469 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy và đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam - Pdf 25


Bộ khoa học & công nghệ UBND thành phố Hà Nội
Viện nghiên cứu phát triển kinh tế- x hội Hà Nội

báo cáo tổng hợpĐề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp Nhà nớc
(Mã số: ĐTĐL 2004/15) Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến
t duy và đời sống kinh tế - x hội ở Việt Nam Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Tô Xuân Dân
Phó chủ nhiệm thờng trực đề tài: TS. Nguyễn Thành Công

5775

12. TS. Nguyễn Minh Phong, Viện nghiên cứu phát triển kinh tế xã
hội Hà Nội.
13. GS Phạm Đức Dơng, Nguyên Viện trởng Viện nghiên cứu Đông
Nam á.
14. PGS.TS Mai Quỳnh Nam, Viện Xã hội học
15. ThS. Nguyễn Thị Minh Tâm, Bộ Kế hoạch và đầu t Danh mục những chữ Viết tắt

AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
AIA: Khu vực đầu t ASEAN
APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng
ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
ASEM: Hội nghị thợng đỉnh á - Âu
BTA: Hiệp định thơng mại Mỹ- Việt
CNH : Công nghiệp hoá
CNTB: Chủ nghĩa t bản
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
DNNN: Doanh nghiệp Nhà nớc
EU: Liên minh Châu Âu
FDI: Đầu t nớc ngoài
FTA: Khu vực mậu dịch tự do
GATT: Hiệp định chung về thuế quan và thơng mại
GDĐT: Giáo dục đào tạo
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GQVL: Giải quyết việc làm
HĐH: Hiện đại hoá
HNKTQT: Hội nhập kinh tế quốc tế
IMF: Quỹ tiền tệ quốc tế

thực hiện tự do hoá thơng mại, đầu t cũng nh các yếu tố sản xuất khác nh
công nghệ, lao động,... Quá trình HNKTQT gắn liền với quá trình quốc tế hoá
đời sống kinh tế thế giới diễn ra trên hai cấp độ là toàn cầu hoá (TCH) và khu
vực hoá (KVH), tạo nên sự thống nhất ngày càng cao của nền kinh tế thế giới.
Những năm gần đây, tiến trình HNKTQT càng phát triển mạnh và trở thành
một xu thế tất yếu cùng với xu hớng TCH đời sống kinh tế thế giới, thể hiện
ở sự xuất hiện nhiều tổ chức liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu, nh Tổ chức
thơng mại thế giới (WTO), các khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA),
khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) liên minh Châu Âu (EU), Diễn đàn
hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC), Diễn đàn á - Âu
(ASEM)...
Các nhà triết học cổ đại phơng Đông đã khởi thuỷ t tởng có liên quan
đến khía cạnh hội nhập toàn thế giới trên cơ sở đa ra qui luật tuần hoàn của
vũ trụ theo nguyên lý tiến hoá và nguyên lý đại thống nhất tầm vũ trụ. Triết
học Mác-Lê nin đã tiếp thu những thành tựu của triết học Phơng Đông về qui
luật tuần hoàn của vũ trụ, đã "lộn ngợc đầu" phép biện chứng duy tâm của
Hê-ghen để đề ra nguyên lý thống nhất - đa dạng (thống nhất trong đa dạng),
thống nhất hệ thống và đa nguyên nhất thể hoá, coi thế giới là một chỉnh thể
thống nhất trong mâu thuẫn. Vận dụng vào lĩnh vực lịch sử phát triển tiến hoá
của xã hội loài ngời (thuyết tiến hoá xã hội), trong lý thuyết về hình thái
kinh tế xã hội của C.Mác đã dự báo xã hội loài ngời sẽ đi tới xã hội cộng sản
chủ nghĩa tơng lai với các nét đặc trng: đó là một xã hội phi hàng hoá, phi
nhà nớc, phi biên giới quốc gia (gần nh khái niệm thế giới đại đồng của
Khổng Tử). Trong đó, C.Mác đã sử dụng các qui luật mâu thuẫn và thống
nhất, qui luật phủ định của phủ định để chứng minh chủ nghĩa cộng sản là sự
phủ định của chủ nghĩa t bản, là bớc phát triển tất yếu sau khi chủ nghĩa t
bản đã phát triển tới giới hạn khách quan của nó, là sự thay thế chủ nghĩa t
bản trên phạm vi toàn thế giới. Khác với triết học Mác - xít, triết học t sản
hiện đại (sau những năm 50 của thế kỷ XX) đã đề ra t tởng về hội nhập


