Vai trò của ý thức đạo đức trong đời sống xã hội - Pdf 13

LờI Mở ĐầU
Với t cách là một bộ phận của tri thức triết học, những t tởng đạo đức học
đã xuất hiện 26 thế kỉ trớc đây trong triết học Trung Quốc, ấn Độ, Hy Lạp cổ
đại.Về bản chất, đạo đức là hành vi của con ngời trong đời sống hiện thực đợc
nhận xét, đánh giá, thẩm định(ủng hộ hay lên án) qua lăng kính của d luận xã hội.
Sự ý thức về lơng tâm, danh dự, lòng tự trọng phản ánh khả năng tự chủ của con
ngời là sức mạnh đặc biệt của đạo đức, là nét cơ bản qui định gơng mặt đạo đức
của con ngời, cũng là biểu hiện bản chất xã hội của con ngời.Với ý nghĩa đó, sự
phát triển của ý thức đạo đức là nhân tố biểu hiện tiến bộ xã hội. Bởi vậy vai trò
của ý thức đạo đức là vô cùng to lớn.
Có thể thấy rằng,Việt Nam đã và đang trên con đờng hội nhập quốc tế thì
vấn đề về đạo đức càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Đạo đức mà cụ thể là ý
thức đạo đức giúp Việt Nam bảo vệ đợc những giá trị truyền thống tốt đẹp, hội
nhập với bản sắc văn hoá riêng biệt, độc đáo. Đồng thời nó cũng giúp các doanh
nhân, doanh nghiệp Viêt Nam tạo lập uy tín với bạn bè thế giới Nh ng trên thực
tế các giá trị đạo đức đó đang bị xem thờng, coi nhẹ hay cố ý lãng quên.Vì vậy,
việc xây dựng ý thức đạo đức cho mỗi ngời dân Việt là một nhiệm vụ vô cùng cấp
bách. Nhng việc xây dựng nh thế nào cho phù hợp và đạt hiệu quả cao mới là vấn
đề khó khăn.Để đa ra đợc những phơng án cụ thể chúng ta cần phải nghiên cứu ý
thức đạo đức bởi nó là cơ sở của mọi hành vi của con ngời.
1
Phần 1:Vai trò của ý thức đạo đức trong đời sống xã
hội.
1. Định nghĩa về ý thức đạo đức.
Hình thái ý thức đạo đức là một trong những hình thái ý thức đạo đức ra đời
từ rất sớm, ngay từ xã hội nguyên thuỷ.
ở Trung Quốc các học thuyết về đạo đức của ngời Trung Quốc cổ đại xuất
hiện sớm, đợc biểu hiện trong quan niệm về đạo và đức của họ.Đạo là một trong
những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại. Đạo có nghĩa là
con đờng, đờng đi về sau, khái niệm đạo đợc vận dụng trong triết học để chỉ con
đờng của tự nhiên. Đạo còn có nghĩa là con đờng sống của con ngời trong xã hội.

ý thức đạo đức có tính thời đại, tính dân tộc và tính giai cấp.
-Tính thời đại:ý thức đạo đức luôn thay đổi từ thời đại này qua thời đại khác.
Thí dụ, đạo đức ngày nay thì phải tôn trọng nhân phẩm con ngời, nhng vào thời kì
chủ nô( 4000 năm trớc Công nguyên) ngời nộ lệ đã bị coi nh một công cụ biết
nói có thể chuyển nhợng, mua bán nh một đồ vật trên thị trờng. Thời nguyên thuỷ
con ngời chỉ biết săn bắn, hái lợm và ai muốn ở đâu cũng đợc, nhng đến thời định
canh định c, phải khẩn hoang sản xuất thì con ngời cũng gắn liền với mảnh đất
canh tác của mình và ý thức phải tôn trọng ruộng đất của kẻ khác cũng xuất hiện.
-Tính dân tộc: ý thức đạo đức cũng khác nhau từ dân tộc này qua dân tộc khác.
Đạo đức qui địnhbởi sự tồn tại xã hội và chịu ảnh hởng của tổng thể các ý thức xã
hội khác nhau nh triết học, nghệ thuật tạo thành bản sắc dân tộc cho từng vùng
dân c nên mỗi dân tộc lại có phong tục, đạo đức riêng của mình.Bởi vậy mới có
câu châm ngôn nhập gia tuỳ tục.Thí dụ quan hệ đạo đức gia đình ngày nay là một
vợ một chồng nhng vẫn nhiều nơi còn chế độ đa thê.
-Tính giai cấp: tính giai cấp của đạo đức là sự phản ánh và thể hiện lợi ích của
các giai cấp và hệ thống đạo đức áp đặt cho toàn xã hội bao giờ cũng là đạo đức
của giai cấp thống trị, mặc dù trong cuộc sống đời thờng mỗi giai cấp vẫn ứng xử
theo lợi ích trực tiếp của mình.Thí dụ, thời phong kiến quan niện trung quân ái
quốc,yêu vua là yêu nớc đã trở thành phổ biến, nhng ở các làng quê phép vua vẫn
3
thua lệ làng, ngời dân vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc truyền thống của mình. Ngoài
tính giai cấp, đạo đức vẫn mang tính nhân loại chung.Tính nhân loại của đạo đức ở
mức thấp là những qui tắc đơn giản, thông thờng, cần thiết để đảm bảo cho trật tự
an sinh đời thờng. Tính nhân loại ở mức cao biểu hiện ở những giá trị đạo đức tiến
bộ tiêu biểu nhất của từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội trong lịch sử.
ý thức đạo đức về mặt cấu trúc gồm tri thức đạo đức, tình cảm và ý chí đạo
đức.
2. Vai trò của ý thức đạo đức
ý thức đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội. Đạo đức là vấn đề
thờng xuyên đợc đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho cá nhân và cộng đồng tồn

đạo đức bao gồm cả chuẩn mực ngăn cấm và cả chuẩn mực khuyến khích. Chức
năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm đòi hỏi
từ tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thành đặc trưng riêng để phân biệt
đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng xã hội khác và làm thành
cái không thể thay thế của đạo đức.Mục đích điều chỉnh lµ ®Ó bảo đảm sự tồn tại
và phát triển xã hội tạo nên quan hệ theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộng đồng
và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng).Đối tượng điều chỉnh:
hành vi cá nhân (trực tiếp) qua đó điều chỉnh quan hệ cá nhân với cộng đồng
(gián tiếp).Cách thức điều chỉnh được biểu hiện: lựa chọn giá trị đạo đức; xác
định chương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho
hành vi bëi chuẩn mực đạo đức; tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý
tưởng, tình cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội.Chức
năng điều chỉnh hành vi được thực hiện bởi hai hình thức chủ yếu: xã hội và tập
thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán mạnh mẽ cái ác;
bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực đạo
đức xã hội.
- Chức năng giáo dục: Con người vươn lên “chân - thiện - mỹ”. Con người là
sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể của lịch sử. Con người tạo ra hoàn
cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy.Con người
5
sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội. Hệ thống ấy tác động đến con
người và con người tác động lại hệ thống. Hệ thống đạo đức do con người tạo
ra, nhưng sau khi ra đời hệ thống đạo đức tồn tại như là cái khách quan hoá tác
động, chi phối con người.Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống
đạo đức mà các cá nhân chịu sự tác động. Ở đây, môi trường đạo đức tác động
đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nhận thức
đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân. Thực tiễn
đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức. Các hành vi
đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả đạo đức cá nhân
và xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quán đạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status