1
BÀI TẬP NHÓM 12
Lớp K50 – Đại học Tài Chính – Ngân hàng
Đại học Tây Bắc – Thành phố Sơn La
Giảng viên hướng dẫn : T.S Đỗ Thị Kim Hoa
Trình bày khái quát tỷ giá và tác động của
chính sách tỷ giá đối với cán cân thương
mại ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012.
Danh sách thành viên nhóm 12
1. Nguyễn Thị Minh Thúy
2. Trịnh Hoài Thương
3. Phạm Thị Xuyến
4. Phan Thị Thảo
5. Nguyễn Đức Vinh
6. Nguyễn Văn Trung
2 A. Lý thuyết
I. Những vấn đề cơ bản về tỷ giá
1. Các khái niệm
1.1. Tỷ giá ( Exchange Rate ) là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua
đồng tiền khác.
Ví dụ: 1 USD = 20.820 VND
e
ij
.w
j
Thực chất tỷ giá NEER không phải là tỷ giá mà là chỉ số. Nếu NEER tăng thì
VND được coi là giảm giá so với các đồng tiền còn lại; ngược lại nếu NEER giảm thì
VND được coi là lên giá so với các đồng tiền còn lại.
Vì tỷ giá danh nghĩa chưa đề cập đến tương quan sức mua giữa hai đồng tiền, do đó,
đối với mỗi quốc gia, khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm không nhất thiết phải đồng
nghĩa với sự tăng lên hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế của quốc gia này. Để
đo sự thay đổi sức cạnh tranh thương mại quốc tế, chúng ta sử dụng khái niệm tỷ giá
thực.
1.5. Tỷ giá thực song phương ( Bilateral Real Exchange Rate) bằng tỷ giá danh
nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ ạm phát giữa trong nước với nước ngoài, do
đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ.
+ tỷ giá thực trạng thái tĩnh ( tại một thời điểm ) :
E
R
= E =
(1)
Trong đó : E
R
– là tỷ giá thực (dạng chỉ số)
E – là tỷ giá danh nghĩa.
P
*
- mức giá cả ở nước ngoài bằng ngoại tệ.
P – mức giá cả ở trong nước bằng nội tệ. (VND)
nhau ở trong nước và ở nước ngoài.
Tỷ lệ định giá cao, thấp của một đồng tiền được xác định :
Ω
=
.
100% Q
F
và Q
D
là số lượng hàng hóa mua được ở nước ngoài và ở trong nước
bằng 1 đơn vị tiền
Ω > 0 :
đồng tiền được định giá thực cao (Real Overvalued)
Ω < 0 :
đồng tiền được định giá thực thấp (Real undervalued)
+
tỷ giá thực trạng thái động :
Theo công thức (1), để tính toán và quan sát được sự vận động của tỷ giá thực thời
điểm này sang thời điểm khác, người ta sử dụng thực dạng động.
5
Tại thời điểm 0, gọi:
- P
0
, P
*
t
/P
0
.
- CPI
0*
t
là chỉ số giá ở nước ngoài tại thời điểm t so với thời điểm 0, nghĩa là:
CPI
0*
t
= P
t
*
/P
0
*
.
- e
0
t
là chỉ số giá danh nghĩa tại thời điểm t so với thời điểm 0, nghĩa là:
e
0
t
= E
t
/E
0
- e
=
.
e
Rt
0
=
e
Rt
0
= e
t
0
.
.
100%
1.6. Tỷ giá thực đa phương (Real Effetive Exchange Rate – REER) bằng tỷ giá
danh nghĩa đã biên đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất
cả các nước còn lại, do đó, nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất
cả các đồng tiền còn lại.
REER là thước đo tổng hợp vị thế cạnh tranh thương mại của một số nước so với tất
cả các nước bạn hàng còn lại. Do đó hiện nay hầu hết các nước đều tính toán và công bố
chỉ tiêu này.
Để tính được REER, ta tiến hành một số bước:
- Bước 1: tính tỷ giá NEER.
- Bước 2: tính chỉ số lạm phát trung bình của tất cả các đồng tiền trong rổ
theo tỷ trọng GDP trong nước
- Bước 3: tính REER theo công thức:
REER
quốc gia là được cải thiện. Nếu tỷ giá thực giảm, điều này nói lên rằng sức cạnh tranh của
quốc gia bị xói mòn.
