TRƯỜNG ĐẠI HỌC LẠC HỒNG
KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀI:
CÔNG GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
XÃ HỘI Ở ĐỒNG NAI
quý thầy cô trong ban Dân vận Trung Ƣơng, ban Tôn giáo Chính Phủ, ban tôn
giáo tỉnh Đồng Nai đã tận tình hƣớng dẫn, cung cấp tƣ liệu, giúp đỡ và động
viên để bài luận văn đƣợc hoàn thành cách tốt nhất. Những lời nhận xét, động
viên của quý thầy cô mãi là những lời dạy bảo đối với tôi khi rời xa ghế nhà
trƣờng.
Sau cùng, xin đƣợc bày tỏ lòng tri ân đến gia đình, bạn bè, những ngƣời
luôn bên cạnh chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi khi gặp khó khăn trong suốt thời
gian học đại học tại trƣờng Đại học Lạc Hồng.
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Lịch sử nghiên cứu: 3
3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 4
4. Phƣơng pháp nghiên cứu: 4
5. Đóng góp của đề tài: 4
6. Cấu trúc của đề tài: 5
NỘI DUNG CHÍNH 6
Chƣơng 1: CÔNG GIÁO Ở ĐỒNG NAI 7
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Đồng Nai. 7
1.1.1 Lịch sử hình thành vùng đất Đồng Nai 7
1.1.2 Điều kiện tự nhiên 8
1.1.3 Thành phần dân cƣ 12
1.1.4 Văn hóa xã hội 13
1.2 Tình hình tôn giáo ở Đồng Nai 16
1.3 Sự hình thành và phát triển Công giáo ở Đồng Nai 16
1.3.1 Từ ngày đầu truyền giáo đến năm 1965: 16
1.3.2 Từ năm 1965 đến nay: 20
Tiểu kết chƣơng 1 23
Hình 2.9: Đài Đức Mẹ tại nhà giáo dân ở Hố Nai 36
Hình 2.10: Tƣợng thánh Antôn 37
Hình 2.11: Tƣợng thánh Martino 37
Hình 2.12: Đền thánh Vicente ở Bắc Hải 38
Hình 2.13: Bốn vị Thánh tại đền thánh Hải Dƣơng 38
Hình 2.14: Bản thờ tổ tiên tại một số gia đình Công giáo 43
Hình 2.15: Bàn thờ tổ tiên trong ngày giỗ 44
Hình 2.16: Đại chủng viện Thánh Giuse Xuân Lộc 50
Hinh 2.17: Nhà thờ Bắc Hải, Hố Nai 50
Hình 2.18: Nhà thờ Kẻ Sặt 51
Hình 2.19: Đền Thánh Hải Dƣơng 51
Hình 2.20: Nhà nguyện Đan viện Xitô Thánh Mẫu, Ngọc Đồng 51
Hinh 2.21: Nhà thờ Suối Tre 52
Hình 2.22: Tƣợng Rồng chầu ở giáo xứ Hòa Bình 52
Hình 2.23: Hoa sen trên khung cửa giáo xứ Nagoa 53
Hình 2.24: Họa tiết trống đồng trên cửa nhà thờ Biên Hòa 53
Hình 2.25: Tháp chuông xứ Văn Hải 54
Hình 2.26: Tháp chuông xứ Hòa Bình 54
Hình 2.27: Chuông Nam cổ ở xứ Văn Hải 54
Hinh 2.28: Nhà thờ giáo xứ Hòa Hiệp 55
Hình 2.29: Nhà chầu xứ Hà Nội 56
Hình 2.30: Hạc thờ ở nhà nguyện Đan viện Xitô 56
Hình 2.31: Hạc thờ ở nhà thờ Thiết Nham 56
Hình 2.32: Chữ viết theo kiểu cuốn thƣ tại nhà nguyện Xitô 57
Hình 2.33: Nhà thờ Lộc Lâm 57
Hình 2.34: Đại hội di dân tại đền thánh Martino ở Hố Nai 65
Hình 2.35: Đại hội di dân tại Long Thành 66
Hình 2.36: Văn nghệ tại buổi đại hội di dân 67
Hình 2.37: Khám bệnh từ thiện tại phòng khám Xuân Hòa 72
cho Giáo hội Việt Nam và phong cho ngƣời bản xứ đầu tiên tên là Nguyễn Bá Tòng