thế giới và nhất là để tham gia đầy đủ các tổ chức và định chế kinh tế toàn cầu
nh WTO, IMF, WB...
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hội nhập nói chung và tác
động của hội nhập đến đời sống kinh tế - xã hội và nhận thức, t
duy của con
ngời trong một quốc gia nói riêng đợc thực hiện bởi các tổ chức quốc tế, các
quốc gia, các học giả nớc ngoài. Tuy nhiên, vấn đề tác động nhiều mặt của
hội nhập đến đời sống kinh tế - xã hội và nhận thức, t duy của con ngời ở

3
mỗi nớc là một vấn đề đặc thù, đợc quy định bởi điều kiện và hoàn cảnh cụ
thể của từng nớc. Vì vậy, vấn đề này vẫn đang đợc tiếp tục quan tâm nghiên
cứu cả về lý luận và thực tiễn và đợc nhiều nớc lu tâm nghiên cứu để giải
đáp các yêu cầu riêng của quốc gia mình trong tiến trình hội nhập và tham gia
vào đời sống kinh tế - xã hội toàn cầu.
Phù hợp với tiến trình đổi mới và đứng trớc những đòi hỏi cấp bách của
tình hình quốc tế và kinh tế trong nớc, khởi nguồn từ Đaị hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI (1986), Đảng ta vạch ra đờng lối đổi mới, thực thi chính sách mở
cửa nền kinh tế trong nớc với nớc ngoài. Tiếp đó, Đại hội Đảng lần thứ VII
(1991) có thể coi nh dấu mốc khởi đầu tiến trình HNKTQT trong giai đoạn
mới của nớc ta với chủ trơng đa phơng hoá, đa dạng hoá quan hệ đối
ngoại. Trong nhiệm kỳ của Đại hội VII, Việt Nam đã khai thông quan hệ với
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và gia nhập Hiệp hội các
nớc Đông Nam á (ASEAN). Đaị hội VIII của Đảng (1996) đã quyết định
"đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới" với nhiệm vụ "mở
rộng quan hệ đối ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực,
củng cố và nâng cao vị thế nớc ta trên trờng quốc tế". Đại hội Đảng lần thứ
IX tiếp tục khẳng định rõ chủ trơng "phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh
thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động HNKTQT để phát triển nhanh, có hiệu
qủa và bền vững". Để nêu bật tầm quan trọng và tăng cờng sự chỉ đạo của

trơng HNKTQT của Đảng và Nhà nớc; phân tích bối cảnh quốc tế, xu thế
TCH và tất yếu khách quan phải hội nhập trong điều kiện hiện nay; bản chất,
nội dung và các bớc đi cần thiết để HNKTQT; định hớng và các giải pháp
nhằm chủ động HNKTQT trong từng giai đoạn phát triển; nhận diện những cơ
hội và thách thức đối với Việt Nam trong tiến trình HNKTQT; tác động của
HNKTQT đến các chính sách thuế, thơng mại, đầu t của Việt Nam và yêu
cầu đổi mới các chính sách này cho phù hợp với tiến trình HNKTQT của nớc
ta; các chính sách và giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy các hoạt động xuất nhập
khẩu, thu hút đầu t nớc ngoài; chính sách và giải pháp nâng cao năng lực
cạnh tranh của quốc gia, của các doanh nghiệp và sản phẩm hàng hoá Việt
Nam trong quá trình HNKTQT; tăng cờng an ninh quốc gia, củng cố quốc
phòng trong điều kiện và bối cảnh quốc tế hiện nay; đổi mới các chính sách xã
hội thích ứng với yêu cầu và điều kiện của quá trình HNKTQT.
Tuy vậy, hiện nay cha có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một
cách chỉnh thể và toàn diện về tác động của quá trình HNKTQT đến t duy và
đời sống kinh tế xã hội ở nớc ta. Vì vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tài
Tác động của HNKTQT đến t duy và đời sống kinh tế - x hội ở Việt
Nam có ý nghĩa hết sức cấp bách và cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Kết
quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo điều kiện giúp các nhà quản lý, các nhà lập
chính sách, các doanh nghiệp và quần chúng nhân dân có cái nhìn toàn diện
hơn, cụ thể hơn về thực trạng tiến trình HNKTQT của nớc ta, về những yêu
cầu đặt ra đối với đời sống kinh tế - xã hội và quá trình vận động và phát triển
t duy nhận thức của xã hội về HNKTQT trong những năm tới.
Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về HNKTQT và tác động của nó
đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội toàn cầu. Nghiên cứu một số bài học

