Luận văn Thực trạng thực hiện BHYT toàn dân ở Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011 - Pdf 11

Luận văn
Thực trạng thực hiện
BHYT toàn dân ở Việt
Nam giai đoạn 2008 - 2011
Danh mục từ viết tắt:
BHYT: Bảo hiểm y tế
CSSK: Chăm sóc sức khỏe
UBND: Ủy ban nhân dân
LỜI MỞ ĐẦU
BHYT là một chính sách xã hội quan trọng trong hệ thống các chính
sách an sinh xã hội của nước ta, vì vậy luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm,
được triển khai sâu rộng trên phạm vi cả nước. Với mức đóng góp không cao
nhưng khi không may mắc bệnh, kể cả những bệnh hiểm nghèo, phải chi phí
lớn, người tham gia BHYT sẽ được KCB chu đáo, không phân biệt giàu,
nghèo. Trong những năm qua thì Nhà nước ta đã ban hành và sửa đổi nhiều
chính sách quan trọng về hệ thống BHYT, từ đó đã tạo cơ sở pháp lí cần thiết
cho sự phát triển của ngành BHYT. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt
được thì việc thực hiện lộ trình BHY toàn dân vào năm 2014 đang gặp phải
không ít trở ngại.
Từ thực tế trên cùng với những kiến thức đã được trang bị trong nhà
trường, với sự giúp đỡ tận tình của thầy Phạm Đức Trọng nhóm chúng em đã
chọn đề tài : “Thực trạng thực hiện BHYT toàn dân ở Việt Nam giai đoạn
2008 - 2011”, gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về BHYT
Chương 2: Thực trạng thực hiện BHYT toàn dân ở Việt Nam giai đoạn
2008 – 2011
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện BHYT toàn
dân ở Việt Nam
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHYT
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm về bảo hiểm y tế.

- Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi
quyền lợi của người tham gia BHYT.
- Chi phí KCB BHYT do quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả.
- Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo
đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ.
1.3.2. Lộ trình thực hiện BHYT toàn dân đối với các nhóm đối tượng
(1) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn,
hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp
luật về lao động; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền
lương, tiền công theo quy định của pháp luật về tiền lương, tiền công; cán bộ,
công chức, viên chức theo quy định của pháp luật.
(2) Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật
đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân.
(3) Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.
(4) Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp.
(5) Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng
tháng từ ngân sách nhà nước.
(6) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã
hội hằng tháng.
(7) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp từ ngân sách
nhà nước hằng tháng.
(8) Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
(9) Người có công với cách mạng.
(10) Cựu chiến binh theo quy định của pháp luật về cựu chiến binh.
(11) Người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo quy định
của Chính phủ.
(12) Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm.
(13) Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng theo quy định
của pháp luật.

lương, tiền công; thân nhân cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của
phápluật thực hiện BHYT kể từ ngày 01/01/2014.
(24) Xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể. thực hiện BHYT kể từ ngày
(25) Các đối tượng khác theo quy định của Chính phủ thực hiện BHYT kể từ
ngày 01/01/2014.
1.3.3. Mức đóng BHYT
Từ ngày 1/7/2009 đến ngày 31/12/2009, mức đóng BHYT hằng tháng của các
đối tượng tham gia BHYT là 3% mức tiền lương, tiền công hàng tháng. Kể từ
ngày 1/1/2010, mức đóng BHYT của các đối tượng trên là 4,5% của mức tiền
lương, tiền công, tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động và bằng 3% mức
lương tối thiểu đối với học sinh, sinh viên.
Từ ngày 1/1/2012, người thuộc hộ gia đình làm nông – lâm – ngư - diêm
nghiệp có mức đóng góp bằng 4,5% mức lương tối thiểu.
Từ ngày 1/1/2014, mức đóng BHYT của thân nhân người lao động có hưởng
lương là 3% mức lương tối thiểu; 4,5% mức lương tối thiểu được áp dụng cho
xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ 50% mức đóng cho người thuộc hộ gia đình cận
nghèo từ ngày 1/7/2009. Hỗ trợ tối thiểu bằng 50% mức đóng đối với học sinh,
sinh viên mà thuộc hộ cận nghèo và hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng đối với học
sinh, sinh viên mà không thuộc hộ cận nghèo, chính sách này được thực hiện từ
ngày 1/1/2010.
Người thuộc hộ gia đình làm nông - lâm - ngư - diêm nghiệp có mức sống
trung bình được nhà nước hỗ trợ tối thiểu bằng 30% mức đóng BHYT từ ngày
1/1/2012.
Người thuộc hộ gia đình cận nghèo và người thuộc hộ gia đình làm nông - lâm
- ngư - diêm nghiệp có từ 2 thân nhân trở lên tham gia BHYT thì người thứ
nhất đóng bằng mức quy định; người thứ 2, 3, 4 đóng lần lượt bằng 90%, 80%,
70% mức đóng của người thứ nhất, từ người thứ 5 trở đi đóng bằng 60% mức
đóng của người thứ nhất.
Từ ngày 1/7/2009, học sinh, sinh viên đóng 60.000 đồng/người (khu vực thành