chức Giám Mục. Năm 1960 hàng giáo phẩm Việt Nam đƣợc thiết lập. Giáo hội
Công giáo Việt Nam chia làm 3 giáo tỉnh ( Hà Nội, Huế, Sài Gòn) với 3 vị Tổng
Giám Mục ngƣời Việt Nam phụ trách, tất cả 25 giám mục từ “hiệu tòa” đƣợc nâng
lên “chính tòa”. Tính đến năm 2008, cả nƣớc có trên 6 triệu tín đồ Công giáo, 2.565
giáo xứ, 26 giáo phận, 47 giám mục, 2.476 linh mục triều, 513 linh mục dòng,
113.254 tu sĩ nam nữ, 1.479 chủng sinh, 5.456 nhà thờ nhà nguyện và 1.041 cơ sở
từ thiện nhân đạo
1
Đồng Nai là một trong những địa bàn đƣợc truyền giáo sớm ở Đàng Trong
và đã từng có những giáo sĩ Thừa sai nổi tiếng đƣơng thời nhƣ Giám mục Labbé,
Giám mục D.Lefèbvre hoạt động truyền giáo ở đây. Tuy nhiên, từ ngày đầu
1
Kết quả báo cáo kỳ họp Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 2009.
2
truyền giáo đến năm 1954, Công giáo ở Biên Hòa - Đồng Nai chƣa trở thành một
tôn giáo phát triển sâu rộng nhƣ Phật Giáo. Số dân đến Biên Hòa - Đồng Nai cƣ trú
từ lâu đời theo đạo Công giáo chiếm tỷ lệ rất thấp. Một vùng đất vốn có truyền
thống tín ngƣỡng tôn giáo hỗn dung nhiều nguồn, nhiều phía nên khi tiếp nhận
Công giáo, giáo dân Biên Hòa - Đồng Nai cũng không có niềm tin "tinh ròng", lễ
nghi, phong tục, tập quán cũng không quá rƣờm rà, hình thức. Đạo không có vùng
tập trung đông giáo dân, các xứ họ không phải là một lãnh địa khép kín, giáo dân
sống xen kẽ với ngƣời ngoài đạo chan hòa cởi mở. Trong một dòng họ, một gia đình
cũng có ngƣời theo, có ngƣời không theo Công giáo. Thậm chí trong một con ngƣời
họ là tín đồ Công giáo, họ đi nhà thờ cầu phúc, nhƣng cũng có khi họ đi đình, chùa
Giáo phận. Do đó, cókhá nhiều tƣ liệu đƣợc truy tìm lại sẽ là một thuận lợi để tác
giả nghiên cứu quá trình hội nhập của Công Giáo trong văn hóa ở Đồng Nai;đây
cũng là một đề tài nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến ngành Việt Nam học. Cho
nên tác giả chọn đề tài nghiên cứu “ CÔNG GIÁO TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
- XÃ HỘI Ở ĐỒNG NAI”.
2. Lịch sử nghiên cứu:
Đồng Nai là tỉnh có số lƣợng giáo dân Công giáo lớn của cả nƣớc. Văn hóa
Công giáo cũng góp phần làm nên nét văn hóa riêng chỉ có ở Đồng Nai, vì tôn giáo
bản thân nó cũng là một thành tố văn hóa. Do đó, không thể phủ nhận vai trò đặc
biệt quan trọng của tôn giáo đối với sự phát triển của văn hoá Việt Nam nói chung
và văn hóa của Đồng Nai nói riêng. Đến nay cũng đã có một số công trình nghiên
cứu về Công giáo ở Việt Nam nhƣ:
“ Nghi lễ và lối sống Công giáo trong văn hóa Việt Nam” của Tiến sĩ
Nguyễn Hồng Dƣơng, xuất bản năm 2001. Công trình nghiên cứu đã nêu lên đƣợc
một vài hƣớng tiếp cận của Công giáo trong quá trình hội nhập.