1
Xem danh mục tài liệu tham khảo đã dẫn


- Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số ph
ơng pháp nghiên cứu chuyên
ngành khác: phơng pháp chuyên gia, phân tích kết quả nghiên cứu của
chuyên gia trong nớc và nớc ngoài nghiên cứu về Việt Nam; tổ chức các hội
thảo chuyên đề; kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan. 6
Đối tợng nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn ở cấp quốc gia
và quốc tế về HNKTQT và những tác động của HNKTQT đến t duy (t duy
chính trị, t duy kinh tế, t duy về các lĩnh vực xã hội) của các nhà lãnh đạo,
nhà quản lý, doanh nghiệp, cộng đồng và đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam
(các vấn đề về tăng trởng kinh tế, thu nhập, cơ cấu kinh tế, kết quả hoạt động
của các ngành và lĩnh vực...); Các giải pháp tổng thể, đồng bộ nhằm đổi mới
t duy và phát triển kinh tế - xã hội, tiếp tục đẩy mạnh quá trình chủ động
HNKTQT của Việt Nam .
Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Trọng tâm nội dung nghiên cứu của đề tài là đánh giá thực trạng tác động
của quá trình HNKTQT đến t duy và đời sống kinh tế xã hội của Việt Nam
từ khi đổi mới đến nay, đặc biệt là 5 năm gần đây (đồng thời, ở một mức độ
nhất định đề tài sẽ có đề cập đến một số tác động ngợc lại của sự đổi mới t
duy, thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đến quá trình chủ
động HNKTQT của nớc ta); dự báo những tác động (tích cực và tiêu cực) của
HNKTQT đến t duy (t duy lãnh đạo, t duy quản lý Nhà nớc, quản trị kinh
doanh và công chúng) và các lĩnh vực hoạt động kinh tế, các lĩnh vực xã hội
nhân văn; đề xuất các giải pháp tổng thể, có tính đồng bộ và khả thi nhằm tiếp
tục đổi mới t duy của toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng
cao tính chủ động và hiệu quả HNKTQT của nớc ta trong thời kỳ tới (giai
đoạn đến năm 2010, trong tầm nhìn 2020).

Trên thế giới, từ nhiều góc độ khác nhau, có các quan niệm khác nhau về
TCH, nhng phổ biến là quan niệm cho rằng TCH trớc hết là một hiện tợng
kinh tế bao hàm sự gia tăng mức độ tuỳ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt của đời
sống kinh tế - xã hội giữa các quốc gia.
Tổ chức Thơng mại và phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD) cho
rằng: "TCH liên quan đến các luồng giao lu không ngừng tăng lên của hàng
hoá và nguồn lực vợt qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành
các cấu trúc tổ chức trên phạm vi toàn cầu nhằm quản lý các hoạt động và
giao dịch kinh tế quốc tế không ngừng tăng lên đó". Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
cho rằng: "TCH là sự gia tăng của quy mô và hình thức giao dịch hàng hoá,
dịch vụ xuyên quốc gia, sự lu thông vốn quốc tế cùng với việc truyền bá rộng
rãi nhanh chóng của kỹ thuật, làm tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau của nền
kinh tế của các nớc trên thế giới". Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) thì
quan niệm TCH là sự tuỳ thuộc lẫn nhau trên nhiều mặt vì nó bao quát cả lĩnh
vực kinh tế, xã hội, chính trị.

