THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 ĐẾN NAY - MÔN HỌC TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ - Pdf 10

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG


ĐỀ ÁN MÔN HỌC:
TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 ĐẾN NAY
Giáo viên hướng dẫn: Ths.Võ Hoàng Diễm Trinh
Sinh viên thực hiện: Đỗ Nguyễn Tấn Trường
Lớp: 36K07.3Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
Đà Nẵng, tháng 11/2011
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1: 8
TỔNG QUAN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 8
1.KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 8
1.1.Sự hình thành tỷ giá hối đoái 8
1.2.Ngoại tệ và ngoại hối 8
1.2.1.Ngoại tệ 8
1.2.2.Ngoại hối 8
1.3.Khái niệm về tỷ giá hối đoái (Exchange rate) 9
1.4.Phân loại tỷ giá hối đoái 9

3.1.Khái niệm về chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái 20
3.2.Phân loại chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái: 21
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 2
Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
3.3.Mục tiêu của chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái 21
3.4.Một số công cụ trong chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái 22
3.4.1.Công cụ lãi suất chiêt khấu 22
3.4.2.Công cụ ngoại hối 23
3.4.3.Chính sách tài khóa của CP 23
3.4.4.Phá giá tiền tệ 25
3.4.5.Nâng giá tiền tệ 25
3.5.Tác động của chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái 26
3.5.1.Tác động tới hoạt động ngoại thương 26
3.5.2.Tác động tới hoạt động thương mại trong nước 27
3.5.3.Tác động tới phát triển kinh tế 28
3.6.Căn cứ khi lựa chọn chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái 29
CHƯƠNG 2: 30
THỰC TRẠNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 ĐẾN NAY 30
1.GIAI ĐOẠN 2008-2010 30
1.3.Năm 2010 37
3. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 2008 ĐẾN NAY 49
CHƯƠNG 3: 53
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 ĐẾN
NAY 53
1.MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH CHUNG 53
2. MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CHO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN TỚI 53
3. CÁC GIẢI PHÁP 54

USD : Đôla Mỹ
VND : Đồng Việt Nam
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 4
Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
* Chương 1:
Đồ thị 1.1: Cách xác định TGHĐ 11
Đồ thị 1.2: Ảnh hưởng ngoại hối đến TGHĐ 22
Đồ thị 1.3: Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ mở rộng của NHTW đến lãi suất 23
Đồ thị 1.4: Chính sách tài khóa mở rộng của CP đến I 23
Đồ thị 1.5: Chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến
lãi suất 24
* Chương 2:
Bảng 1: Tài khoản vãng lai và tài khoản vốn ở Việt Nam năm 2006-2010 49
Biểu đồ 2.1: Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2008 30
Biểu đồ 2.2: Diễn biến các loại lãi suất trong năm 2008 30
Biểu đồ 2.3: Dự trữ ngoại hối (tỷ USD) của Việt Nam 10 tháng đầu năm 2008 31
Biểu đồ 2.4: Cán cân thương mại Việt Nam 10 tháng đầu năm 2008 32
Biểu đồ 2.5: Diễn biến tỷ giá năm 2009 33
Biểu đồ 2.6: Nguồn vốn FDI vào Việt Nam năm 2009 so với năm 2008 34
Biểu đồ 2.7: Cán cân xuất nhập khẩu năm 2009 35
Biểu đồ 2.8: Biểu đồ so sánh giá vàng năm 2009 36
Biểu đồ 2.9: Cán cân thương mại Việt Nam từ tháng 1/2010 đến tháng 3/2011 37
Biểu đồ 2.10: Vốn đăng kí và giải ngân FDI 10 tháng đầu năm 2010 37
Biểu đồ 2.11: Dự trữ ngoại hối của Việt Nam (tỷ USD) 38
Biểu đồ 2.12: Tăng trưởng tín dụng nội tệ, ngoại tệ. 38
Biểu đồ 2.13: Biến động tỷ giá USD/VND năm 2010 38
Biểu đồ 2.14: Giá vàng trong nước (tr.VND/chỉ) 40
Biểu đồ 2.15: Mất giá của VND so với một số đồng tiền từ đầu năm

