Đề tài vai trò của công nghiệp vi sinh trong đời sống dẫn chứng về công nghệ sinh khối - Pdf 23

CÔNG NGHỆ SINH HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
KHOA DẦU KHÍ
BỘ MÔN LỌC HÓA DẦU

TIỂU LUẬN MÔN HỌC
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Đề tài: Vai trò của công nghiệp vi sinh trong đời sống .
Dẫn chứng về công nghệ sinh khối
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
TS. Tống Thị Thanh Hương Phạm Văn Long
Lớp : Lọc hóa dầu– K53
Hà Nội 10/2012
Sv : PhạmVăn Long 1 Lớp : Lọc Hóa Dầu-K53
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
A . Vai trò của công nghiệp vi sinh trong đời sống 3
2. Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp 7
B. Công nghệ sản xuất sinh khối nấm men bánh mì 10
KẾT LUẬN 19
TÀI LIÊU THAM KHẢO 20
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp vi sinh là một ngành của Vi sinh học, trong đó vi sinh vật được
xem xét để sử dụng trong công nghiệp và những lĩnh vực khác nhau của kỹ thuật.
Công nghiệp vi sinh giải quyết hai vấn đề chính trái ngược nhau:
Một mặt, nó dẫn tới làm rõ hoàn toàn những tính chất sinh học và sinh hoá của
những cơ thể sống là nguyên nhân cơ bản và trực tiếp của sự chuyển hoá hoá học,
những chất có ở cơ chất này hay cơ chất kia. Trong trường hợp này, công nghiệp vi
sinh sử dụng những vi sinh vật để thu những sản phẩm quan trọng và có giá trị thực tế
bằng con đường lên men. Phương pháp sinh hoá để thu nhiều sản phẩm là phương

Công nghệ tế bào (tế bào động vật và thực vật) : Các tế bào động vật, thực vật với bộ máy di
truyền đặc trưng cho từng loài, giống được tạo điều kiện phát triển trong các môi trường xác định và an toàn. Kĩ
thuật nuôi cấy mô được coi là kĩ thuật chủ yếu của Công nghệ tế bào.
Công nghệ gen : Là ngành công nghệ sử dụng hệ thống các phương pháp thực nghiệm ứng dụng
các thành tựu của Sinh học phân tử, Di truyền học phân tử để tạo nên các tổ hợp tính trạng di truyền mong muốn
ở một loài sinh vật. Từ đó giúp diều khiển một cách đính hướng tính di truyền của sinh vật. Ngày nay, ngành
Công nghệ gen được suy tôn là mũi nhọn tiến công xung kích của Công nghệ sinh học. Kĩ thuật di truyền là kĩ
thuật chủ yếu của Công nghệ gen. Một điều hết sức lí thú là vi sinh vật được coi là một trong những dối tượng
thực nghiệm lí tưởng để nghiên cứu về kĩ thuật di truyền.
2. Các giai đoạn phát triển của công nghệ vi sinh
Cũng như các lĩnh vực khoa học khác, Công nghệ vi sinh mà tiền thân của nó là
công nghệ lên men cổ điển đã trải qua những chặng đường phát triển đầy khó khăn,
phức tạp với nhiều phát minh và cả những lỗi lầm, những kì công và cả những ngộ
nhận. Để rồi từ một lĩnh vực sinh học ứng đụng các thuật: tính của vì sinh vật một
cách thụ động. đến nay Công nghệ visinh đã trở thành một nền công nghệ tiên tiến với
những khía cạnh ứng dụng mới mẻ, đã thu hút sự quan tâm sâu sắc của các nhà khoa học, công nghệ gia và cả
các thương gia.
Công nghệ vi sinh đã phát triển qua nhiều thế hệ. Có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các
giai đoạn phát triển.
Theo cách chia tương đối hợp lí thì Công nghệ vi sinh đã trải qua các thế hệ chủ yếu sau :
Thế hệ thứ 1
Đặc trưng giai đoạn này là con người sử dụng các thuộc tính của vi sinh vật một
cách thụ động, bởi vậy người ta còn gọi là giai đoạn lên men cổ điển.
Thời tiền sử, khoảng hơn 6000 năm trước Công nguyên, con người đã biết sản xuất khá nhiều loại
rượu, bia và một số thực phẩm lên men bằng vi sinh vật. Tuy vậy, ở giai đoạn này, tất cả đều dựa vào kinh
nghiệm, sản xuất chỉ ở quy mô thủ công. Con người thiếu sự hiểu biết về sự tồn tại và vai trò của vi sinh vật
trong các quá trình lên men.
Thế hệ thứ 2
Thời gian khoảng từ những năm ba mươi đến nhùng năm sáu mươi của thế ki
XX.