8
Song, dù quan niệm thế nào, TCH kinh tế cũng đợc coi là một quá trình
khách quan, đợc thúc đẩy bởi động lực là các tiến bộ của cách mạng khoa
học công nghệ mới, đặc biệt là sự phát triển vũ bão của công nghệ thông tin.
Nói một cách khái quát hơn, sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất là
tất yếu kinh tế của quá trình TCH
1
.
TCH đợc biểu hiện trên nhiều cấp độ. Một trong những cấp độ đó là khu
vực hoá. KVH kinh tế là quá trình liên kết kinh tế và sản xuất kinh doanh giữa
các quốc gia, lãnh thổ trong một khu vực địa lý nhất định (nh các liên kết
kinh tế trong khu vực Đông á, Đông Nam á, Mỹ La-tinh, Đông Phi,...). Về
thực chất, KVH kinh tế trong điều kiện TCH là biểu hiện của tiến trình TCH
diễn ra trên một phạm vi địa lý nhất định. Quá trình KVH luôn thể hiện tính

quá trình TCH đang lan rộng ảnh hởng sang nhiều vấn đề phi kinh tế khác.
Ngày nay, có rất nhiều vấn đề toàn cầu đòi hỏi mỗi quốc gia không thể đứng
ngoài mà phải chung sức giải quyết, nhất là các vấn đề về môi trờng sinh
thái, dân số, năng lợng, khủng bố quốc tế, dịch bệnh, phòng chống thiên tai...
TCH có cấu trúc nội tại và các tác động rất phức tạp. Nh trên đã phân
tích, bên cạnh xu thế TCH là xu hớng khu vực hoá và liên kết khu vực đợc
đẩy mạnh. Nói cách khác, chúng ta sẽ đi tới nền kinh tế toàn cầu thông qua
các liên kết khu vực. Trên khắp các đại lục đã và đang hình thành những khối
kinh tế và các cơ cấu thơng mại vùng nh EC, ASEAN, NAFTA; các hiệp
định thơng mại đa phơng đợc ký kết nh AFTA, NAFTA,... Hai quá trình
song song TCH và KVH gắn bó và bổ sung cho nhau đang đem lại cho hành
tinh một không gian kinh tế thống nhất. Các quá trình này tất yếu chi phối đời
sống kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Những tác động cụ thể của TCH và
HNKTQT sẽ đợc nghiên cứu sâu hơn ở những phần dới, nhng trớc hết
phải nhận thức đó là những tác động nhiều chiều và phức tạp. Thông qua
những tác động cả trực tiếp và gián tiếp, TCH đang mở ra cơ hội cũng nh
thách thức đối với mọi nớc, nhất là các nớc đang phát triển. Một mặt, TCH
thúc đẩy xã hội hoá sản xuất trên quy mô hành tinh, truyền bá các thành tựu
phát triển, làm xích lại gần nhau giữa các nền kinh tế, thúc đẩy cải cách sâu
rộng nền kinh tế mỗi quốc gia, tạo ra khả năng phát triển rút ngắn và thu hẹp
khoảng cách tụt hậu. Đồng thời, TCH cũng làm tăng thêm sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các nền kinh tế, làm yếu đi nhiều khía cạnh của chủ quyền quốc
gia, đặc điểm dân tộc và khoét sâu thêm các mâu thuẫn trong quá trình phát
triển của thế giới.
* Hội nhập kinh tế quốc tế:
Thuật ngữ hội nhập - Intergration - xuất hiện ở các nớc ph
ơng Tây từ
những năm 1950, và đợc sử dụng phổ biến trong những thập niên 1960,
1970. Theo các từ điển tiếng Anh, Intergration bao hàm các nghĩa: liên kết,
nhất thể hoá, hợp nhất, hoà nhập, hội nhập. Sự khác nhau là do cách cấu tạo

tuý trong xã hội.
Nh vậy, cách tiếp cận thứ nhất có nhiều hạn chế: không đặt hiện tợng
liên kết trong quá trình phát triển, hơn nữa không phải bất cứ sự liên kết nào
cũng đều dẫn đến hình thành nhà n
ớc liên bang; cách tiếp cận thứ hai có u
điểm là gần với thực tiễn của những vấn đề TCH, KVH và HNKTQT hiện nay,
nhìn nhận sự liên kết cả trong trạng thái động và trạng thái tĩnh. Cách tiếp cận