“Tìm hiểu về Tôn giáo” của Tổng cục chính trị xuất bản năm 1998 cũng đã
giới thiệu đƣợc những điểm khái quát về cộng đồng Công giáo Việt Nam, cách thực
hiện nghi lễ, lễ hội Công giáo
Công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Phạm Huy Thông với đề tài “Sự tác động
qua lại của Công giáo và văn hóa Việt Nam” cũng đã phần nào nêu lên những nét
ảnh hƣởng qua lại giữa Công giáo và văn hóa Việt Nam.
Một số ấn phẩm của Tòa Giám mục Xuân Lộc nhƣ: Kỷ yếu giáo phận, tập
san Một thời để nhớ cũng phần nào giới thiệu khái quát những sinh hoạt của giáo
dân Công giáo.
4
Tuy nhiên, đến nay vẫn chƣa có một công trình nghiên cứu cụ thể nào tìm
hiểu về sự tác động giữa Công giáo và văn hóa Đồng Nai. Các công trình nghiên
và sự tác động giao thoa văn hóa luôn diễn ra trong mọi thời đại, mọi không gian,
và đây cũng là một đề tài đầu tiên nghiên cứu sự tác động của Công giáo đến một
vùng cụ thể là tỉnh Đồng Nai.
- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xác lập những
luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu, hoạch định chính sách về tôn giáo, về văn
hóa – xã hội của chính quyền địa phƣơng. Đồng thời, với kết quả nghiên cứu cũng
góp phần ứng dụng trong xử lý quan hệ giữa đạo và đời đặc biệt đối với Công giáo
ở Đồng Nai.Với những kết quả nghiên cứu có đƣợc cũng góp phần định hƣớng phát
triển loại hình du lịch tôn giáo ở Đồng Nai, góp phần tạo nên thế mạnh riêng cho du
lịch tỉnh nhà.
6. Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, đề tài này chia làm 2 chƣơng:
Chƣơng 1: Với dung lƣợng khoảng 23 trang, nội dung chƣơng 1 nhằm giới
thiệu khái quát về Công Giáo ở Đồng Nai.
Chƣơng 2: Phân tích vai trò của Công giáo trong đời sống văn hóa xã hội ở
Đồng Nai.
6
NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: Công giáo ở Đồng Nai
1.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Đồng Nai
1.1.1. Lịch sử hình thành vùng đất Đồng Nai
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
1.1.3. Thành phần dân cƣ
1.1.4. Văn hóa xã hội
1.2. Tình hình tôn giáo ở Đồng Nai
cách đây hàng nghìn năm. Có đủ dấu ấn của các nền văn minh: Đá cũ, đá mới, đồng
thau, sắt Mọi nơi ở Đồng Nai, từ vùng bán sơn địa nhƣ: Hàng Gòn, Dốc Mơ, Dầu
Giây, Suối Linh, Nam Cát Tiên đến miền đồng bằng ven sông biển nhƣ: Phƣớc
Tân, Gò Bƣờng, Cái Vạn, Rạch Lá, Bƣng Bạc đều có dấu ấn ngƣời xƣa với nếp
sống quần cƣ, chế tác vũ khí và vật dụng sinh hoạt ở trình độ cao, có quan hệ giao
lƣu với văn hóa Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo và các nền văn minh khác trong khu
vực Đông Nam Á. Kết quả khảo cổ cho phép nhận xét: Từ giai đoạn sắt sớm, nền
kinh tế nông nghiệp bán sơn địa đã hình thành, biến Đồng Nai từ thiên nhiên còn
hoang sơ, nguyên thủy, trở thành địa bàn kinh tế dân cư “trù phú vào bậc nhất của
trung tâm văn minh nông nghiệp Đồng Nai - Đông Nam bộ”
3
. Những: Mộ cổ Hàng
Gòn, đàn đá Bình Đa, qua đồng Long Giao, cổ vật Nam Cát Tiên là di sản văn
hóa chứng minh thời rực rỡ của các nền văn minh cổ xƣa. Những nền văn minh này
hiện không còn “phát sáng”, chỉ vƣơng lại những “hồi quang” đứt gãy trong đời
sống của ngƣời thời nay.