2. Phân loại tỷ giá
2.1. Căn cứ ngiệp vụ kinh doanh ngoại hối:
Tỷ giá mua vào – Bid Rate: là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào
đồng tiền yết giá.
Tỷ giá bán ra – Ask (or Offer) Rate: là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng
bán ra đồng tiền yết giá.
Tỷ giá cơ sở (giao ngay) – Spot Rate : là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung
cầu trực tiếp trên Forex, được thỏa thuận ngày hôm nay, và việc thanh toán xảy ra
sau hai ngày làm việc tiếp theo.
Tỷ giá phái sinh – Derivative Rate: bao gồm các tỷ giá áp dụng trong các hợp
đồng: kỳ hạn (Forward), Hoán đổi (Swap), Tương lai (Future) và Quyền chọn
(Option). Tỷ giá phái sinh không được hình thành theo quan hệ cũng cầu trực tiếp
trên Forex, mà được hình thành (bắt nguồn) từ các thông số có sẵn trên thị trường
như: tỷ giá giao ngay, mức lãi suất của hai đồng tiền, phí thực hiện hợp đồng Tỷ
8
giá phái sinh thuộc loại tỷ giá có thời hạn, nghĩa là được thỏa thuận ngày hôm nay,
nhưng việc sử dụng thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở nên.
Tỷ giá mở cửa – Opening Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên
trong ngày.
Tỷ giá đóng cửa – Closing Rate: là tỷ giá áp dụng co trường hợp đóng cuối cùng
được giao dịch trong ngày. Thông thường, ngân hàng không công bố tỷ giá của tất
cả các hợp đồng đã được kí kết trong ngày, mà chỉ công bố tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá
đóng cửa là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá trong ngày. Cần chú
ý là tỷ giá đóng cửa hôm nay không nhất thiết phải là tỷ giá mở cửa hôm sau.
Tỷ giá chéo – Crosed Rate: là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền
thứ 3 (còn gọi là đồng tiền trung gian)
3. Các phương pháp yết tỷ giá
3.1. Yết tỷ giá trực tiếp (yết giá ngoại tệ trực tiếp) – Derect Quotation
Giá ngoại tệ được bộc lộ trực tiếp bằng tiền (VND), xét từ giác độ quốc gia,
trong đó:
- Ngoại tệ, với vai trò là hàng hóa (Commodity Currency), là đồng tiền yết
giá, có số đơn vị cố định và bằng 1 đơn vị.
- Nội tệ, với vai trò là tiền tệ (Terms Currency), là đồng tiền định giá, có số
đơn vị thay đổi phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên Forex.
3.2. Yết tỷ giá gián tiếp ( yết giá ngoại tệ gián tiếp) – Inderect Quotation
Giá ngoại tệ chỉ được bộc lộ một cách gián tiếp bằng tiền (VND), để biết được
giá USD trực tiếp, ta sử dụng phép tính:
E(VND/USD) =
Xét từ giác độ quốc gia thì phương pháp yết tỷ giá gián tiếp mà trong đó:
- Nội tệ đóng vai trò là đồng tiền yết giá, có số đơn vị cố định và là bằng 1
đơn vị
- Ngoại tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá, có số đơn vị thay đổi phụ thuộc
vào quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.
10
3.3. Yết tỷ giá trong thực tế
3.3.1. Về đồng tiền yết giá và đồng tiền định giá
Trên thị trường Interbank, các tỷ giá đều được yết với USD, trong đó:
- USD đóng vai trò là đồng tiền yết giá đối với tất cả các đồng tiền khác
(ngoại trừ 5 đồng tiền dưới đây)
- USD đóng vai trò là đồng tiền định giá đối với 5 đồng tiền là: GBP, AUD,
NZD, EUR và SDR
Bằng sơ đồ ta biểu diễn mối quan hệ yết tỷ giá như sau:
Đồng tiền trung gian Các đồng tiền còn lại
11
+ Trực tiếp với các ngoại tệ GBP, AUD, NZD, EUR và SDR.
+ Gián tiếp với tất cả các ngoại tệ còn lại.
3.3.3. Về đồng tiền đứng trước và đứng sau:
- Cách 1: viết là USD/ VND = x, nghĩa là đặt đồng tiền yết giá đứng trước,
còn đồng tiền định giá đứng sau.