cuộc khủng hoảng tài chính…và ngược lại cũng có thể vì một chính sách TGHĐ không hợp
lý mà đưa nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng nghiêm trọng. Thêm vào đó,
tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát, giảm tỷ lệ thất nghiệp, cân bằng cán cân thương mại,
chính sách thu hút đầu tư nước ngoài… luôn là những mục tiêu kinh tế quan trọng của mọi
quốc gia, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay; để thực hiện được những mục tiêu
đó, tùy vào tình hình cụ thể của từng nước mà áp dụng chính sách điều chỉnh TGHĐ cho phù
hợp.
Thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề TGHĐ trong xu thế phát triển của nền kinh
tế thế giới cũng như tính cấp thiết của vấn đề này đối với nền kinh tế của Việt Nam. Đặc biệt
là sau khi Việt Nam tiến hành mở cửa cải cách nền kinh tế vào năm 1986, việc gia nhập tổ
chức thương mại thế giới WTO vào đầu năm 2007, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế
thế giới diễn ra vào năm 2008 tới nền kinh tế Việt Nam, điển hình là trong năm 2011. Với sự
gia tăng mạnh mẽ của TGHĐ chủ yếu là tỷ giá VND/USD, lạm phát có tình hình diễn biên
phức tạp trong năm 2011, giá vàng tăng lên chóng mặt liên tục phá kỷ lục về giá, giới đầu cơ
liên tục làm giá. Bên cạnh đó, hiện tượng tích trữ ngoại tệ trong người dân còn phổ biến dẫn
đến sự khan hiếm ngoại tệ, cán cân thanh toán bị thâm hụt, lái suất ngân hàng tăng cao…đã
tác động tới TGHĐ. Để làm rõ những tác động đó tới TGHĐ, hiểu rõ được thực trạng TGHĐ
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 6
Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
thực tế ở Việt Nam. Do đó, em đã chọn đề tài: “Thực trạng tỷ giá hối đoái ở Việt Nam giai
đoạn 2008 đến nay” cho đề án của mình.
Đề tài nghiên cứu với mục đích là nhằm hiểu rõ hơn, nắm vững hơn về mặt lý thuyết
và cơ sở ứng dụng của TGHĐ, chính sách điều chỉnh TGHĐ. Đặc biệt là ứng dụng thực tiễn
vào thực trạng tình hình biến động TGHĐ ở Việt Nam giai đoạn 2008 đến nay, trên cơ sở đó
rút ra một số bài học kinh nghiệm, đưa ra một số giải pháp giải quyết biến động TGHĐ cho
Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề án là thực trạng TGHĐ của Việt Nam cùng với chính
sách TGHĐ đối với hoạt động thương mại, phát triển kinh tế nói chung. Phạm vi nghiên cứu
là vấn đề TGHĐ, chính sách điều chỉnh TGHĐ ở Việt Nam giai đoạn 2008 đến nay với
những ảnh hưởng của nó đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

Ngoại tệ là đồng tiền do quốc gia nước ngoài phát hành nhưng lại được lưu
thông trên thị trường ở một quốc gia khác. Mỗi quốc gia trong nền kinh tế thế giới
đều có một đồng tiền riêng lưu hành theo luật pháp, đặc điểm riêng của mỗi quốc gia
được gọi là nội tệ. Theo đó, các đồng tiền không phải do NHTW của quốc gia đó phát
hành thì được xem là ngoại tệ. Trên thị trường Việt Nam hiện nay có các ngoại tệ
đang được lưu hành như Đôla Mỹ (USD), Ơ-rô (EUR), Yên Nhật (JPY),…
Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các đồng ngoại tệ đều được các nước chấp
nhận trong giao dich thanh toán và đầu tư quốc tế, mà chỉ có một số loại ngoại tệ
mạnh, tức là những đồng tiền dễ chuyển đổi ra nội tệ của nước khác. Một loại ngoại
tệ mạnh thường được căn cứ vào các tiêu chuẩn sau đây:
o Khả năng chấp nhận của quốc tế đối với đồng tiền đó
o Nhu cầu thương mại của quốc gia phát hành đồng tiền đó
o Tiềm năng cung ứng hàng hóa trên thị trường thế giới của quốc gia đó
Hiện nay theo đánh giá của Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) các ngoại tệ mạnh là USD
và các đồng tiền của các nước công nghiệp phát triển OECD (Anh, Canada,…).
1.2.2. Ngoại hối
Ngoại hối là một khái niệm dùng để chỉ các phương tiện có giá trị dùng để thanh
toán giữa các quốc gia. Tùy theo quan niệm của luật quản lý ngoại hối của mỗi nước và
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 8
Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
trên các góc độ khác nhau mà khái niệm ngoại hối có thể là không giống nhau. Trên góc
độ hoạch định chính sách và quản lý của nhà nước, ngoại hối được hiểu là toàn bộ các
loại tiền nước ngoài, các phương tiện chi trả có giá trị bằng tiền nước ngoài, các chứng
từ, chứng khoán có giá trị, có khả năng mang lại ngoại tệ. Những người kinh doanh
thường hiểu ngoại hối là những phường tiện thanh toán thể hiện dưới dạng ngoại tệ như
tiền mặt, séc, hối phiếu… Ngoại hối bao hàm các công cụ tài chính quốc tế tồn tại dưới
các hình thức sau:
- Ngoại tệ tiền mặt; kim loại quý, đá quý; vàng tiêu chuẩn quốc tế.
- Đồng tiền tập thể (SDR), đồng tiền chung (EUR)
- Các công cụ tín dụng có ghi bằng ngoại tệ dùng để thanh toán quốc tế, gồm thẻ tín