Từ cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII ngƣời Việt bắt đầu có những đợt di
cƣ vào vùng đất Đồng Nai. Tiến trình nhập cƣ của cƣ dân ngƣời Việt vào đất Đồng
Nai – Gia Định đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ.
Cột mốc đánh dấu lịch sử hành chính của Đồng Nai thƣờng đƣợc nhắc đến là
năm Mậu Dần (1698) khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý phƣơng Nam, đƣa vùng
đất Đồng Nai vào lãnh thổ cai quản của Chúa Nguyễn. Nhƣng trƣớc đó, thần dân
của Chúa Nguyễn đã là chủ nhân của xứ Đồng Nai. Sự xuất hiện của hai sở thuế ở
Sài Gòn và Bến Nghé năm 1623 đã hé mở sự xuất hiện của ngƣời Việt sinh sống
3
Lê Xuân Diệm – Phạm Quang Sơn - Bùi Chu Hoàng (1991), Khảo cổ Đồng Nai, Nxb Đồng Nai, trang 201.
8
(bằng 1,76% diện tích tự nhiên cả nƣớc và 25,5% diện tích tự nhiên
vùng Đông Nam Bộ). Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Dƣơng; phía Đông
9
giáp tỉnh Bình Thuận; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí
Minh. Hiện nay tỉnh Đồng Nai có tất cả là 11 đơn vị hành chính gồm thành phố
Biên Hoà là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh, thị xã Long Khánh và 9
huyện: Long Thành, Nhơn Thạch, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc, Định Quán,
Tân Phú, Cẩm Mỹ, Trảng Bom.
Là một tỉnh có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đƣờng huyết
mạch quốc gia đi qua nhƣ quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đƣờng sắt Bắc
- Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.
Đồng Nai đƣợc xem là vùng đất đƣợc thiên nhiên ƣu đãi, điều kiện tƣ nhiên
khá thuận lợi.
Về địa hình: Tỉnh Đồng Nai có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên
với những núi sót rải rác, có xu hƣớng thấp dần theo hƣớng bắc nam. Có thể phân
biệt các dạng địa hình chính nhƣ sau:
- Địa hình đồng bằng gồm 2 dạng chính:
Các bậc thềm sông có độ cao từ 5 đến 10 mét hoặc có nơi chỉ cao từ 2 đến 5
mét dọc theo các sông và tạo thành từng dải hẹp có chiều rộng thay đổi từ vài chục
mét đến vài kilomet. Đất trên địa hình này chủ yếu là các aluvi hiện đại.
Địa hình trũng trên trầm tích đầm lầy biển: là những vùng đất trũng trên địa
bàn tỉnh Đồng Nai với độ cao dao động từ 0,3 đến 2 mét, có chỗ thấp hơn mực nƣớc
biển, thƣờng xuyên ngập triều, mạng lƣới sông rạch chằng chịt, có rừng ngập mặn
bao phủ. Vật liệu không đồng nhất, có nhiều sét và vật chất hữu cơ lắng đọng.
