Mục lục
A- Lời mở đầu.......................................................................................................................................2
B- Nội dung...........................................................................................................................................4
І- Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của triết học Nho giáo...............................................4
1, Nho giáo nguyên thủy:..............................................................................................................5
2, Hán Nho:...................................................................................................................................5
3, Tống Nho:..................................................................................................................................6
II - Nội dung của triết học Nho giáo.................................................................................................6
1, Những tác phẩm kinh điển của Nho giáo: ...............................................................................6
1.1.Ngũ Kinh:................................................................................................................................6
1.2, Tứ thư:....................................................................................................................................7
2, Nội dung cơ bản của Nho giáo:...............................................................................................9
2.1. Tu thân: ................................................................................................................................10
2.2. Hành đạo: ............................................................................................................................12
3, Quan điểm chính trị - xã hội của triết học Nho giáo:.............................................................13
III - Vai trò của những quan điểm CT – XH của triết học Nho giáo trong đời sống xã hội Việt
Nam hiện nay:..................................................................................................................................16
1, Sự du nhập của Nho giáo vào Việt Nam:...............................................................................16
2, Ảnh hưởng của những quan điểm chính trị - xã hội của triết học Nho giáo trong đời sống xã
hội Việt Nam: .............................................................................................................................18
2.1. Trong xã hội Việt Nam cổ đại: ...........................................................................................18
2.2. Trong xã hội Việt Nam hiện đại:.........................................................................................20
IV - Ảnh hưởng của triết học Nho giáo trong văn hóa kinh doanh:..............................................22
1, Về kích thước văn hóa trong XH Khổng giáo:.......................................................................23
2, Với cấu trúc xã hội và lực lượng kinh doanh:........................................................................23
Kinh doanh luôn ở vị trí thấp kém trong xã hội chiến tranh liên miên. Lã Bất Vi là một ví
dụ điển hình. Tuy rất giàu có và như dân gian vẫn nói là có thể "buôn Vua, bán Chúa" nhưng
lại không thể gạt bỏ được hình ảnh một tên "buôn" trong xã hội Trung Hoa cổ.......................23
Bản thân Khổng Tử cũng chưa bao giờ cổ vũ việc kinh doanh. Hơn thế nữa, các nhà Nho
sau này thêm vào những tư tưởng như an nhàn là nhất, ngheo nhưng sạch là tốt và coi rẻ
thành phần kinh doanh buôn bán. Về thực chất cả hệ thống Nho giáo đều không ủng hộ việc
hoặc trí thức chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị nước. Đến thời
Khổng tử đã hệ thống hoá những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết,
gọi là nho học hay “Khổng học” - gắn với tên người sáng lập ra nó.
Ngày nay, chúng ta thường nghe nói “nước có quốc pháp, nhà có gia phong”
là những câu nói răn dạy để giáo dục con người Việt Nam sống có phép tắc, khuôn
mẫu đạo đức nhất định theo tinh thần “Nho giáo”, đồng thời còn là biểu tưởng tự
hào về truyền thống văn hoá dân tộc, là nguyên khí tinh thần độc lập, từ cường của
một dân tộc, là bản sắc riêng về truyền thống văn hoá.
Tìm hiểu về triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội Việt
Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc vận dụng vào thực tiễn nhất là trong
văn hóa ứng xử trong đời sống xã hội cũng như trong kinh doanh trong bối cảnh
hội nhập kinh tế của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Từ những ý nghĩa lí luận cũng như ý nghĩa thực tiễn to lớn của triết học Nho
giáo, em xin mạnh dạn đưa ra những nhận định của mình về đề tài: “Những quan
Bùi Thị Hồng Phương – CQ502100 – Quản trị quảng cáo K50
2
điểm chính trị - xã hội của triết học Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong đời
sống xã hội Việt Nam”
Do kiến thức còn hạn hẹp, thời gian có hạn, chưa quen với cách viết tiểu luận
nên bài viết khó tránh khỏi những sai sót. Vậy rất mong thầy giáo chỉ bảo đóng góp
để bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin trân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 10/05/09
Bùi Thị Hồng Phương – CQ502100 – Quản trị quảng cáo K50
3
B- Nội dung
І- Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của triết học Nho giáo
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và
tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất phát
triển ở các nước châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam. Những
Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông
chép thành sách Mạnh Tử .
Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là
Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ
đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học
thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo.
Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ,
giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.