kiện khấc nghiệt của khí hậu, chống sâu rầy vi chúng đã được mang trên mình những gen chịu khô hạn,
kháng sâu rầy hoặc tạo được những cá thể vi sinh vật sản xuât với hiệu suất cao nhất các chất như kháng
thể, insulin, kháng sinh Hoặc thông qua kĩ thuật di truyền với đối tượng là các vi sinh vật, chúng ta sẽ tìm ra biện
pháp hữu hiệu để trị các bệnh nan y của thế ki như ung thư, AIDS
Tất cả còn đang ở phía trước, nhưng hiện nay đã có nhiều cơ sở để chúng ta vững tin vào hiện thực của nó
trong tương lai.
II. Vai trò của công nghiệp vi sinh trong đời sống
Công nghiệp vi sinh có vai trò rất quan trọng , nó được ứng dụng một cách rộng rãi và có hiệu quả trên nhiều
lĩnh của đời sống .
1. Trong lĩnh vực y tế bảo vệ sức khỏe con người
Tình hình sức khỏe chung của nhân loại hiện đang ở trong tình trạng rất đáng lo ngại. Hầu như lúc nào
cũng có khoảng 1/3 nhân loại đang ở trong trạng thái đau ốm. Vì vậy vấn đề tìm thuốc trị bệnh, nhất là những bệnh nan y
hiện đang được đặt ra hết sức cấp bách. Công nghiệp vi sinh đã đóng góp trong việc tìm kiếm nhiều loại dược phẩm quan
trọng.
1.1. Vaccine thế hệ mới
Trong quá trình tìm kiếm các biện pháp, thuốc phòng và trị một số bệnh truyền
nhiễm, một thành công đáng kể của công nghiệp vi sinh là tạo ra các vaccine thế hệ mới.
Sv : PhạmVăn Long 5 Lớp : Lọc Hóa Dầu-K53
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Trong khoảng hơn hai thập kỉ gần dây, con người đã tạo ra nhiều vaccine thế hệ mới
như vaccine ribosome, vaccine kỹ thuật gen, vaccine chế tạo từ các thành phần của virus
Vaccine thế hệ mới có những ưu điểm sau:
- Rất an toàn vì không sử dụng trực tiếp vi sinh vật gây bệnh.
- Giá thành hạ vì không cần nuôi virus trên phôi gà hay các tổ chức mô của động vật vốn
rất phức tạp và tốn kém, giảm bớt được chi phí vận chuyển và chi phí kiểm tra tính an toàn trước khi dùng
Vaccine rlbosome: Cấu tạo từ các ribosome của từng loại vi khuẩn gây bệnh (thương hàn, tả, dịch hạch ). Ưu
điểm của loại vaccine này là ít độc, tính miễn dịch cao.
Vaccine các mảnh của virus: Là vaccine chế tạo tờ glycoprotein của vỏ virus gây bệnh như virus cúm
Vaccine kĩ thuật gen: Là vaccine chế tạo từ những vi khuẩn hay nấm men tái tổ hợp, có mang gen mã hóa việc
tổng hợp một protein kháng nguyên của một virus hay vi khuẩn gây bệnh nào đó.