- Cách 2: viết là VND/USD = x, nghĩa là đặt đồng tiền định giá đứng trước,
còn đồng tiền yết giá đứng sau.
4. Điểm tỷ giá, cách đọc và cách viết tỷ giá
4.1. Điểm tỷ giá – Points
Điểm tỳ giá là đơn vị (thông thường là đơn vị thạp phân) cuối cùng của tỷ giá
được yết theo thông lệ trong các gia dịch ngoại hối.
Vì tương quan giá trị giữa các đồng tiền là khác nhau, nên các tỷ giá khác nhau có
chữ số thập phân được yết cũng khác nhau.
Ví dụ:
1 EUR = 1,1109 USD 1 điểm có nghĩa là 0,0001 USD
1 USD = 127,62 JPY 1 điểm có nghĩa là 0,01 JPY
Đối với những đồng tiền chính, thông thường được yết giá với 4 chữ số thập phân,
cho nên số thập phân thứ 4 (,0001) gọi là điểm tỷ giá của đồng tiền này.
Trong thực tế, nếu không có thỏa thuận nào khác, người ta thực hiện theo quy tắc
sau: Số chữ số thập phân (sau dấu phẩy) của tỷ giá nghịch đảo bằng số chữ số trước dấu
phẩy của tỷ giá thuận cộng với 3.
Ví dụ: Với tỷ giá ban đầu E(VND/USD) = 13998, ta thấy rằng, tỷ giá ban đầu có 5
chữ số trước dấu phẩy, do đó tỷ giá đối ứng sẽ được yết với ( 5 + 3 ) = 8 chữ số thập phân
như sau: E(USD/VND) = 0,00007144.
4.2. Cách đọc và cách viết tỷ giá:
Khi đọc một tỷ giá, ta chia tỷ giá thành nhiều cụm để đọc, hai chữ số cuối đọc là điểm
(Points), hai chữ số tiếp theo đọc là số (feagurs).
5.2. Chênh lệch tỷ giá mua và tỷ giá bán
Chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán gọi là Spread. Để có được thu nhập từ hoạt
động mua bán ngoại hối, ngân hàng yết tỷ giá sao cho tỷ giá mua vào là thấp hơn tỷ giá
bán ra.
Ví dụ: E(VND/USD) = 15.550 – 15.560
Spread được tính theo hai cách như sau:
- Tính theo điểm tỷ giá (số tuyệt đối):
Spread = 15.560 – 15.550 = 10 VND, tức 10 điểm
Điều này có nghĩa là: nếu ngân hàng yết giá đồng thời vừa mua vừa bán 1
USD thì lãi sẽ là 10 điểm, tức 10 VND.
- Tính theo tỷ lệ % (số tương đối):
Spread =
.
100%
Spread =
.
100% = 0,0643%
Spread không phải là một tỷ lệ cố định cho tất cả các giao dịch và cho tất cả các
đồng tiền, mà phụ thuộc vào:
- Số lượng ngoại tệ trong giao dịch: số lượng giao dịch lớn thì spread càng
nhỏ.
- Tầm cỡ cũng như sự nổi tiếng của trung tâm tài chính thì spread sẽ càng
nhỏ.
14
- Tính chất ổn định hoặc không ổn định của các đồng tiền tham gia giao dịch:
các đồng tiền có giá trị ổn định thì được giao dịch với spread nhỏ hơn so
với đồng tiền không ổn định.
- Tỷ trọng của đồng tiền trong giao dịch: những đồng tiền được giao dịch
Đầu cơ và kinh doanh chênh lệch tỷ giá
Phân biệt hành vi đầu cơ tỷ giá (Speculations) và kinh doanh chênh lệch tỷ giá (
Arbitrage)
Tiêu chí
Hành vi đầu cơ tỷ giá
(Speculations)
Kinh doanh chênh lệch giá
(Arbitrage)
Thời gian
Mua và bán x
ảy ra tại hai thời điểm khác
nhau
Mua và bán xảy ra đồng thời
Vốn kinh doanh Phải bỏ vốn Không cần bỏ vốn
Trạng thái ngoại hối Tạo ra trạng thái ngoại hối mở Không tạo ra trạng thái ngoại hối
Rủi ro tỷ giá Chịu rủi ro tỷ giá Không chịu rủi ri tỷ giá
Cơ sở kinh doanh
Phán đoán th
ị tr
ư
ờng v
à s
ẵn s
àng ch
ịu
rủi ro
tỷ giá tăng), làm cho giá hàng hóa nhập khẩu (bao gồm hàng tiêu dùng và
nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị cho sản xuất trong nước) tính bằng nội tệ
tăng. Giá hàng hóa nhập khẩu tăng làm cho mặt bằng giá cả chung của nền
kinh tế tăng, tức gây lạm phát. Tỷ giá tăng càng mạnh và tỷ trọng hàng hóa
nhập khẩu càng lớn thỳ tỷ lệ làm phát càng cao. Điều này được thể hiệ qua
công thức:
P = . P
D
+ (1 – ) . E .