- Dạng địa đồi lượn sóng:
Độ cao từ 20 đến 200 mét. Bao gồm các đồi bazan, Bề mặt địa hình rất
phẳng, thoải, độ dốc từ 30 đến 80. Loại địa hình này chiếm diện tích rất lớn so với
Tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lƣợng đất có thể chia thành 3 nhóm chung sau:
* Các loại đất hình thành trên đá bazan: Gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có
độ phì nhiêu cao, chiếm 39,1% diện tích tự nhiên (229.416 ha), phân bố ở phía bắc
và đông bắc của tỉnh. Các loại đất này thích hợp cho các cây công nghiệp ngắn và
dài ngày nhƣ: cao su, cà phê, tiêu…
* Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét nhƣ: đất xám,
nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phí nam,
đông nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn
Trạch). Các loại đất này thƣờng có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây
ngắn ngày nhƣ đậu, đỗ…một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày nhƣ cây
điều…
* Các loại đất hình thành trên phù sa mới nhƣ: đất phù sa, đất cát. Phân bố
chủ yếu ven các sông nhƣ sông Đồng Nai, La Ngà. Chất lƣợng đất tốt, thích hợp với
nhiều loại cây trồng nhƣ cây lƣơng thực, hoa màu, rau quả…
Về khí hậu
Đồng Nai nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn
hòa, ít chịu ảnh hƣởng của thiên tai, đất đai màu mỡ (phần lớn là đất đỏ bazan), có
hai mùa tƣơng phản nhau (mùa khô và mùa mƣa).
11
Nhiệt độ cao quanh năm là điều kiện thích hợp cho phát triển cây trồng nhiệt
đới, đặc biệt là các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao.
Nhiệt độ bình quân năm 2005 là: 26,3
o
C chênh lệch nhiệt độ cao nhất giữa
tháng nóng nhất và lạnh nhất là 4,2
o
C.
du lịch ven sông Đồng Nai , Vƣờn quốc gia Nam Cát Tiên, làng bƣởi Tân Triều,
Thác Mai - hồ nƣớc nóng , Đảo Ó
Đến Đồng Nai du khách sẽ có dịp tham gia những chuyến du lịch sinh thái
trong các khu rừng hoặc vƣờn cây ăn quả, câu cá, du thuyền trên sông Đồng Nai, dã
ngoại tại các thắng cảnh: hồ Long Ẩn, khu văn hoá Suối Tre, thác Trị An, rừng Mã
Đà, hay tham quan các di tích lịch sử, văn hóa: chiến khu Đ, Văn miếu Trấn Biên,
nghiên cứu các di chỉ khảo cổ: mộ cổ Hàng Gòn, đàn đá Bình Đa…
1.1.3 Thành phần dân cƣ
Tỉnh Đồng Nai là địa bàn có thành phần dân cƣ khá đông đảo.Theo số liệu
thống kê, có trên 30 dân tộc sinh sống ở đây qua nhiều thời kỳ lịch sử.Trƣớc năm
1698, ngƣời Việt và ngƣời Hoa đã đến vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai sinh sống
nhƣng không nhiều.Các cƣ dân đƣợc xem là bản địa ở Đồng Nai là Chơro, Mạ,
Kơho, Xtiêng.
Từ sau khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh chúa Nguyễn, kinh lƣợc
đến Nam Bộ năm 1698, ông đã sắp đặt bộ máy quản lý hành chánh trên vùng đất
này và chiêu mộ ngƣời dân từ miền Trung vào đây khai khẩn. Dân số Đồng Nai có
sự phát triển ngày càng tăng với mức độ đẩy mạnh chính sách khai phá Nam Bộ
của nhà Nguyễn, thể hiện qua việc tăng số làng, thôn, ấp và nâng cấp các đơn vị
hành chánh cấp tổng, huyện.
Từ năm 1698 đến nay, có 5 đợt nhập cƣ lớn của các nguồn di dân đến Đồng
Nai làm tăng dân số và thành phần dân cƣ. Đó là cuộc di dân từ các tỉnh miền Trung
(vùng Ngũ Quảng) đến Đồng Nai theo chính sách khai khẩn của thời nhà Nguyễn;
đợt mộ dân các tỉnh miền Bắc, miền Trung vào làm phu tại các đồn điền cao su trên
địa bàn Đồng Nai những thập niên 30, 40 thế kỷ XX; đợt di dân đồng bào Công
giáo miền Bắc sau Hiệp định Giơ – ne – vơ năm 1954; đợt di dân từ các vùng thành
thị ở miền Nam xây dựng vùng kinh tế mới tại Đồng Nai sau năm 1975; các đợt
đồng bào các tỉnh phía Bắc theo kế hoạch nhà nƣớc đến Đồng Nai xây dựng cuộc
sống mới những thập niên cuối thế kỷ XX.