HGH. Người ta đã thành công trong việc thu nhận một lượng lớn HGH từ vi khuẩn E. coli đã được tái tổ hợp gen (từ một lít
dịch lên men của E. coli thu được lượng HGH tương đương với lượng chất này thu được từ 60 tử thi).
1.5. Chất kháng sinh
Sv : PhạmVăn Long 6 Lớp : Lọc Hóa Dầu-K53
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Kháng sinh là một trong những thuốc được công nghiệp vi sinh đầu tư sản xuất từ rất lâu. Cho
đến nay, người ta đã tìm được hơn 2500 loại kháng sinh với cấu trúc phân tử rất đa dạng. Trong số dó chủ yếu là các kháng
sinh có nguồn gốc từ vi sinh vật.
Trong giai đoạn phát triển mới của công nghiệp vi sinh, người ta cố gắng nâng năng suất tạo kháng
sinh lên gấp hàng trăm, ngàn lần so với chủng vi sinh vật gốc thông qua việc gây tạo đột biến hay tạo các môi trường tối ưu
cho sự tạo thành kháng sinh của các chủng vi sinh vật,
Ngoài ra, người ta cũng đã sử dụng kĩ thuật di truyền nhằm mục đích tạo ra các
chủng vi sinh vật có khả năng sinh kháng sinh mới có phổ tác dụng rộng, chống được các vi sinh vật đã lờn thuốc
kháng sinh. Theo hướng này, người ta có thể áp dụng phương pháp chuyển gen tạo một loại kháng sinh đã biết (kháng sinh
actinorhodin) ở một loại xạ khuẩn (Streptomyces coelicolor) sang cho một loại xạ khuẩn khác (Ac-tỵnomyces spp.).
Kết quả là loài Actynomyces spp. đã tạo ra được ba loại kháng sinh mới với phổ tác dụng khác với loại kháng sinh có ở
Streptomỵces coelicoior.
2. Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
2.1. Cải tạo giống cây trồng :
Thông qua kĩ thuật, di truyền với sự hỗ trợ của vi sinh vật, con người đã và
đang tạo ra những cơ thể thực vật có những đặc tính quý báu: chống chịu sâu rầy, chịu
được thuốc diệt cỏ, chịu được phèn, chịu hạn Một trong nhũng thành tựu của hướng đóng góp này là
việc tạo ra những cây trồng có sức đề kháng với chất diệt cỏ. Cụ thể là: khi sử dụng hecbixit phun diệt cỏ cho cây đậu tương,
người ta nhận thấy một số cỏ đã quen (lờn) với thuốc nên cỏ không chết mà cây trồng lại bị chết v ì thuốc diệt cỏ. Trước thực
tế này, các nhà khoa học đã quyết định vay mượn gen chịu trách nhiệm về tính bền vững với hecbixit của có dại để chuyển
sang cho cây trồng (cây đậu tương) và đã tạo được cây đậu tương chống chịu lại với thuốc diệt cỏ hecbixit. Hiện nay một số
công ty thương mại đã dự kiến bán ra những túi hàng chứa cả thuốc trừ cỏ lần hạt giống đã được xử lí "miễn dịch" với
thuốc chống cỏ dại.
2.2. Tạo chế phẩm thuốc trừ sâu có nguồn gốc vi sinh vật
Hiện nay nếu không dùng thuốc hóa học thì sâu rầy sẽ phá hoại mùa màng (có