11
thứ ba quan tâm tới góc độ quốc gia, góp phần bổ sung cho phân tích và giải
thích quá trình liên kết một cách đầy đủ.
ở nớc ta, thuật ngữ hội nhập xuất hiện trong bối cảnh chúng ta xúc tiến
mạnh mẽ chính sách đa phơng hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế. Thuật ngữ
hội nhập đợc Đảng ta sử dụng đầu tiên trong Văn kiện ĐH VIII (1996): "Xây
dựng nền kinh tế mở hội nhập với khu vực và thế giới"
2
; đợc nhấn mạnh và sử
dụng phổ biến từ ĐH IX: "Chủ động HNKTQT và khu vực theo tinh thần phát
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ
và định hớng xã hội chủ nghĩa"
3
và trong các văn kiện khác về HNKTQT.
Chúng tôi cho rằng, khi xem xét nội hàm của khái niệm HNKTQT phải
đặt trong bối cảnh TCH kinh tế. Trong điều kiện TCH kinh tế ngày nay,
HNKTQT là quá trình tham gia của các chủ thể kinh tế ở mỗi quốc gia và cả
quốc gia đó vào dòng chảy chung của đời sống kinh tế thế giới. Đó là một quá
trình tự nhiên, có tính quy luật, bởi TCH là một xu thế khách quan, một tất
yếu kinh tế đợc thúc đẩy bởi sự phát triển mạnh mẽ của lực lợng sản xuất.
HNKTQT là hoạt động tự giác trên cơ sở nhận thức xu thế TCH khách quan.
Trên cơ sở nhận thức nh vậy, trong Đề tài này chúng tôi quan niệm

nên hội nhập kinh tế của một quốc gia chính là hội nhập vào thể chế KTTT
toàn cầu. Theo nghĩa đó, đối với Việt Nam, xây dựng thể chế KTTT định
hớng xã hội chủ nghĩa cũng chính là một nội dung để hội nhập với nền kinh
tế thế giới.
* Mối quan hệ giữa TCH với HNKTQT:
Nếu nh TCH đặt ra yêu cầu hình thành một quá trình hớng tới sự thống
nhất toàn cầu về phát triển thì HNKTQT là sự đáp ứng của yêu cầu đó, thể
hiện ở sự bắt kịp và thích ứng của các nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế
toàn cầu đang vận hành theo nguyên tắc tự do hoá, giảm thiểu khác biệt và
không phân biệt đối xử. Nh vậy, không có TCH kinh tế thì cũng sẽ không có
HNKTQT nh một xu hớng phổ biến. Ngợc lại, không có HNKTQT thì
TCH kinh tế chỉ là một khuynh hớng phát triển chung, rộng lớn khó đợc
định lợng, tức là cha xác định đợc các hình thức và mức độ biểu hiện cụ
thể của nó để theo đó, các nớc và khu vực tiếp cận đợc với các cơ hội, thách
thức cụ thể cũng nh để có những bớc phát triển thích ứng với nó. Bởi thế, có
thể khẳng định rằng, TCH và HNKTQT là hai mặt của một quá trình thống
nhất.
Bởi vậy, xem xét tác động của HNKTQT đến t duy và đời sống kinh tế -
xã hội cũng chính là xem xét tác động của TCH kinh tế đến các lĩnh vực này.
Tuy nhiên, tác động của TCH kinh tế là những tác động chung, trớc hết dới
dạng khả năng, đó là những cơ hội và thách thức nh
nhau đợc tạo ra từ quá
trình này đối với các chủ thể kinh tế; còn tác động của HNKTQT là những cơ
hội và thách thức cụ thể cho từng quốc gia, chủ thể kinh tế riêng biệt. Thực tế
việc tham gia vào Hội nhập của mỗi quốc gia lại gắn liền với điều kiện lịch sử
cụ thể của quốc gia đó. Tác động của HNKTQT đối với mỗi nớc chính là
những cái riêng (những cái đợc xác định, những cái cụ thể), là những biểu
hiện của cái chung (biểu hiện sự tác động của quá trình TCH) tác động lên

