc, là nền tảng của cách mạng. Trong
giai đoạn hiện nay, khi đất nước vẫn đang đứng trước bốn nguy cơ như Đảng ta
từng chỉ rõ (nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế
giới, chệch hướng XHCN, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, "diễn biến hòa bình" do
các thế lực thù địch gây ra) thì việc trau dồi, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách
mạng là hết sức cần thiết.

những lời lẽ hoa mỹ, sách vở đúng với đường lối chính sách của Đảng và Nhà
nước. Khi không thực hiện được lời nói của mình, họ đổ lỗi cho khách quan, cho
cơ chế, cho người khác.
Người mắc thói đạo đức giả là người, không trung thực trong công tác. Họ
thường trình lên cấp trên những báo cáo không trung thực: thổi phồng thành tích,
che đậy khuyết điểm. Nếu dùng những báo cáo này làm cơ sở cho việc hoạch định
đường lối, chính sách của Đảng Nhà nước sẽ làm cho đường lối, chính sách không
phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Hậu quả do những người nhiễm thói đạo đức giả
gây ra không đơn thuần là những hậu quả kinh tế trực tiếp, mà còn là những hậu
quả kinh tế xã hội lâu dài. Bởi vì khi đã xâm nhập vào đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước, nó sẽ ảnh hưởng rộng lớn, thậm chí ở tầm vĩ mô, chiến lược.
Một biểu hiện trực tiếp của đạo đức giả hiện nay là: lợi dụng chức quyền để
tham nhũng, buôn lậu, tiếp tay cho bọn làm ăn phi pháp; lấy các từ như "công bằng
xã hội", "lợi ích cộng đồng", "chấp hành luật pháp" làm cái vỏ che đậy khuyết
tật và việc làm sai trái.
Thói đạo đức giả cũng là thói cơ hội chủ nghĩa. Nó có khả năng tìm ra
phương thức hoạt động mềm dẻo mà người trung thực lẫn pháp luật khó có thể
lường hết được. Người nhiễm thói này thực chất là kẻ cơ hội chủ nghĩa. Dưới
quyền của những người như vậy, người trung thực sẽ không tránh khỏi bị trù dập,
vô hiệu hóa. Nguy hại hơn nữa, để đạt được mục đích cá nhân, những người mắc
thói đạo đức giả không chỉ tìm cách khai thác những điểm còn cơ sở trong chính
sách, luật pháp, mà còn tìm cách vô hiệu hóa pháp luật và thi hành pháp luật.
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: không có đạo đức cách mạng thì dù tài giỏi mấy
cũng không lãnh đạo được nhân dân, không hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ
vang. Suy thoái về đạo đức thường là khởi đầu suy thoái về bản lĩnh chính trị, phai
nhạt và phản bội lý tưởng cách mạng. Vì vậy ngăn chặn loại trừ thói đạo đức giả
đang là một yêu cầu bức xúc của xã hội ta hiện nay.
III/ ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH VÀ GIÁO DỤC
1. Đối với gia đình
Sẽ là thiếu sót nếu chỉ đề cập tới ảnh hưởng của Nho giáo đối với xã hội

mình, kế đó mà cư xử có nhân với người đời; kính cha anh của mình, từ đó kính
cha anh của người, yêu con trẻ của mình từ đó yêu con trẻ của người. Muốn đánh
giá phẩm chất của một người ở ngoài xã hội, muốn xem có nên cất nhắc và sử dụng
họ không, trước hết phải xem người ấy sống trong gia đình ra sao. Một người có
đối xử tốt trong gia đình mới có thể đối xử tốt ngoài xã hội.
Nho giáo khẳng định rằng sự giáo dục từ trong gia đình có tác động mạnh
mẽ, thậm chí quyết định sự thành công trong việc trị nước. Chỉ cần mọi người đều
yêu thương cha mẹ mình, bà con mình, kính trọng bậc trưởng thượng của mình, tự
nhiên thiên hạ sẽ được thái bình.
Giờ đây đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, gia đình từ đó cũng có
nhiều đổi thay. Sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp trước kia chủ yếu mang
tính chất tập thể thì giờ đây lại chuyển sang tính chất gia đình. Lợi ích của gia đình
không phụ thuộc một cách giản đơn vào lợi ích xã hội. Nó đang được phát triển
mạnh mẽ trong mối quan hệ hài hòa và hợp lý với lợi ích xã hội. Lợi ích chính
đáng của gia đình và cá nhân được tự do phát triển, đang là động cơ thúc đẩy trí tuệ
và tài năng, phát huy truyền thống dũng cảm và sáng tạo của cả dân tộc.
Kinh tế thị trường phát triển, cuộc sống của mỗi gia đình được đổi mới
Đó cũng là một trong những tiền đề tốt đẹp để gia đình Việt Nam hoàn thành tốt
chức năng đối với xã hội. Nhưng cũng cần nhận thức rằng mặt trái của kinh tế thị
trường đang làm nảy sinh rất nhiều hiện tượng thiêu cực không chỉ trong quan hệ
giữa người với người ở ngoài xã hội mà ngay cả trong quan hệ gia đình. Ở Việt
Nam, từ trước đến nay vẫn đề cao việc chăm sóc con cái và con cái có hiếu với ông
bà, cha mẹ. Đó là nét đặc sắc của văn hóa gia đình Việt Nam và văn hóa gia đình
phương Đông. Song, trong những năm gần đây, đã có một số gia đình quá yêu
chiều con cái; lại có những gia đình không quan tâm, săn sóc ông bà cha mẹ, không
thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng cha mẹ. Từ chỗ đặt "lợi ích" lên trên hết, họ đã
thúc đẩy các thành viên trong gia đình đối xử với người già theo nguyên tắc trao
đổi sòng phẳng. Họ lấy mức độ giàu nghèo làm tiêu chuẩn xác định quan hệ thân,
sơ trong họ hàng. Cách đối xử đó đã làm cho mối quan hệ vốn có giữa các thế hệ
trong gia đình (họ hàng) bị mất thăng bằng. Nhiều chuyện con cái ngược đãi cha