được sản xuất trong điều kiện vô trùng, theo một công nghệ hiện đại, bảo đám các vi sinh vật sẽ có khả
năng sống và hoạt động tốt trong điều kiện đất canh tác. Việc sử dụng phân phức hợp vi sinh vật liên tục
trong một thời gian dài có tác dụng phục hồi chất lượng của đất, hạn chế hiện tượng rửa trói chất dinh
dưỡng, chống sự xói mòn, chai cứng của đất. Do vậy bảo vệ môi trường sinh thái bền vững.
2.4. Chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM (Effective Microorganisms):
Chế phẩm EM là phát minh của giáo sư, tiến sĩ Teruo Higa, Đại học Ryu
Kyus, Okinawa, Nhật Bản. Chế phẩm này chứa khoảng 80 loài vi sinh vật. Chúng bao gồm các nhóm vi
sinh vật chủ yếu sau: vi khuẩn lactic, vi khuẩn quang hợp, nấm men, nấm mốc, xạ khuẩn Các vi sinh
vật này có nguồn gốc tự nhiên - tức không phải những vi sinh vật thu được từ kĩ thuật tái tổ hợp gen. Tất cả
chúng có mối quan hệ tương hỗ thích hợp với nhau về mặt sinh lí và có thể cùng sống chung với nhau trong
một môi trường nhân tạo không vô trùng. Khi đưa chúng trở lại môi trường tự nhiên, vai trò tác dụng của
từng nhóm vi sinh vật sẽ tăng lên rất nhiều. Chế phẩm EM có nh ững tác dụng sau:
- Cải thiện môi trường lí, hóa, sinh của đất và tiêu diệt các tác nhân gây
bệnh, sâu hại trong đất.
- Tăng khả năng quang hợp của cây trồng.
- Thúc đẩy khả năng nảy mầm, ra hoa, kết trái và làm chín ở thực
vật.
- Giúp xử lí ô nhiễm môi trường.
Hiện nav chế phẩm EM đã được ứng dụng rộng rãi ở các quốc gia trên thế
giới, đặc biệt là ở các nước châu Á. Việc áp dụng chế phẩm này đã thu dược những kết quả đáng kể, do đó
Hội nghị Quốc tế tổ chức vào tháng 11/1987 tại Thái Lan đã giới thiệu công nghệ này với khù vực châu Á -
Thái Bình Dương. Và cũng tại hội nghị này, mạng lưới nông nghiệp thiên nhiên châu Á - Thái Bình
Dương (APNAN - Asia Pacific Nature Agriculture Network) đã được thành lập để kích thích việc nghiên cứu,
thử nghiệm và áp dụng chế phẩm EM.
3. Tham gia giải quyết vấn dề năng lượng, bảo vệ môi trường
3.1. Giải quyết vấn đề năng lượng phục vụ con người
Nguồn năng lượng truyền thống (than đá, thủy điện, dầu khí) ngày một
cạn dần và thậm chí có nơi lại không có nguồn tài nguyên này. Để bổ sung
Sv : PhạmVăn Long 8 Lớp : Lọc Hóa Dầu-K53
CÔNG NGHỆ SINH HỌC

1992 tăng lên đến 1 triệu bể.
Rõ ràng đây là hướng giải quyết tốt nạn khủng hoảng về năng lượng hiện nay.
3.2. Bảo vệ môi trường, tạo cân bằng sinh thái
Đây là vấn đề được quan tâm toàn cầu và là vấn đề sống còn của loài người hiện nay.Công
nghiệp vi sinh đã tích cực tham gia giải quyết một số vấn để thuộc lĩnh vực này nhằm giúp con người đạt
được những thành tựu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sống như lợi dụng thuộc tính quý báu của vi sinh
vật có khả năng đồng hoá nguồn cơchất rất phong phú từ các dạng hydrocarbon đến các dạng cellulose,
caosu và các dẫn xuất của cao su để thực hiện các quá trình xử lí các nguồn nước thải và chất thải. Khi
tiến hành phân giải các loại nước thải,chất thải (qua hoạt động hiếu khí và yếm khí) vi sinh vật đã chuyển
hoá chúng thành những hợp chất có cấu trúc đơn giản dễ phân hủy, và còn tạo được một nguồn sinh khối
giàu protein, khoáng, vitamin Kết quả các quá trình xử lí này góp phần làm môi trường sống trong sạch
hơn,tạo sự cân bằng sinh thái trên hành tinh chúng ta.
4. Trong lĩnh vực thực phẩm
4.1. Bột ngọt
Monosodium còn được gọi là glutamat natri và MSG, là một loại muối natri của
axit amin không thay thế - axit glutamic. Nó được xem như là một chất phụ gia thực
Sv : PhạmVăn Long 9 Lớp : Lọc Hóa Dầu-K53
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
phẩm và được dùng phổ biến để tăng mùi vị thực phẩm. MSG được sản xuất bởi quá
trình lên men nguồn carbohydrat. Những loài vi khuẩn được sử dụng là
Brevibacterium, Arthrobacter, Microbacterium và Corynebacterium. Phương pháp này
có thể sản xuất với năng suất 100g/l. Từ 1909 cho đến giữa những năm 1960, MSG
được sản xuất bởi sự thủy phân gluten của lúa mì, trong đó chứa khoảng 25% a.
glutamic. A. glutamic là một trong những aa hòa tan hoàn toàn, vì vậy quá trình tinh
sạch nó cũng rất dễ dàng.
Rỉ đường ← nguyên liệu đường