13

phơng. Ngoài việc có một khung chính sách thông thoáng, một thị trờng
trong nớc cũng nh thị trờng bên ngoài rộng rãi, một khu vực t nhân
mạnh... các quốc gia đang phát triển cũng phải có năng lực để hấp thụ và sử
dụng các khoản vốn đầu t với hiệu quả cao. Mở cửa cho luồng vốn đầu t
nớc ngoài vào nền kinh tế cũng đồng nghĩa với việc một yếu tố đầu vào quan
trọng của nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào các nền kinh tế khác và sẽ chịu tác

14
động bởi những biến động của nền kinh tế toàn cầu. Điều này đã đợc minh
chứng bằng tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ Châu á năm
1997 đối với một số nền kinh tế khu vực, trong đó có Việt Nam.
Thứ ba, hội nhập với lực lợng lao động toàn cầu. Trong nền kinh tế hiện
đại nhu cầu về lực lợng lao động có tri thức, kỹ năng sẽ tăng lên, trong khi đó
nhu cầu về lao động giản đơn sẽ dần thu hẹp. Điều này cũng có nghĩa là lợi thế
về chi phí lao động thấp của các nớc đang phát triển cũng dần bị mất đi.
Ngoài ra, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, phơng thức huy động và sử
dụng nguồn lực có những bớc tiến mới, chẳng hạn việc sử dụng lao động và
quản lý sản xuất qua mạng điện tử. Điều này làm cho các nớc đang phát triển,
vốn đã bất lợi trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, sẽ trở nên bất lợi cả trong
lĩnh vực xây dựng, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực của mình. Để hội nhập
đợc với lực lợng lao động toàn cầu, cũng nh để chuẩn bị lực lợng cho nền
kinh tế tri thức, rõ ràng một chiến lợc giáo dục, phát triển nghiên cứu khoa
học là điều kiện tiên quyết với các quốc gia đang phát triển.
Thứ t, hội nhập với các tiêu chuẩn toàn cầu liên quan tới hoạt động
kinh tế, hội nhập với hệ thống pháp luật toàn cầu. Một nội dung quan trọng
nữa của quá trình hội nhập là tất cả các quốc gia phải điều chỉnh, bổ sung hệ
thống pháp luật, các quy định pháp lý cho phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc
điều chỉnh bổ sung này diễn ra trong mọi lĩnh vực, từ các quy định liên quan
đến đầu t, thơng mại, ngân hàng,... đến các tiêu chuẩn về môi trờng, lao
động, bảo vệ bản quyền, chuyển giao công nghệ,... Đây cũng là một trong

Hội nhập đơn phơng: tự mỗi nớc nỗ lực cải cách một cách tự nguyện
các điều kiện bên trong của quốc gia mình cho phù hợp với các tiêu chuẩn và
thông lệ quốc tế, cũng nh các quy định của các tổ chức khu vực và toàn cầu.
Hội nhập song phơng: hai nớc ký kết các hiệp định song phơng theo
nguyên tắc của một khu vực mậu dịch tự do, song hành với các khu vực mậu
dịch tự do đa phơng.
Hội nhập đa phơng: nhiều nớc tham gia vào các định chế quốc tế,
hình thành các tổ chức khu vực và liên khu vực nh Liên minh Châu Âu (EU),
Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dơng (APEC) và các
tổ chức kinh tế tài chính quốc tế nh Tổ chức thơng mại thế giới (WTO),
Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển
Châu á (ADB)
Các tổ chức kinh tế toàn cầu nh WTO, WB, IMF nêu trên đang đóng vai
trò lớn nhất thúc đẩy HNKTQT thông qua việc thiết kế và chi phối các "luật
chơi chung" mang tính toàn cầu, trớc hết là những quy định đối với các dòng
chảy thơng mại và đầu t.
Bên cạnh các tổ chức toàn cầu liên quốc gia đó, các tổ chức kinh doanh
toàn cầu (các công ty xuyên quốc gia) đang rất phát triển và mở rộng nhanh
chóng về quy mô thông qua sáp nhập và bao quát hoạt động trong hầu hết các
lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Các nớc đang phát triển hiện cũng có xu