Giới hạn đối
với dịch vụ y
tế kĩ thuật cao
(2), (9), (17) 100% Thấp hơn
hoặc bằng
mức 40 lần
tiền lương tối
thiểu chung;
trừ một số đối
tượng thuộc
đối tượng (9)
thì vẫn được
thanh toán
100%.
Hạng I: 30%
Hạng II: 50%
Hạng III: 70%
Thấp hơn
hoặc bằng
mức 40 lần
tiền lương tối
thiểu chung.
(3), (13), (14) 95%
còn lại 80%
Ngoài ra đối với trường hợp cấp cứu thì đối tượng thụ hưởng BHYT vẫn được
hưởng mức thanh toán như đúng tuyến; người tham gia BHYT đi khám chữa
bệnh tại các cơ sở y tế ngoài công lập thì sẽ được quỹ BHYT thanh toán theo
mức hưởng quy định tại điều 22 luật BHYT và qui định tại khoản 1, 2, 3 điều 7
Nghị Định số 62/2009/NĐ – CP theo giá dịch vụ áp dụng đối với cơ sở khám
chữa bệnh công lập tương đương chuyên môn kĩ thuật

BHYT.
Ngày 13/8/1998, Chính phủ ban hành Nghị định 58/CP thay cho Nghị định
299/HĐBT nhằm sửa đổi bổ xung một số điều trong điều lệ cũ cho phù hợp với
tình hình pháy triển kinh tế xã hội. Nhờ đó mà BHYT Việt Nam đã khắc phục
được những khó khăn, ổn định công tác thu BHYT, quyền lợi của người tham
gia BHYT được đảm bảo.
Đặc biệt, Luật BHYT có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 đã hướng đến mục tiêu
bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2014, làm tăng nhanh đối tượng tham gia
BHYT, nâng cao quyền lợi cho người tham gia BHYT

2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức và quản lý của BHYT Việt Nam
2.1.2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy BHYT Việt Nam
2.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận thuộc BHYT Viêt Nam
- Ban lãnh đạo:
+ Giám đốc chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ y tế, Hội đồng quản lý y tế
về mọi hoạt động của BHYT Việt Nam.
+ Các phó giám đốc giúp việc cho giám đốc và chịu trách nhiệm trước giám
đốc một số mặt công tác được phân công.
- Phòng khai thác:
+ Thực hiện vụ cụ thể của công tác khai thác ; nắm chắc số lượng các đối
tượng thuộc diện tham gia
Bộ Y tế
Hội đồng quản
lý BHXH
BHYT Việt Nam
Phòng khai thác Phòng giám định
BHYT
Phòng tài chính
kế toán
Phòng tổng hợp

hành.
+ Đảm bảo cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của đơn vị.
+ Thực hiện công tác tổ chức - cán bộ, xây dựng quy hoạch kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ theo thẩm quyền.
+ Tham mưu, đề xuất thực hiện công tác thông tin tuyên truyền với những nội
dung hình thức phù hợp, phục vụ kịp thời nhiệm vụ của từng giai đoạn.
2.2. Thực trạng trạng thực hiện BHYT toàn dân ở Việt Nam giai đoạn 2008 -
2011”.
2.2.1. Những mặt đạt được
2.2.1.1. Số lượng người tham gia BHYT
Sau 19 năm thực hiện BHYT, số lượng người tham gia ngày càng tăng đặc biệt
là sau khi ban hành Luật BHYT số 25/2008/QH12, có hiệu lực thi hành ngày
01/7/2009, điều đó được minh họ cụ thể ở bảng dưới đây:
Đơn vị: nghìn người
Chỉ tiêu
Năm
Dân số
Số người tham
gia
BHYT
Tỷ lệ (%)
2008 84752 35595 42.0
2009 85847 48589 56,6
2010 86950 52170 60,0
2011 87840 55954 63,7
Bảng 2: số lượng người tham gia BHYT trong giai đoạn 2008 - 2011
Từ bảng trên ta thấy số người tham gia BHYT tăng liên tục cả số người
tham gia, lẫn tỷ lệ bao phủ. Đến cuối năm 2011 là 55954 nghìn người chiếm
63,7% dân số tăng 20359 nghìn người tương ứng với 1,6 lần so với năm 2008 -
thời điểm Luật BHYT được thông qua. So sánh mức độ tăng giữa các năm liền