Họ chăm lo đến lợi ích của xí nghiệp và lợi ích của họ phụ thuộc vào mức độ họ
đóng góp với xí nghiệp. Truyền thống Nho giáo trong gia đình ở các nước này có
tác dụng tích cực trong việc ổn định và phát triển xã hội.
Để phục vụ cho sự nghiệp đổi mới, chúng ta cũng khai thác những yếu tố
tích cực của gia đình truyền thống. Nhưng kế thừa, khai thác không có nghĩa là
quay lại hoàn toàn với gia đình kiểu cũ.
Trước kia, gia đình bao gồm nhiều thế hệ sống chung với nhau. Tình cảm
giữa cha mẹ và con cái mở rộng ra ngoài xã hội, là cơ sở của quan hệ vua - tôi, là
điểm xuất phát để xây dựng quan hệ bạn bè. Ngày nay, chúng ta đặt lên hàng đầu
tình cảm đối với Tổ quốc và nhân dân, nhưng tình cảm ấy trước hết phải được xây
dựng và vun trồng từ những tình cảm đầu tiên giữa người với người trong gia đình.
Chúng ta thừa nhận rằng, những người có đạo dức ngoài xã hội không thể là những
người mất đạo đức, trong gia đình. Chúng ta có thể tiếp thu tinh thần của Nho giáo
là muốn đào tạo những con người có đạo đức ngoài xã hội, trước hết phải đào tạo
những con người có đạo đức trong gia đình. Trên cơ sở chữ "Hiếu" của Nho giáo,
chúng ta mở rộng thành tình cảm đối với Tổ quốc và nhân dân; "Trung" không phải
là "Trung" với vua, với ông chủ bóc lột mà là "Trung" với Tổ quốc là góp phần xây
dựng Tổ quốc ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.
1.2/ Ảnh hưởng tiêu cực
Gia đình Việt Nam ngày nay được xây dựng trên những quy tắc mới nhằm
bảo đảm những quan hệ lành mạnh và có kỹ năng giữa các thành viên trong gia
đình. Cùng với việc kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống, chúng ta còn
phê phán và loại bỏ những yếu tố tiêu cực đang ảnh hưởng tới việc xây dựng gia
đình văn hóa mới, đang cản trở công cuộc đổi mới ở nước ta.
Chủ nghĩa gia đình, căn bệnh từng bán rễ, ăn sâu trong xã hội cũ giờ đây
vẫn còn tồn tại trong suy nghĩ và hành động của nhiều người.
Do ảnh hưởng của Nho giáo, trên thực tế việc giải quyết các vấn đề trong
đời sống xã hội thường bị phụ thuộc vào tình cảm cha con, mẹ con, vợ chồng, anh
em Thói chiếu cố, cưu mang rộng rãi đến bà con, họ hàng vẫn còn. Ở nhiều nơi
vẫn còn tình trạng cán bộ lợi dụng chức quyền đưa người thân vào cơ quan nắm

mới, phải góp phần bảo vệ những thành quả đã đạt được. Sự quan tâm của Đảng,
Nhà nước đối với vấn đề gia đình sẽ vừa đáp ứng được nhu cầu đổi mới của đất
nước, vừa khai thác những truyền thống tốt đẹp của gia đình cũ, trong đó có những
nhân tố tích cực của Nho giáo.
2/ Đối với giáo dục
2.1/ Ảnh hưởng tích cực
Đề cao việc học tập và giáo dục, Nho giáo đã góp phần quan trọng trong
việc hình thành truyền thống hiếu học, coi trọng sự học tập, coi trọng trí tuệ của
dân tộc ta.
Nho giáo quan niệm điều quan trọng nhất của việc tu thân là học tập. Nho
giáo chỉ ra rằng:
Muốn làm cho cái đức tính mình tỏa sáng ra trong thiên hạ, trước phải lo trị
sửa nước mình. Muốn trị sửa nước mình, trước phải sắp đặt nhà cửa cho chỉnh tề.
Muốn sắp đặt nhà nước mình, trước phải tu tập lấy mình. Muốn tu tập lấy mình,
trước phải giữ lòng dạ cho ngay thẳng. Muốn giữ lòng dạ cho ngay thẳng, trước
phải làm cho cái ý mình thành thật. Muốn làm cho cái ý của mình thành thật trước
phải có tri thức chu đáo. Muốn có tri thức chu đáo, ắt phải nghiên cứu sự vật.
Việc học tập phải tiến hành trong suốt cuộc đời mỗi con người: Muốn thi
hành những đức nhân, trí, trực, dũng, cương cho đúng đạo, con người trước hết đều
phải học. Đã học học thì phải luôn ghi nhớ "học cho rộng, hỏi cho cùng, nghĩ cho
kỹ, biện cho rành, làm cho siêng".
Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới, việc kế thừa truyền thống ham học, tinh
thần học không biết chán, dạy không biết mỏi của Nho giáo là việc làm hết sức cần
thiết. Hồ Chí Minh từng nói: Muốn xây dựng CNXH trước hết phải có những con
người XHCN. Con người mới XHCN không phải tự nhiên mà có, phải trải qua quá
trình học tập, rèn luyện. Học ở đây không phải là học tập những sách vở thánh hiền
mà là học tập những tri thức khoa học tiên tiến của thời đại. Có nắm vững những


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status