Trong đó:
– là tỷ trọng hành hóa sản xuất trog nước.
− ) – là tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu.
P
D
– là mức hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ.
-
là mức giá cả hàng hóa nhập khẩu tính bằng ngoại tệ
là tỷ giá (số đơn vị nội tệ trên 1 đơn vị ngoại tệ).
17 mức giá cả hàng hóa chung của nền kinh tế
Ngược lại, khi nâng giá nội tệ (tức tỷ giá giảm), làm cho giá hàng hóa nhập
khẩu tính bằng nội tệ giảm, tạo áp lực giảm lạm phát.
Qua phân tích cho thấy, chính sách tỷ giá có tể được sử dụng như một công cụ hữu
hiệu nhằm đạt mục tiêu ổn định giá cả. Với các yếu tố khác không đổi, muốn kiềm chế
lạm phát gia tăng, NHTW có thể sử dụng chính sách nâng giá nội tệ (tức tác động làm
cho tỷ giá giảm); muốn kích thích lạm phát gia tăng, NHTW có thể sử dụng chính sách
+ với chính sách tỷ giá cân bằng (epuilibrium) sẽ có tác dụng làm
cân bằng XK và NK, giúp cán cân vãng lai tự động cân bằng.
Qua phân tích trên, tỷ giá là một biến số kinh tế, tác động nên hầu hết các mặt hoạt
động của nền kinh tế, nhưng hiệu quả ảnh hưởng của tỷ giá lên hoạt động khác nhau là rất
khác nhau.
2.
Các công cụ của chính sách tỷ giá
2.1. Nhóm công cụ tác động trực tiếp lên tỷ giá
Thông thường, đó là hoạt động của NHTW trên thị trường ngoại hối thong qua
việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định (trong chế độ tỷ giá cố định)
hay ảnh hưởng làm cho. Tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mục tiêu đề ra
(trong chế độ tỷ giá thả nổi)
Để tiến hành can thiệp, buộc NHTW phải có một lượng dự trữ ngoại hối đủ mạnh.
Ngoài ra, NHTW thường sử dụng thêm một nghiệp vụ thì trường mở để hấp thụ lượng dư
cung hay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ trong lưu thông. Do có những hạn chế nhất định,
nên các NHTW của các nước phát triển đã dần dần chuyển từ can thiệp trực tiếp sang can
thiệp gián tiếp mà chủ yếu thông quan công cụ lãi suất tái chiết khấu.
Ngoài ra, thuộc nhóm công cụ trực tiếp còn phải kể đến các biện pháp can thiệp
hành chính của chính phủ có thể áp dụng là:
- Biện pháp kết nối: là việc chính phủ quy định đối với các thể nhân và pháp
nhân có nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lê nhất định trong một thời hạn
nhất định cho các tổ chức được phép kinh doanh ngoai hối. Mục đích chính
của biện pháp là nhằm tăng cung ngoại tệ tức thời để đáp ứng nhu cầu
ngoại tệ cho thị trường, hạn chế hành vi đầu cơ và giảm áp lực phải phá giá
nội tệ.
19
- Quy định hạn chế đối tượng được mua ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích
sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng mua ngoại tệ, quy định hạn
hoàn toàn tự do theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không
có bất cứ sự can thiệp nào của NHTW. Sự biến đổi tỷ giá là không có giới
hạn và luôn phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung cầu trên thị
trường ngoại hối.
Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn không có sự can thiệp nào của chính phủ
chỉ tồn tại về mặt lý thuyết. Trên thực tế, sự can thiệp của Chính phủ là tùy
ý và không đặt ra bất cứ mục tiêu bắt buộc cụ thể nào phải đạt được.
- Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết:là chế độ, chỉ tồn tại khi NHTW tiến hành
can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động
trong một vùng nhất định, nhưng NHTW không cam kết duy trì một tỷ giá
cố định hay một biên độ dao động hẹp xunh quanh tỷ giá trung tâm. Chế độ
tỷ giá thả nổi có điều tiết được xem như chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ
giá thả nổi hoàn toàn.
- Chế độ tỷ giá cố định: là chế độ tỷ giá, trong đó NHTW công bố và cam
kết can thiệp để duy trì một mức tỷ giá cố định, gọi là tỷ giá trung tâm (
Central Rate – E
CR
), trong một biên độ hẹp đã được định trước. Như vậy,
NHTW buộc phải mua hay bán ra đồng nội tệ trên thị trường ngoại hối
nhằm duy trì cố định tỷ giá trung tâm và duy trì sự biến động của nó trông
một biên độ hẹp đã định trước. Để tiến hành can thiệp trên thị trường ngoại
hối đòi hỏi NHTW phải có sẵn nguồn dự trữ ngoại hối nhất định.
III. Các nhân tố tác động lên tỷ giá
1. Những nhân tố tác động đến cán cân vãng lai, qua đó tác động
đến xu hướng biến động của tỷ giá dài hạn:
1.1. Cán cân thương mại và dịch vụ
Với các nhân tố khác không đổi, cán cân thương mại và cán cân dịch vụ
chịu ảnh hưởng bởi:
- Tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền: theo lý thuyết ngang giá sức mua,
tỷ giá giữa hai đồng tiền phải biến động để phản áng tương quan lạm phát
là tỷ giá tiêu dùng nước ngoài;
t là thời kỳ ( i = 1, 2, 3, , t)
- Giá thế giới của hàng hóa XNK: nếu giá thế giới của hàng hóa XK tăng
hoặc giá thế giới của hàng hóa NK giảm đều có tác dụng cải thiện các cân
thương mại (tăng cung, giảm cầu ngoại tệ), khiến cho tỷ giá giảm, tức nội tệ
lên giá. Và ngược lại.
- Thu nhập (thực) của người cư trú và người không cư trú: nếu thu nhập của
người cư trú tăng tương đối so với người không cư trú, kích thích tăng nhập
khẩu ròng, làm tăng cầu ngoại tệ, khiến cho tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá.
Và ngược lại.
- Thuế quan và hạn ngạch trong nước: nếu một quốc gia tăng mức thuế quan
hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm giảm cầu ngoại tệ, có
tác dụng làm cho tỷ giá giảm, tức nội tệ lên giá. Và ngược lại. Cần chú ý
là, thuế quan và hạn ngạch tác động lên tỷ giá là cùng chiều, nhưng thuế
quan tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà kinh doanh XNK;
trong khi đó, hạn ngạch tạo ra sự phân biệt đối xử, môi trường cạnh tranh
22
không bình đẳng, là nguyên nhân chính tạo ra khe hở trong quản lý và môi
trường cho tiêu cực.
- Thuế quan và hạn ngạch nước ngoài: nếu phía nước ngoài tăng mức thuế
quan hoặc áp dụng hạn ngạch đối với hàng nhập khẩu, làm giảm cung ngoại
tệ, có tác dụng làm cho tỷ giá tăng, tức nội tệ giảm giá. Và ngược lại.
- Năng suất lao động: nếu năng suất lao động của một nước tăng nhanh hơn
nước khác, làm cho mức giá cả hành hóa của nước này có xu hướng giảm,
có tác dụng làm cho đồng tiền nước này lên giá.
- Tâm lý ưa thích hàng ngoại: chừng nào người dân của một nước còn ưa
thích hàng ngoại hươn hàng nội, sẽ kích thích nhập khẩu, là tăng cầu ngoại
tệ, khiến cho tỷ giá tăng, tức nột tệ giảm giá.