2.2.1.3. Tiếp cận các dịch vụ KCB của người có thẻ BHYT
Ngoài việc ngày càng mở rộng đối tượng tham gia BHYT thì khả năng tiếp
cận các dịch vụ KCB của người có thẻ BHYT cũng được nâng lên, nhất là từ
sau ngày 01/07/2009 Luật BHYT có hiêu lực.
Năm
Chỉ tiêu
2008 2009 2010 2011
Tổng số lượt KCB
(triệu lượt)
68.1 96 105.2 114.5
Tổng chi phí KCB BHYT
(tỷ đồng)
10365 15481 19665 25012
Chi phí bình quân/đầu thẻ
(đồng)
292088 319295 377597 447813
Tần xuất KCB đầu thẻ
(lượt)
1.92 1.98 2.02 2,05
Bảng 4: lượt KCB BHYT và chi phí BHYT giai đoạn 2008 – 2011
Trong giai đoạn 2008 -2011 thì tổng số lượt KCB, tổng chi phí KCB BHYT,
chi phí bình quân/đầu thẻ, tần xuất KCB đầu thẻ đều tăng nhất là từ ngày
01/07/2009 Luật BHYT có hiệu lực, cụ thể như sau:
Giai đoạn 2008 - 2011tổng số lượt KCB tăng 46,4 triệu người tương ứng với
khoảng 1.7 lần.Bình quân mỗi năm tăng 11,6 triệu người, đặc biệt là giai đoạn
2008 – 2009 tăng 27.9 triệu lượt KCB là do Luật BHYT bắt đầu có hiệu lực.
Tổng chi phí KCB năm 2008 là 1036 tỷ đồng thì đến năm 2011 là 25012 tỷ
đồng tăng 14647 tỷ đồng tương ứng với khoảng 1.7 lần.
Chi phí bình quân/đầu thẻ năm 2008 là 292088 đồng thì đến năm 2011 là
447813 đồng tăng 155725 đồng tương ứng với khoảng 1.5 lần. Và tần xuất

mục thuốc .
Bộ Y tế có chức năng quản lý nhà nước về BHYT với các nhiệm vụ xây dựng
chính sách, pháp luật về BHYT; Xây dựng chiến lược, kế hoạch tổng thể phát
triển BHYT toàn dân; Ban hành danh mục thuốc, danh mục kỹ thuật; Xây dựng
giải pháp cân đối quỹ; Tuyên truyền; Chỉ đạo thực hiện; Thanh tra, kiểm tra, xử
lý vi phạm.
Trong khi đó, Bộ Tài chính có trách nhiệm phối hợp xây dựng chính sách, pháp
luật về tài chính liên quan đến BHYT và thanh tra, kiểm tra chế độ tài chính
đối với quỹ BHYT.
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có một số nhiệm vụ như xác định người
có công, ưu đãi xã hội, người nghèo, người cận nghèo để lập danh sách tham
gia BHYT với sự hỗ trợ của NSNN; đồng thời cũng thực hiện chức năng thanh
tra, kiểm tra về lao động và các chế độ đối với người lao động theo quy định
của pháp luật.
Tại địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức triển
khai Luật BHYT, trong đó có nội dung đảm bảo ngân sách đóng BHYT cho
các đối tượng theo quy định, tuyên truyền về BHYT và thanh tra, kiểm tra, xử
lý vi phạm.
Quá trình triển khai thực hiện BHYT theo các quy định và hướng dẫn tại các
văn bản pháp luật nói trên cũng đã đạt được những kết quả tích cực khẳng định
tính phù hợp thực tiễn của Luật BHYT. Các bên liên quan đến BHYT trong đó
có cơ quan BHXH, cơ sở KCB đã cố gắng thực hiện đầy đủ các quy định của
Luật, đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHYT.
2.2.2. Những khó khăn, thách thức
2.2.2.1. Vai trò của hệ thống chính trị chưa được phát huy đầy đủ
Đây là một khâu đặc biệt quan trọng, theo đó hệ thống chính trị vừa đóng vai
trò định hướng, vừa đóng vai trò tổ chức thực hiện các chính sách phát triển
kinh tế, xã hội, trong đó có chính sách BHYT. Cho đến nay, ngoài Chỉ thị số
38/CT của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đẩy mạnh thực hiện BHYT trong
tình hình mới, chúng ta vẫn còn thiếu những chỉ đạo cụ thể và mạnh mẽ của