- Tỷ giá mua vào (Bid rate) là tỷ giá tại đó ngân hàng niêm yết giá mua vào đồng
tiền yết giá.
- Tỷ giá bán ra (Offer rate) là tỷ giá mà tại đó ngân hàng niêm yết giá bán ra đồng
tiền yết giá.
Đây là những loại tỷ giá được niêm yết tại các NHTM. Các loại tỷ giá này được
dùng để giao dịch mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng và các khách hàng. Tỷ giá
mua vào bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán ra, phần chênh lệch đó chính là lợi nhuận
kinh doanh ngoại hối của ngân hàng.
Ví dụ: Vào ngày 1-1-2011 tại NHTM Á Châu, tỷ giá USD được niêm yết như
sau:
- Tý giá USD mua vào:20.250 VND = 1 USD
- Tỷ giá USD bán ra: 20.350 VND = 1 USD
1.4.3. Căn cứ vào thời điểm giao nhận ngoại hối
TGHĐ được chia thành:
- Tỷ giá giao ngay là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giá nhận chúng sẽ được thực
hiện chậm nhất sau hai ngày làm việc.
- Tỷ giá kì hạn là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc giao nhận chúng được thực hiện
sau một khoảng thời gian nhất định (từ 3 ngày trở lên).
Tỷ giá giao ngay và tỷ giá kì hạn được công bố theo hình thức tỷ giá mua vào,
bán ra căn cứ vào thời điểm giao dich ngoại hối.
1.4.4. Căn cứ vào thời điểm giao dịch ngoại hối
Trong giao dịch ngoại hối, thông thường các ngân hàng không thông báo tất cả
các hợp đồng ký trong ngày mà chỉ công bố tỷ giá mở cửa và tỷ giá đóng cửa.
- Tỷ giá mở cửa (Opening rate) là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán món ngoại tệ
đầu tiên trong ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái.
- Tỷ giá đóng cửa (Closing rate) là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán món ngoại tệ
cuối cùng trong ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái.
1.4.5. Căn cứ vào mối quan hệ với lạm phát
Tỷ giá được chia ra làm 2 loại:
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 10

- Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ghi bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá hối phiếu là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu ghi bằng ngoại tệ. Nếu hối
phiếu trả tiền ngay thì gọi là tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay, nếu hối phiếu có kì hạn
thì gọi là tỷ giá hối phiếu có kì hạn.
- Tỷ giá tiền mặt là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là tiền kim
loại, tiền giấy, séc du lịch, thẻ tín dụng.
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 11
Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
- Tỷ giá chuyển khoản là tỷ giá áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các
khoản tiền gửi tại ngân hàng, giao dịch thanh toán qua ngân hàng.
Thông thường tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn tỷ giá chuyển khoản và tỷ giá bán
tiền mặt cao hơn tỷ giá chuyển khoản.
Ví dụ: Ngày 1-1-2011, ngân hàng Á Châu niêm yết tỷ giá EUR như sau:
Tỷ giá mua tiền mặt: 27.880,83 VND = 1 EUR
Tỷ giá chuyển khoản: 27.965,71 VND = 1 EUR
1.5.Cách xác định tỷ giá hối đoái
Hiện nay tỷ giá được hình thành dựa trên sức mua của các đồng tiền, hay còn gọi là
ngang giá sức mua. Do đồng tiền của một nước được trao đổi với đồng tiền của nước
khác trên thị trường ngoại hối nên xuất hiện cầu về ngoại tệ chính hay là cung về đồng
nội tệ, hoặc cung về ngoại tệ hay cầu nội tệ. Do đó khi xác định tỷ giá giữa ngoại tệ và
nội tệ ta có thể xem xét hoặc là cầu và cung về ngoại tệ hoặc là cung và cầu về nội tệ. Để
tiện phân tích ta sẽ xem xét cách xác định TGHĐ của USD tính theo số VND dựa trên
cầu và cung về USD.
Ta có đồ thị như sau:
- Trục tung là TGHĐ của USD tính theo số VND
- Trục hoành là số lượng USD
- Đường D là đường cầu USD trên thị trường
- Đường S là đường cung USD trên thị trường
- E
0