13
đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, đạo Hồi, đạo Cao Ðài và đạo Hoà Hảo. Trong đó,
14
thờ cúng Ông Bà, đạo Phật và đạo Thiên Chúa có nhiều ảnh hƣởng trong đời sống
xã hội và sinh hoạt của nhân dân, đồng thời cũng để lại nhiều dấu ấn trong lĩnh vực
văn hóa và kiến trúc.
Về trang phục
Trang phục Việt Nam nói chung, Đồng Nai và Nam Bộ nói riêng có một ít
thay đổi theo quá trình phát triển của lịch sử. Hiện nay, bộ Âu phục dần thay thế
cho bộ đồ truyền thống của đàn ông. Trong khi đó, phụ nữ vẫn mặc áo dài và đội
nón lá (với một số cải tiến). Áo dài Việt Nam vẫn là trang phục độc đáo của Đồng
Nai.
Về âm nhạc cổ truyền
Đó là một dòng chảy từ xa xƣa.Âm nhạc Đồng Nai có truyền thống khá lâu
đời. Ngay từ thời cổ, cƣ dân ở Đồng Nai đã coi âm nhạc là một nhu cầu không thể
thiếu. Bởi vậy tiếp nối quá trình phát triển lịch sử, cƣ dân Nam Bộ đã sáng tạo nên
rất nhiều loại nhạc khí và thể loại ca nhạc để bộc lộ tâm tƣ tình cảm, để có thêm sự
phấn chấn và sức mạnh trong lao động, chiến đấu, để giáo dục cho con cháu truyền
thống của ông cha, đạo lý làm ngƣời, để giao tiếp với thế giới thần linh trong tâm
tƣởng và để bay lên với những ƣớc mơ về một cuộc sống tƣơi đẹp, hạnh phúc trong
hiện tại và trong tƣơng lai
Tại Đồng Nai, đàn đá Bình Đa đƣợc biết đến nhƣ một di chỉ khảo cổ học,
cho thấy việc chế tác đàn đá đã xuất hiện từ trên dƣới 3.000 năm trƣớc. Đó là loại
nhạc khí tự thân vang, thuộc loại xylophone, metallophone. Mỗi bộ đàn gồm nhiều
thanh đá hợp thành. Mỗi thanh đá có kích thƣớc và hình dáng khác nhau, đƣợc chế
tác bằng phƣơng pháp ghè đẽo thô sơ.Vật liệu để làm đàn là những loại đá sẵn có ở
vùng núi Nam Trung bộ và Đông Nam bộ. (Bộ đàn đá đầu tiên tìm đƣợc tại Việt
Nam vào năm 1949 hiện đƣợc bảo quản tại viện bảo tàng "Con ngƣời" ở Paris).
lân, múa Ông Địa với tiếng trống, tiếng thanh la náo nhiệt. Trong dịp này, để
thƣởng trăng có rất nhiều cuộc vui đƣợc bày ra.Ngƣời lớn có cuộc vui của ngƣời
lớn, trẻ em có cuộc vui của trẻ em.