UBND các cấp, vai trò quản lý nhà nước trong thực hiện chính sách pháp luật
về BHYT không rõ ràng, trách nhiệm không đầy đủ và cụ thể, ý nghĩa về hiệu
lực pháp lý không cao, dẫn đến thực thi các quy định và chính sách thiếu hiệu
quả, thiếu đồng bộ. Nhiều địa phương thiếu chủ động trong mở rộng đối tượng,
không xem việc đạt tỷ lệ bao phủ BHYT như là một chỉ tiêu về phát triển kinh
tế-xã hội
2.2.2.2 Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế còn nhiều khó khăn
Hệ thống cung ứng dịch vụ y tế còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu về
tuyến chuyên môn kỹ thuật, chất lượng dịch vụ, thủ tục hành chính. Một trong
những hạn chế dẫn đến sự không hài lòng và giảm niềm tin đối với chính sách
BHYT là những hạn chế trong khả năng đáp ứng của cơ sở y tế đối với nhu cầu
CSSK của người tham gia BHYT. Các trạm y tế xã hoặc bệnh viện huyện còn
thiếu bác sỹ, hạn chế về chuyên môn. Nhiều người tham gia BHYT phải đến
các bệnh viện tuyến trên để đạt được mục tiêu về chất lượng dịch vụ.
Việc điều chỉnh phân tuyến kỹ thuật, tuyến sử dụng thuốc để phù hợp với mô
hình bệnh tật chưa kịp thời dẫn đến người bệnh vẫn phải chuyển lên tuyến trên
và nhiều trường hợp vượt tuyến để được KCB. Điều này không chỉ gây khó
khăn cho người bệnh mà còn gây lãng phí nguồn lực ở tuyến cơ sở.
Tình trạng bán thuốc không cần đơn đang diễn ra tràn lan; người dân không
cần khám bác sỹ tại bệnh viện cũng mua được thuốc chữa bệnh, trong khi thẻ
BHYT chỉ có giá trị khi đến cơ sở y tế có ký hợp đồng KCB BHYT, chính điều
này cũng đã làm ảnh hưởng đến cơ chế BHYT.
2.2.2.3. Cơ chế thu viện phí chậm đổi mới
Khung giá viện phí và phương thức chi trả theo phí dịch vụ chậm được điều
chỉnh, trong khi các bệnh viện đang phải thực hiện tự chủ về tài chính và xã
hội hóa cung ứng dịch vụ. Tình trạng lạm dụng dịch vụ y tế (đặc biệt là xét
nghiệm và thuốc điều trị) cũng xảy ra đối với các bệnh nhân có thẻ BHYT, gây
khó khăn cho việc kiểm soát chi phí KCB. Có nhiều người bệnh BHYT phải
trả thêm tiền chênh lệch giữa mức thu của bệnh viện với khung giá được áp
dụng, và các nhà quản lý rất khó biết được bệnh nhân đang phải trả thêm bao