16
hớng xây dựng cho mình các công ty lớn liên kết với các công ty xuyên quốc
gia nớc ngoài hoặc chính phủ trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp (cả doanh
nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp t nhân) phát triển thành các tập đoàn
kinh doanh lớn. Có thể nói các công ty xuyên quốc gia chính là hình thức
doanh nghiệp cơ bản của nền kinh tế thống nhất toàn cầu trong tơng lai.
Để tham gia các hình thức hội nhập trên, mỗi quốc gia phải tiến hành
thơng lợng, ký kết và tuân thủ các cam kết song phơng và đa phơng ngày

17
thức liên kết khu vực này, chính sách mậu dịch của các nớc thành viên trở
thành một bộ phận chính sách mậu dịch của các nớc trong cộng đồng. ở đây
quá trình nhất thể hoá về thuế quan bắt đầu đợc thực hiện. Khối cộng cồng
chung Châu Âu (EC) trớc đây thuộc dạng này.
Thứ ba, thị trờng chung - là mô hình liên minh thuế quan cộng với việc
tự do lu chuyển các yếu tố sản xuất: vốn, khoa học - công nghệ, lao động,...
Thị trờng chung là một hình thức liên kết kinh tế quốc tế cao hơn so với các
hình thức trên đây. Các nớc tham gia thị trờng chung ngoài việc áp dụng
các biện pháp giống nh liên minh thuế quan trong buôn bán quốc tế còn cho
phép vốn và lao động tự do di chuyển giữa các nớc thông qua việc hình thành
một thị trờng thống nhất. Thị trờng chung Châu Âu, chính thức hoạt động từ
ngày 01/01/1993. Ngoài ra còn một số thị trờng chung khác nh
MERCOSUR ở Nam Mỹ, thị trờng chung Châu Phi, thị trờng chung Arập,...
Thứ t, liên minh kinh tế - mô hình ở giai đoạn cao trên cơ sở thị trờng
chung cộng thêm sự phối hợp các chính sách kinh tế, xã hội giữa các thành
viên. Để thực hiện liên minh kinh tế, trớc hết phải thực hiện liên minh tiền tệ.
Tham gia vào liên minh này, các nớc phải phối hợp các chính sách tiền tệ với
nhau và thực thi một chính sách tiền tệ thống nhất trong toàn khối, thống nhất
đồng tiền dự trữ trong khu vực, thống nhất ngân hàng trung ơng khối và
thống nhất các giao dịch tiền tệ và thanh toán quốc tế với các tổ chức tài chính
thế giới. Liên minh tiền tệ Châu Âu là hình thức biểu hiện của loại hình liên
kết này.
Cho đến nay, liên minh kinh tế đang dần dần đợc thực hiện trên thực tế.
Liên minh kinh tế đợc xây dựng trên cơ sở các nớc thành viên thống nhất
thực hiện các chính sách thơng mại, tiền tệ, tài chính và một số chính sách
kinh tế - xã hội chung giữa các thành viên với các luồng vốn, hàng hoá, lao
động và dịch vụ đợc tự do lu thông nh ở thị trờng chung. Các nớc còn
tiến tới thống nhất các chính sách quản lý kinh tế, xã hội, sử dụng chung một
đồng tiền. Hiện nay Liên minh Châu Âu (EU) đang hoạt động theo hớng loại

trên cơ sở có đi có lại. Quá trình đàm phán về cắt giảm thuế quan sẽ đợc tiến
hành thông qua đàm phán song phơng và sau đó sẽ đợc đa phơng hoá theo
các nguyên tắc tối huệ quốc (MFN). Trong trờng hợp đặc biệt, nếu điều chỉnh
thuế suất tăng cao hơn mức trần cam kết thì phải đàm phán lại theo các quy
định của WTO. Tuy nhiên, quá trình đàm phán này thờng rất khó khăn, và các
quốc gia điều chỉnh phải bồi th
ờng cho các nớc thành viên khác hoặc là sẽ bị
trả đũa.
APEC không yêu cầu đa ra các cam kết chặt chẽ nh WTO nhng đặt ra
mục tiêu tự do hoá thơng mại vào 2010 cho các nớc phát triển và 2020 cho
các nớc đang phát triển.
AFTA đòi hỏi việc thực hiện cắt giảm thuế quan theo một chơng trình
chặt chẽ, cụ thể hơn so với WTO và APEC. Mục tiêu chung của AFTA là đạt
đợc mức thuế suất 0 - 5% vào năm 2006 trong khu vực ASEAN. Thêm vào