1.2. Cán cân chuyển gia vãng lai một chiều:
Công thức (2) có thể viết lại dưới dạng kỳ vọng như sau (trong đó E
e
là
mức tỷ giá giao ngay dự tính sau một năm):
+
1
Từ phương trình trên cho thấy, với các mức lãi suất nội tệ và ngoại tệ đã cho, thì
vế phải là một hằng số, do đó khi tỷ giá dự tính là tăng trong tương lai, sẽ tạo áp lực tăng
tỷ gái ngay ngày hôm nay. Điều này xảy ra là vì, khi tỷ giá dự tính tăng, tức E
e
tăng,
nghĩa là ngoại tệ (USD) dự tính là lên giá còn nội tệ (VND) dự tính là giảm giá, làm cho
các luồng vốn đầu cơ sẽ chạy khỏi VND để đầu tư vào USD. Dẫn đến cầu USD tăng trên
thị trường giao ngay, làm cho tỷ giá giao ngay hiện hành tăng lên. Như vậy, những dự
tính về tỷ giá giao ngay đã trở thành lực lượng thị trường ảnh hưởng đế sự biến động tỷ
giá ngày hôm nay.
2.3. Những cú sốc về chính trị, kinh tế, xã hội, thiên tai:
Mỗi cú sốc xảy ra, tác động ngay lập tức đến tỷ giá. Các cú sốc xuất hiện với tần
số càng nhanh và với cường độ càng mạnh, làm cho tỷ giá biến động cũng càng nhanh và
càng mạnh.
2.4. Sự can thiệp của NHTW trên FOREX:
Khi NHTW mua ngoại tệ vào, làm tăng cầu ngoại tệ trên FOREX, khiến cho tỷ giá
tăng; ngược lại, khi NHTW bán ngoại tệ, làm tăng cung ngoại tệ trên FOREX, khiến cho
tỷ giá giảm. Các NHTW không thờ ơ trước sự biến động thất thường của tỷ giá, nên đã
thường xuyên can thiệp trên FOREX để tỷ giá biến động có lợi cho nền kinh tế. Tần số và
cường độ can thiệp càng mạnh, càng khiến cho tỷ giá biến động nhanh và mạnh trong
24
ngắn hạn. Hơn nữa, tín hiệu can thiệp của NHTW có tác dụng tâm lý rất mạnh đến các
Đây là chế độ tỷ giá cố định, nhưng định kỳ tỷ giá trung tâm sẽ được điều chỉnh:
- Hoặc theo một tỷ lệ nhất định được thông báo trước.
- Hoặc để phản ánh những thay đổi trong một số chỉ tiêu nhất định đã được
lựa chọn (lạm phát, cán cân thương mại).
6. Chế độ tỷ giá cố định trượt có biên độ (Exchange rates within crawling
bands):
Đây là tỷ giá cố định với các nội dung:
- Tỷ giá được dao động trong một biên độ nhất định xung quanh tỷ giá trung
tâm
- Tỷ giá trung tâm được điều chỉnh định kỳ:
+ Hoặc theo một tỷ lệ nhất định được thông báo trước.
+ Hoặc để phản ánh những thay đổi trong một số chỉ tiêu nhất định đã được
lựa chọn.
7. Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết không thông báo trước (Managed
floating with no preannounced path for exchange rate):
Chính phủ tác động ảnh hưởng lên xu hướng vận động của tỷ giá thông qua hành
động can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối, nhưng không có bất cứ một sự thông
báo trước hay một cam kết nào về hướng và mức độ can thiệp lên tỷ giá là như thế nào.
8. Chế độ tỷ giá thả nổi độc lập (Independent floating):
Đây là chế độ tỷ giá, trong đó, tỷ giá được xác định theo thị trường (chính phủ
không lái xu hướng vận động của tỷ giá). Bất cứ hoạt động can thiệp ngoại hối nào cũng
chỉ nhằm mục đích giảm sự biến động quá mức của tỷ giá, chứ không theo đuổi một
hướng vận động hay một giới hạn cụ thể nào về tỷ giá.
9. Cấu trúc tỷ giá (Exchange rate structure):
Nếu chế độ tỷ giá của một quốc gia chỉ bao gồm 1 tỷ giá, thì gọi là chế độ tỷ giá
đơn (Unitary exchange rate regime); nếu chế độ tỷ giá bao gồm từ hai tỷ giá trở lên, thì
gọi là chế độ đa tỷ giá (Multiple exchange rate regime). Trường hợp, chế độ tỷ giá bao
gồm hai tỷ giá, thì thường được gọi với tên riêng là chế độ tỷ giá kép (Dual exchange