Môi trường lên men ← bổ sung dinh dưỡng

Thanh trùng → để nguội khoảng 30-50

CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Ta sẽ đi tìm hiểu công nghệ sản xuất sinh khối men bánh mì để thấy được
vai trò của công nghiệp vi sinh .
* Vai trò của sinh khối nấm men :
Trong công nghệ sản xuất bánh mì, giai đoạn lên men bột mì đóng vai trò quyết
định đến chất lượng bánh mì. Quá trình lên men được thực hiện bởi nấm men.
Khi đó nấm men chuyển hóa đường có trong bột mì thành cồn và CO2 theo
phương trình phản ứng sau:
C6H12O6 Nấm men → 2C2H5OH + 2CO2
Chính CO2 là tác nhân làm bánh mì nở. Khi CO2 được tạo thành sẽ bị giữ lại
trong mạng gluten. Gluten trong bột mì là loại protein rất đặc biệt, chúng có tính chất
đàn hồi và tạo mạng. Các protein khác không có đặc tính này. Khi nướng bánh mì ở
nhiệt độ cao, CO2 sẽ tăng thể tích, mạng gluten sẽ căng ra và tạo thành những túi chứa
CO2. Khi nhiệt độ cao hơn, CO2 sẽ thoát ra khỏi túi chứa đó và tạo ra những lỗ xốp
trong bánh, kết quả là bánh có độ xốp. Khả năng lên men càng mạnh thì độ xốp của
bánh càng nhiều và bánh càng nở, thể tích bánh càng tăng. Tuy nhiên, không phải thể
tích bánh lớn quyết định đến chất lượng bánh mì. Mức độ tăng thể tích của bánh mì
chỉ nói lên khả năng lên men bột mì của nấm men. Các nước sản xuát bánh mì có yêu
cầu mức tăng thể tích khác nhau. Điều này phụ thuộc vào thói quen khi sử dụng bánh
mì.
Trong sản xuất bánh mì hiện nay ở các nước châu Âu, người ta sử dụng 3 dạng
nấm men để làm nở bánh:
– Dạng nấm men lỏng.
– Dạng nấm men nhão (paste).
– Dạng nấm men khô.
I. Nguyên liệu trong sản xuất nấm men bánh mì
1. Nước
Nước được coi là nguyên liệu chính trong sản xuất vì đây là công nghệ lên men
chìm hiếu khí. Nước sử dụng trong sản xuất nấm men bánh mỳ là nước sử dụng trong
sinh hoạt hằng ngày. Trong trường hợp sử dụng nước giếng hoặc nước bề mặt khác,