Về ẩm thực
Do thời tiết hai mùa mƣa nắng, sản vật biển, rừng, sông nƣớc, vƣờn ruộng
phong phú, cách ăn uống của ngƣời Đồng Nai vừa thể hiện nét chung của văn hóa
Việt Nam, vừa có sắc thái mang dấu ấn Nam Bộ. Các món ăn quen thuộc của ngƣời
16
Biên Hòa - Đồng Nai: cháo đậu ăn với cá lóc kho tiêu, cháo đậu nƣớc cốt dừa, canh
bầu nấu với cá trê vàng, cá lóc kho thơm, canh chua cá lóc, mắm kho ghém rau
sống, mắm đồng chƣng trứng, canh khổ qua dồn thịt…
1.2 Tình hình tôn giáo ở Đồng Nai
Đồng Nai từ lâu đời là một địa bàn sinh tụ và cƣ trú của nhiều dân tộc với
các tín ngƣỡng tôn giáo khác nhau, có sự giao lƣu và ảnh hƣởng tôn giáo lẫn nhau.
Vào khai hoang lập ấp ở Đồng Nai, ngƣời Việt đã trải qua nhiều giai đoạn,
nhiều chặng đƣờng. Ngoài văn hóa, tín ngƣỡng tôn giáo truyền thống đƣợc mang
theo vào vùng đất mới, ngƣời Việt đã tiếp nhận có chọn lọc các yếu tố văn hóa, tín
ngƣỡng tôn giáo của các cộng đồng cƣ dân mà họ cùng sinh sống. Khi ngƣời
phƣơng Tây vào truyền giáo, họ lại tiếp nhận văn hóa Ki tô giáo. Do điều kiện lịch
sử, địa lý nhân văn nên tín ngƣỡng tôn giáo Đồng Nai không mang tính cổ điển mà
đƣợc hỗn dung nhiều nguồn, nhiều phía tạo nên sắc thái riêng. Dù theo tôn giáo này
hay tôn giáo khác thì truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ những ngƣời có công
với dân, với nƣớc, nhớ ơn nghĩa ngƣời xƣa theo đạo lý "uống nƣớc nhớ nguồn" vẫn
là truyền thống phổ biến nhất, sâu rộng nhất.
Hiện nay Đồng Nai là một địa bàn đa tôn giáo: Phật giáo, Công giáo, Tin
Lành, Cao đài, Hòa Hảo, Hồi giáo Trong đó, Công giáo và Phật giáo là hai tôn
giáo có số lƣợng tín đồ đông nhất. Theo kết quả thống kê của ban Tôn giáo tỉnh thì
5
.
Ngƣợc dòng lịch sử, năm 1659, Giáo hội Công giáo Việt Nam chính thức
đƣợc Giáo hoàng Alexandre VII chấp thuận cho lập 2 giáo phận Tông toà: Giáo
phận Đàng Ngoài do Giám mục Francois Pallu làm Đại diện Tông toà và Giáo phận
Đàng Trong do Giám mục Lambert de la Motte chịu trách nhiệm coi sóc. Hai mƣơi
năm sau, Giáo phận Đàng Ngoài đƣợc chia làm 2 giáo phận: Giáo phận Tây Đàng
Ngoài và Giáo phận Đông Đàng Ngoài. Trong khi đó, mãi đến năm 1844, Toà
Thánh La Mã mới có Sắc chỉ chia tách Giáo phận Đàng Trong thành 2 giáo phận:
Giáo phận Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) do Giám mục Cuénot (tên Việt Nam là
Thể) đảm trách và Giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn) đƣợc trao cho Giám mục
D.Lefèbvre (tên Việt Nam là Ngãi). Giáo phận Sài Gòn bấy giờ gồm Nam kỳ, xứ
Cao Miên và các tỉnh phía Nam Ai Lao. Vùng Giáo phận Xuân Lộc ngày nay thuộc
Giáo phận Tây đàng Trong.
4
Theo Địa chí Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (1997), tập 1, phần lịch sử, Nxb TP.HCM, trang 143.
5
Lịch sử Công giáo nam bộ ( thế kỷ XVI-XVII-XVIII), nguyệt san báo Công giáo và dân tộc, số 39, tháng
3/1998.