Khi đường cung S gặp đường cầu D cũng chính là cầu và cung ngoại tệ trên thị
trường đạt trạng thái cân bằng. Khi đó sẽ ứng với một lượng ngoại tệ USD nhất định là
Q
0
và xuất hiện TGHĐ cân bằng là E
0
. E
0
chính là TGHĐ ứng với lượng cung và cầu
ngoại tệ nhất định trên thị trường. Trên thực tế, E
0
không phải là bao giờ cũng cố định.
Phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau E
0
có thể thay đổi.
1.6.Các phương pháp niêm yết tỷ giá hối đoái
Trên thế giới có rất nhiều đồng tiền khác nhau. Chúng đều là tiền, nhứng xét
từ giác độ một quốc gia, thì chỉ có nội tệ mới đóng vai trò tiền tệ, còn các đồng tiền
khác là ngoại tệ, đóng vai trò là hàng hóa.Vì TGHĐ thể hiện mối liên hệ giữa đồng tiền
của hai quốc gia với nhau, nên khi niêm yết tỷ giá bao giờ cũng có hai đồng tiền tham
gia: một đồng tiền đóng vai trò yết giá, đồng tiền còn lại đóng vai trò là định giá.
Ví dụ: 1GBP = (X) EUR; 1USD = (Y) JPY; 1CNY = (Z) VND.
Ta có X,Y,Z là số dương có thể lớn hơn 1 hay nhỏ hơn 1. Nếu GBP có giá trị
lớn hơn EUR thì X là lớn hơn 1 và ngược lại. Ta thấy trong ví dụ trên, các đồng tiền bên
trái (USD,GBP,CNY) là đồng tiền yết giá, có đặc điểm là cố định 1 đơn vị. Các đồng tiền
bên phải (EUR,JPY,VND) là các đồng tiền định giá, đặc điểm là lượng tiền biến đổi.
Từ góc độ phạm vi quốc gia, có hai phương pháp niêm yết TGHĐ là phương
pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp:
1.6.1. Theo phương pháp trực tiếp (Direct Quotation)
Là phương pháp yết giá đồng ngoại tệ bằng khối lượng đồng nội tệ. Tức là ngoại

các giao dịch ngoại tệ. Bên cạnh đó đồng SDR cùng với đồng tiền các quốc gia có nền
kinh tế lớn như Nhật Bản và Liên minh Châu Âu… nên JPY, EUR… cũng trở thành
đồng tiền yết giá trực tiếp trên các thị trường tài chính quốc tế.
* Trong đề án môn học này em xin trình bày TGHĐ được niêm yết theo phương
pháp trực tiếp *
1.7.Vai trò của tỷ giá hối đoái
Hiện nay, hầu hết các nước điều quan tâm đến việc điều hành TGHĐ một cách
linh hoạt vì TGHĐ có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế như là đối với hoạt
động thương mại quốc tế, trạng thái cân bằng thanh toán, tốc độ tăng trưởng kinh tế,
lạm phát, việc làm… Tỷ giá giữ vai trò quan trọng đối với mọi nền kinh tế. Sự vận
động của TGHĐ có tác động sâu sắc, mạnh mẽ đối với mục tiêu, chính sách kinh tế vĩ
mô của quốc gia. Sau đây là những vai trò quan trọng của TGHĐ:
1.7.1. Tỷ giá hối đoái và hoạt động thương mại quốc tế
TGHĐ liên quan đến mối quan hệ so sánh giá trị, tính toán giữa hai đồng tiền
của hai quốc gia với nhau, cho nên sự biến động của TGHĐ sẽ làm thay đổi, ảnh
hưởng đến sức mua của hai đồng tiền và do vậy làm cho giá cả hàng hóa xuất nhập
khẩu của hai quốc gia trên thị trường thương mại quốc tế cũng thay đổi, từ đó ảnh
hưởng đến quy mô thương mại giữa các nước với nhau.
- Đối với hoạt động xuất khẩu khi đồng nội tệ lên giá tức là TGHĐ tăng làm cho giá
trị của hàng hóa trong nước tăng lên so với hàng hóa nước ngoài. Điều này làm
cho hàng hóa nước ngoài rẻ hơn hàng hóa trong nước, khiến cho hoạt động nhập
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 14
Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
khẩu tăng lên, hoạt động xuất khẩu giảm xuống. Cán cân thanh toán của quốc gia
sẽ bị xấu đi. Gây khó khăn cho nền kinh tế.
- Khi TGHĐ giảm xuống tức là đồng nội tệ giảm giá điều này làm cho giá cả của
hàng hóa trong nước rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài do giá trị của hàng hóa
trong nước giảm xuống so với hàng nước ngoài. Điều này se làm cho hoạt động
xuất khẩu được đẩy mạnh, hoạt động nhập khẩu giảm xuống làm cho cán cân
thanh toán được cải thiện hơn. Một khi hàng hóa trong nước trở nên rẻ hơn thì sức