vào sinh khối nấm men và tạo cho nấm men có màu vàng sẫm. Màu này không phải
màu tự nhiên của nấm men và việc tách màu ra khỏi sinh khối rất tốn kém và khó
khăn. Các chất màu này bao gồm các hợp chất caramen, phức chất của phenol – Fe
+2
,
Melanoidin, Melanin.
- Hàm lượng đường khá cao, nên khi tiến hành lên men phải pha loãng tới
nồng độ thích hợp cho sự phát triển của nấm men.
- Hệ keo trong rỉ đường có ảnh hưởng xấu đến quá trình lên men. Hệ keo
trong rỉ đường hình thành bởi protein và pectin. Hệ keo này tạo ra độ nhớt cao
làm giảm khả năng hoà tan của oxy, làm cản trở quá trình trao đổi chất của tế bào nấm
men. Nếu hệ keo không được phá sẽ gây thoái hoá tế bào, dẫn đến hiệu suất thu nhận
sinh khối nấm men thấp.
- Rỉ đường là chất dinh dưỡng khá lý tưởng nên rất dễ bị nhiễm vi sinh vật lạ.
Do đó chất lượng của rỉ đường cũng dễ bị thay đổi theo thời gian bảo quản.
Ngoài ra, người ta còn sử dụng bột khoai mỳ, bột ngô, gạo đã nấu,… để làm
nguồn thức ăn cung cấp hydratcacbon cho nấm men.
Sv : PhạmVăn Long 12 Lớp : Lọc Hóa Dầu-K53
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
3. Nguồn phospho và nitơ
Trong sản xuất nấm men bánh mì, người ta thường sử dụng urea như nguồn
nitơ và diamonphotphat (DAP) như nguồn chứa nitơ và phospho. Ngoài ra, có nhiều
hợp chất vô cơ khác của photpho và nitơ có thể dùng để nuôi nấm men như
(NH4)2SO4, NH4OH, H3PO4, Ca(H2PO4)2, nhưng hai nguồn trên được sử dụng
nhiều trong nông nghiệp, dễ mua và rẻ. Lượng DAP sử dụng từ 0,15 – 0,3%.
4. Nguồn Kali và Magie
Trong sản xuất nấm men, người ta dùng K2CO3 và KCl làm nguồn cung cấp
kali và MgSO4.7H2O, hay MgCl2 làm nguồn cung cấp magie.
5. Không khí
Quá trình lên men tạo sinh khối nấm men là quá trình lên men hiếu khí nên cần

canxi trong rỉ đường < 0.5% thì pha loãng 1:1, nếu là 0.6% thì pha loãng 1:2, hơn 1%
thì pha loãng 1:4.
2. Nuôi cấy men giống
Ở nước ngoài, để sản xuất men thương phẩm,thường dùng men mẹ lớn, bảo
quản dưới dạng men sữa, có hàm lượng từ 300-700g/l. Giai đọan nuôi men mẹ thường
tiến hành trong điều kiện vô trùng, hệ thống nuôi nấm men kín, nguyên liệu được khử
trùng hoặc triệt để trong nồi hấp áp suất hoặc ở 100 0C trong 60phút. Chẳng hạn ở
Anh, Hunggari, Ti ệp Khắc người ta nuôi nấm men mẹ trong phòng thí nghiệm gồm 3
giai đoạn. Ở Thụy Điển, Liên Xô: 4 giai đọan, Ý: 5 giai đọan và giai đọan cuối sản
xuất men mẹ trong phân x ưởng giống sạch. Thời gian sản xuất thay đổi từ 3-6 ngày.
Trong qui trình sản xuất men mẹ, ở các nước này thường dùng môi trường tổng hợp,
nhất là các giai đọan trong phòng thí nghiệm như: nước mạch nha, cà chua, cà rốt, dịch
tự phân của nấm men, đ ường glucose, maltose làm nguồn cacbon và nitơ, vitamin cho
nấm men. Giai đọan sản xuất men mẹ trong phân xưởng giống sạch tuy không vô tr
ùng triệt để, nhưng nguyên liệu, nước đều được hoặc khử trùng ở 100oC trong 60
phút, hoặc được xử lý hypocloric.
Ở nước ta, hầu như chỉ có giai đọan giống gốc, được thực hiện trong phòng thí
nghiệm, các giai đọan nhân giống tiếp theo đều thực hiện trong điệu kiện vô trùng
tương đối, hệ thống nuôi men từ giai đọan 4 trở đi l à hệ thống hở, và môi trường sử
dụng thường không được giàu như các qui trình trên.
Sv : PhạmVăn Long 15 Lớp : Lọc Hóa Dầu-K53
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Nồng độ nguyên liệu được dùng để nuôi men như sau:
- Nguồn hydrat cacbon: tính trên r ỉ đường hoặc rỉ đường có bổ
sung nước mạch nha: 12-15% chất khô.
- Ammônium sunfat: từ 0,1-0,3%.
- Urê: 0,1-0,15%.
- DAP: 0,1% hay acid photphoric 0,06%.
- Magiê sunfat 0,05%.
Ở các cơ sở sản xuất men bánh mì tại thành phố ta không bảo quản men mẹ