18
Năm 1850, Toà Thánh La Mã một lần nữa chia Giáo phận Tây đàng Trong
(Sài Gòn) bằng cách tách khỏi phần đất Cao Miên để thành lập Giáo phận Nam Vang,
do Giám mục Miche (tên Việt Nam là Mịch) quản nhiệm. Đến năm 1859, khi thực
dân Pháp chiếm Sài Gòn, Sài Gòn trở thành dinh cố định của Toà Giám mục Giáo
phận Tây Đàng Trong. Đến năm 1924, tên của các giáo phận không còn đƣợc gọi
theo miền hay xứ mà đƣợc gọi theo tên hành chính của tỉnh. Sài Gòn đƣợc Toà Giám
đáng chú ý: 860.000 ngƣời Miền Bắc di cƣ vào Nam, trong đó có 550.000 ngƣời
Công giáo (Dẫn theo: Đỗ Quang Hƣng (1991), Một số vấn đề về lịch sử Thiên Chúa
giáo ở Việt Nam, Tủ sách Đại học Tổng hợp Hà Nội, tr.4), định cƣ rải rác khắp các
tỉnh miền Trung và miền Nam. Trong số đó, một lƣợng khá lớn tín đồ Công giáo
Miền Bắc định cƣ tại Xuân Lộc, dần dần hình thành các xứ đạo toàn tòng nhƣ Hố
Nai, Gia Kiệm, Phƣơng Lâm, Long Khánh, Bà Rịa,… làm cho số lƣợng giáo dân
các tỉnh Biên Hoà, Long Khánh, Phƣớc Tuy tăng gấp 20 lần so với trƣớc đó, từ
khoảng 8.000 ngƣời lên 160.000 ngƣời (Toà Giám mục Xuân Lộc (2003), Kỷ yếu
Giáo phận Xuân Lộc 1965-2003, Nxb Tôn giáo, tr.30). Ngƣời dân ở các khu này nổi
tiếng là rất sùng đạo, làm việc lành phúc đức, giúp đỡ ngƣời nghèo và những nơi
khác cần giúp đỡ. Từ năm 1954 đến năm 1965, Biên Hòa - Đồng Nai đã có 133 giáo
xứ và 105 họ lẻ, 175 linh mục, 3 dòng tu nam, 8 dòng tu nữ với 865 tu sĩ và 164.144
giáo dân
6
. Năm 1960, Toà Thánh La Mã thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam và
phân chia địa giới hành chính đạo thành 3 giáo tỉnh: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, đánh
dấu một bƣớc phát triển mới của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Giáo phận Sài Gòn
đƣợc chia thành 3 giáo phận: Giáo phận Sài Gòn, Giáo phận Đà Lạt và Giáo phận
Mỹ Tho. Khi ấy, Giáo phận Xuân Lộc nằm trong địa giới Giáo phận Sài Gòn.
Theo thời gian, do dân số tăng nhanh, nhằm đáp ứng nhu cầu sống đạo của
giáo dân ngày càng cao, năm 1965, Giáo hoàng Phaolô VI ban hành Tông thƣ tách
Giáo phận Sài Gòn thành 3 giáo phận: Giáo phận Sài Gòn, Giáo phận Xuân Lộc và
Giáo phận Phú Cƣờng. Giáo phận Xuân Lộc khi đó bao gồm 3 tỉnh: Long Khánh,
Biên Hoà và Phƣớc Tuy (Bà Rịa). Linh mục Lê Văn Ấn đƣợc Toà Thánh La Mã bổ
nhiệm làm Giám mục tiên khởi của Giáo phận Xuân Lộc. Lễ tấn phong đƣợc tổ chức
tại Nhà thờ Chính toà Đà Nẵng vào ngày 9/1/1966. Đến ngày 13/1/1966, Giám mục
Lê Văn Ấn chính thức nhận giáo phận mới tại Nhà thờ xứ Xuân Lộc dƣới quyền chủ
6
Tòa giám mục Xuân Lộc (2000), Giáo phận Xuân lộc trong bối cảnh Giáo hội Việt Nam, lƣu hành nội bộ,