2, Hán Nho:
Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế đưa
Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư
tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong
kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán
Nho.
Bùi Thị Hồng Phương – CQ502100 – Quản trị quảng cáo K50
5
Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của
giai cấp thống trị. Thiên Tử là con trời, dùng "lễ trị" để che đậy "pháp trị".
3, Tống Nho:
Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận
ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu
giường của các nhà Nho.
Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường
gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di.
Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo". Điểm khác biệt của Tống nho
với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố "tâm linh" (lấy từ Phật giáo) và
các yếu tố "siêu hình" (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị.
II - Nội dung của triết học Nho giáo
1, Những tác phẩm kinh điển của Nho giáo:
Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáo nguyên
kinh.
1.2, Tứ thư:
- Đại Học: Sách Đại học dùng để dạy cho học trò từ 15 tuổi trở lên, khi bước vào
bậc đại học, dạy cho biết cách xử sự ở đời để lớn lên ra gánh vác việc nước.
Theo các Nho gia, sách Đại Học do Tăng Tử làm ra để diễn giải các lời nói của
Khổng Tử.
Mục đích và tôn chỉ của sách này là nói về đạo quân tử, trước hết phải sửa cái đức
Bùi Thị Hồng Phương – CQ502100 – Quản trị quảng cáo K50
7
của mình cho sáng tỏ để mọi người noi theo, làm sao cho đến chổ chí thiện. Muốn
được vậy, phải sử dụng Bát điều mục (tám điều) : cánh vật, trí tri, thành ý, chính
tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Cái gốc của đạo quân tử là sự “tu thân”.
Cho nên trong sách Đại học có câu : “Tự thiên tữ dĩ chí ư thứ nhân, nhứt thị giai dĩ
tu thân vi bổn” (Nghĩa là : “từ vua cho đến thường dân, ai ai cũng đều lấy sự sửa
của mình làm gốc”).
- Trung Dung: Sách Trung Dung do Tử Tư làm ra. Tử Tư là học trò của Tăng Tử,
cháu nội của Khổng Tử, thọ được cái học tâm truyền của Tăng Tử.
Trong sách Trung Dung, Tử Tư dẫn những lời của Không Tử nói về đạo “trung
dung”, tức là nói về cách giữ cho ý nghĩ và việc làm luôn luôn ở mức trung hòa,
không thái quá, không bất cập và phải cố gắng ở đời theo nhân, nghĩa, lễ, trí, tín,
cho thành người quân tử, để cuối cùng thành thánh nhân.
(Cả hai quyển sách Đại Học và Trung Dung trước đây là những thiên trong Kinh
Lễ, sau các Nho gia đời Tống tách riêng ra làm hai quyển để hợp với sách Luận Ngữ
và Mạnh Tử thành bộ Tứ Thư.)
- Luận Ngữ : là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Không Tử và những
lời nói của người đương thời.
Sách Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên đều lấy chữ đầu mà đặt tên, và các thiên
không có liên hệ với nhau. Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách và
tính tình của Khổng Tử, nhất là về giáo dục, ông tỏ ra là người thấu hiểu tâm lý của
từng học trò, khéo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh
quân chủ lập hiến sau này.
2, Nội dung cơ bản của Nho giáo:
Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia. Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã
hội. Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được
người cai trị kiểu mẫu - người lý tưởng này gọi là quân tử (quân = kẻ làm vua,
quân tử = chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân", những người
Bùi Thị Hồng Phương – CQ502100 – Quản trị quảng cáo K50
9
thấp kém về điạ vị xã hội; sau "quân tử" còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những
người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với "tiểu nhân" là những người
thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện. Điều này có thể được lí giải bởi đối
tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền). Để trở thành
người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân". Sau khi tu
thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản
chỉ là đạo lí. Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và
Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó
là những nguyên lí đạo đức do Nho gia đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện
ra) và cần phải tuân theo. Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm
được đạo trời, biết sợ mệnh trời. Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con
người sẽ được gọi là Mệnh). Cần phải hiểu cơ sơ triết lí của Nho giáo mới nắm
được logic phát triển và tồn tại của nó.
2.1. Tu thân:
Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức... để
làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.
Tam Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo.
Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo.
Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam
Tòng, Tứ Đức thì xã hội được an bình.
a, Tam Cương: Tam là ba; Cương là giềng mối; Tam Cương là ba mối quan hệ:
Quân thần (vua tôi), Phụ tử (cha con), Phu thê (chồng vợ).