việc cơ quan BHXH áp dụng trần thanh toán bằng 90% quỹ KCB tính trên
số người đăng ký KCB tại cơ sở y tế đối với chi phí KCB tại cơ sở y tế đó và
chi phí của bệnh nhân tại cơ sở y tế tuyến trên. Điều này dẫn tới tình trạng cơ
sở y tế bắt buộc phải hạn chế quyền lợi của bệnh nhân và hạn chế chuyển bệnh
nhân BHYT đi KCB tại các cơ sở y tế khác. Ngoài ra, tính thuận tiện và thân
thiện của dịch vụ y tế công lập còn chưa thật sự đáp ứng sự hài lòng của người
bệnh.
2.2.2.5. Triển khai BHYT cho một số đối tượng còn nhiều khó khăn
Việt Nam còn khoảng 32 triệu người chưa tham gia BHYT và chủ yếu là ở các
nhóm: nhóm người cận nghèo, nhóm doanh ngiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt
là những người lao động ở khu vực phí chính thức.
Tỷ lệ người cận nghèo tham gia BHYT còn thấp (tính đến cuối năm 2011có
74% người cận nghèo chưa tham gia BHYT). Nhà nước đã có chính sách hỗ
trợ 50% mức đóng BHYT cho người cận nghèo còn thấp và không đảm bảo
cho người cận nghèo tham gia BHYT, trong khi đó tỷ lệ cùng chi trả cao (trả
20% như quy định hiện nay và không có trần giới hạn mức cùng chi trả tối đa
trong 1 năm sẽ gây khó khăn cho người cận nghèo trong sử dụng dịch vụ kỹ
thuật cao, hoặc phải điều trị dài ngày. Theo khảo sát có trên 50% các cơ sở y tế
đều cho rằng khó có khả năng thu được của người cận nghèo khi mức đồng chi
trả quá cao .
BHYT cho người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn thấp
tính đến cuối năm 2011 có khoảng 12 triệu người lao động làm việc trong các
doanh nghiệp nhưng còn khoảng 6,64 triệu người chưa tham gia BHYT, chiếm
khoảng 55%. Các đối tượng chưa tham gia BHYT chủ yếu là người lao động
trong các doanh nghiệp tư nhân. Việc người lao động không tham BHYT có
liên quan đến nhận thức còn hạn chế của chủ sử dụng lao động về trách nhiệm
thực thi pháp luật và trách nhiệm bảo vệ quyền được CSSK của người lao
động. Trong khi đó chính sách pháp luật không đồng bộ, không phù hợp thực
tế dẫn đến người sử dụng lao động không thực hiện trách nhiệm của mình. Bên
cạnh đó, có thể mức đóng cao gây khó khăn cho doanh nghiệp. Vấn đề nữa

- Ban hành văn bản dưới luật cụ thể hóa đầy đủ các nội dung quản lý nhà
nước về BHYT của UBND các cấp, đồng thời với các quy định ràng buộc
trách nhiệm của UBND trong thực hiện chính sách, pháp luật về BHYT, coi
việc mở rộng đối tượng và đảm bảo quyền lợi người tham gia BHYT là một
tiêu chí phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
- Xây dựng quy trình công vụ để giám sát và điều tiết hoạt động của các bên
tham gia thực hiện chính sách BHYT.
- Thành lập Phòng BHYT thuộc Sở Y tế để thực hiện chức năng tham mưu
quản lý nhà nước về BHYT.
3.2. Đổi mới mô hình quản lý về BHYT
- Xây dựng đề án đổi mới toàn diện mô hình quản lý BHYT theo hướng thành
lập hệ thống BHYT độc lập với BHXH và do Bộ Y tế quản lý, có phân cấp
quản lý mạnh mẽ cho các địa phương. Trước mắt, thành lập Hội đồng Quản lý
BHYT do Bộ trưởng Bộ Y tế làm Chủ tịch Hội đồng (độc lập với Hội đồng
Quản lý bảo hiểm xã hội hiện nay).
- Sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành về vai trò, trách nhiệm của các cơ
quan quản lý nhà nước và BHXH; mối quan hệ giữa cơ quan BHXH và cơ sở
KCB.
- Sửa đổi một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, xác định rõ cơ cấu tổ chức
BHYT ngay trong Luật BHYT.
3.3. Thực hiện cơ chế hỗ trợ mức đóng và quyền lợi BHYT để người cận
nghèo tham gia BHYT
- Nâng mức hỗ trợ mức đóng BHYT từ 50% lên 70%–80%, tiến tới hỗ trợ
100% mức đóng BHYT đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo.
- Giảm mức cùng chi trả từ 20% xuống 5% chi phí KCB đối với người cận
nghèo, đồng thời quy định cụ thể hạn mức cùng chi trả mỗi năm.
Tuyên truyền để làm thay đổi nhận thức về việc tham gia BHYT đối với người
cận nghèo về quyền lợi, trách nhiệm.
3.4. Thúc đẩy thực thi pháp luật về tham gia BHYT đối với người lao động
tại các doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status