động sinh tổng hợp sang quá trình trao đổi chỉ nhằm duy trì những chức năng bình
thường của tế bào. Trong giai đoạn này, có dạng tế bào con, tế bào trẻ vừa mới tạo
chồi, tế bào thành thục. Tỉ số các dạng này khác nhau tùy thuộc quy trình kỹ thuật và
môi trường họat động lúc đầu. Số tế bào thành thục càng cao men thành phẩm càng
giữ được tính chất của nó lâu hơn. Điều kiện lắng tốt nhất là:
- Giảm nhiệt độ đến 270C.
- Giảm lượng không khí 40-60% so với giai đoạn nuôi chính.
- Thời gian lắng từ 1,5-2 giờ.
3. Thu tế bào nấm men, tạo hình, đóng gói
3.1. Ly tâm sau khi men lắng
Dùng bơm bơm dịch men vào máy ly tâm để loại môi trường còn lại. Thời gian
ly tâm càng nhanh càng t ốt (không quá 2giờ). Rửa không làm xấu chất lượng men
nhưng nước rửa phải ở 20C, nếu rửa nước ở nhiệt độ thường làm tăng thời gian ly tâm,
có thể ảnh hưởng lên chất lượng thành phẩm. Trong khi nuôi, nếu có sự cố về kỹ thuật
như nhiệt độ tăng không đủ chất khóang th ì sau khi ly tâm hòa tế bào vào nước lạnh
20C kết hợp với xử lý sau:
- Chlotetracylin-hydroclodrid 5g/m3 trong hơn 30 phút.
- Axit sorbic 1kg/m3 trong 30 phút.
- KH2PO4 (8,5-20kg/m3 ) từ 1-15 phút.
Những chất này 1 phần hạn chế sự phát triển của vi sinh vật gây nhiễm, đồng
thời có tác dụng “dương” trên họat tính sinh sản của men.
3.2. Lọc ép quạt khô
Ly tâm xong, thu lấy nấm men cho vào máy lọc ép trước khi đóng gói. Nấm
men được giữ lại trong lớp vải lọc và dịch môi trường sẽ thấm ra ngoài. Tốc độ và độ
lọc hữu hiệu phụ thuộc vào lực tác dụng và sự đối kháng của môi trường. Nếu lọc ép
hữu hiệu, sau giai đoạn này sẽ nhận được dạng men ép (thuờng gọi là men pát) chứa
khỏang 75% độ ẩm có thể đóng gói, không qua giai đọan quạt khô. Trường họp lọc ép
không hữu hiệu, có thể dung quạt gió để xử lý tiếp từ nửa giờ đến 1giờ.
3.3. Tạo hình, đóng gói men ép
Ở các nước, giai đọan này được thực hiên bằng máy, và có bổ sung dầu thực vật

Sv : PhạmVăn Long 19 Lớp : Lọc Hóa Dầu-K53
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
TÀI LIÊU THAM KHẢO
1. Bài giảng Công nghệ sinh học đại cương – Ts Tống Thị Thanh Hương .
2. Giáo trình điện tử Vi sinh vật học công nghiệp – Biền Văn Minh ( chủ biên ) .
3. Giáo trình Công nghệ vi sinh – Trần Thị Thanh .
……
Sv : PhạmVăn Long 20 Lớp : Lọc Hóa Dầu-K53


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status