19
đó AFTA yêu cầu mỗi nớc thành viên phải dành quy chế đối xử thơng mại
bình thờng và đối xử quốc gia cho các nớc thành viên khác, và phải đảm
bảo đợc tính minh bạch của chế độ ngoại thơng.
Các nguyên tắc của WTO đã trở thành cơ sở nền tảng áp dụng chung
trong các tổ chức kinh tế khu vực và trong nội dung của các hiệp định thơng
mại song phơng (FTA) và đa phơng khác, bao gồm 4 nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất, thơng mại không phân biệt đối xử (hàng hoá và dịch vụ):
Các điều khoản cơ bản của WTO (kế thừa của GATT trớc đây) đã xoá
bỏ sự phân biệt đối xử giữa các nớc thành viên và giữa hàng nhập khẩu và
hàng xuất khẩu nội địa.
- Biện pháp thứ nhất là Điều khoản Tối huệ quốc (MFN) (nay gọi là Quy
chế đối xử thơng mại bình thờng). Theo đó, mỗi thành viên phải dành cho
sản phẩm và dịch vụ của một thành viên khác sự đối xử u đãi tơng tự nh u
đãi dành cho sản phẩm hoặc dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác. Các

cho các nhà đầu t.
Thứ ba, nguyên tắc cạnh tranh công bằng:
Nguyên tắc này một phần đợc thể hiện trong các điều khoản MFN và
NT. Ngoài ra, nó còn đợc thể hiện trong các điều khoản quy định về việc
chống phá giá, độc quyền, trợ cấp, bảo hộ bản quyền tác giả và quy định về
mua sắm chính phủ.
Thứ t, khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế:
Nguyên tắc này xuất phát từ mục tiêu là tạo điều kiện cho các quốc gia
đang phát triển và kém phát triển đợc hởng các lợi ích của sự tăng trởng
thơng mại thế giới. WTO kêu gọi các nớc phát triển tạo điều kiện về tiếp
cận thị trờng cho hàng hoá và dịch vụ từ các nớc đang phát triển trên cơ sở
không đòi hỏi các nhợng bộ kinh tế từ các quốc gia này.
I.3. Vai trò của HNKTQT đối với nền kinh tế thế giới trong giai đoạn
hiện nay
* HNKTQT thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng phát huy
lợi thế so sánh, góp phần phát triển kinh tế thế giới và nền kinh tế của từng
quốc gia.
Cơ cấu kinh tế xét tổng thể bao gồm: cơ cấu kinh tế - kỹ thuật (cơ cấu
ngành kinh tế), cơ cấu kinh tế - xã hội (cơ cấu thành phần kinh tế), cơ cấu
kinh tế vùng - lãnh thổ, cơ cấu thị trờng và tính chất thị trờng của nền kinh
tế. Có thể thấy rằng, sự hội nhập kinh tế của quốc gia có tác động thúc đẩy
việc hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý theo hớng phân công lao động
quốc tế trên cơ sở lợi thế so sánh quốc gia. Đó còn là một cơ cấu kinh tế có
khả năng thích ứng và trụ vững trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt toàn cầu.
Tr
ớc hết, cùng với quá trình phát triển của hội nhập, các ngành sản xuất
hàng xuất khẩu phát triển cả về quy mô, số lợng và chất lợng. Hoạt động
xuất - nhập khẩu hàng hoá đợc mở rộng hơn rất nhiều. Cùng với thơng mại

21

phát triển. Nền kinh tế thế giới hiện nay phản ánh qua xu h
ớng của đầu t
quốc tế cho thấy, sức hấp dẫn của nguồn lao động dồi dào ở các nớc đang
phát triển đang giảm dần. Quá trình TCH đang tạo ra nguy cơ phân hoá, làm
sâu sắc hơn sự cách biệt trình độ giữa các nớc, qua đó tác động mạnh mẽ đến
phân công lao động và chuyên môn hoá: các nớc phát triển thực hiện chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status