Các khoản vay nợ nước ngoài thường được tính theo đơn vị tiền tệ nước đó
hoặc những đồng tiền mạnh nên khi TGHĐ tăng lên cũng đồng nghĩa với sự tăng
lên của gánh nặng nợ nước ngoài. Ngày nay khi sự luân chuyển vốn quốc tế ngày
càng tự do thì các nước đặc biệt các nước đang phát triển, các nước vay nợ nhiều
càng cần phải thận trọng hơn trong chính sách tỷ giá để đảm bảo được tăng trưởng
và khả năng trả nợ nước ngoài của quốc gia mình.
1.8.Tầm quan trọng của tỷ giá hối đoái
Với những vai trò của TGHĐ đã được thể hiện ở trên thì TGHĐ có một tầm
quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế. Bất kỳ một quốc gia nào cũng luôn tìm cách đạt
được mục tiêu là cân bằng cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát,
giảm thiểu thất nghiệp. TGHĐ là một công cụ, là một nhân tố quan trọng của quốc gia để
giúp cho nhà nước đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô. Kiểm soát được TGHĐ giúp
cho CP có thể đạt được những mục tiêu nhất định mà khó có một công cụ khác ngoài
TGHĐ có thể làm được. Do vậy, TGHĐ quả thật có một tầm quan trọng đặc biệt trong
quản lý nền kinh tế một cách hợp lý và có hiệu quả.
2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
2.1.Quan hệ cung cầu
Tỷ giá thể hiện giá trị của đồng tiền các nước, mà tiền tệ cũng là một loại hàng
hóa đặc biệt cho nên TGHĐ cũng bị ảnh hưởng bởi quan hệ cung cầu trên thị trường. Đối
với cung của một loại hàng hoá bất kỳ nào thì sự thay đổi cung của hàng hoá đó luôn chịu
giới hạn nhất định nhưng cung của tiền có thể tăng đến vô hạn do NHTW có thể phát
hành tiền với một số lượng rất lớn. Ngược lại cầu hàng hoá phụ thuộc vào nhu cầu sử
dụng, tích trữ, đầu cơ nên chúng ta có thể lượng ước được và tính toán được lượng cầu
hàng hoá nhưng đối với tiền thì không, cầu tiền là vô hạn do nhu cầu về tiền của người
dân luôn lớn. Do vậy, cung và cầu của tiền luôn thay đổi ảnh hưởng, tác động tới sự thay
đổi của TGHĐ:
- Khi cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ thì sẽ dẫn tới giá ngoại tệ tăng  TGHĐ
tăng.
- Khi cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ thì sẽ dẫn tới giá ngoại tệ giảm  TGHĐ
giảm.

với nước kia. Cùng một lượng tiền như nhau với một mức tỷ giá nhất định sẽ xảy ra sự
thay đổi lượng hàng hóa mua được. Điều này dẫn đến sự thay đổi giá trị đồng tiền giữa
các nước khác nhau làm cho TGHĐ thay đổi.
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, khi lạm phát của một quốc gia xảy
ra cao hơn quốc gia khác thi đồng nội tệ bị mất giá, ngoại tệ tăng giá làm cho TGHĐ tăng
lên. Và ngược lại sẽ làm cho TGHĐ giảm xuống. Vì vậy kiểm soát tốt lạm phát cũng là
một trong những biện pháp giúp bình ổn TGHĐ.
Trong dài hạn, một sự tăng lên mức giá của một quốc gia (so với mức giá nước
ngoài) dẫn đến đồng tiền của quốc gia đó giảm giá, và một sự giảm đi mức giá của quốc
gia đó dẫn đến đồng tiền của quốc gia đó lên giá.
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 17
Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
2.4.Lãi suất tín dụng giữa các quốc gia
Lãi suất tín dụng giữa các quốc gia cũng là một nhân tố quan trọng tác động tới
TGHĐ. Lãi suất là giá cả vay vốn trên thị trường. Lãi suất tín dụng tác động lên việc luân
chuyển nguồn vốn giữa các nước từ đó ảnh hưởng tới cung ngoại tệ và thông qua đó gián
tiếp tác động tới TGHĐ.
- Nếu lãi suất tín dụng trong nước cao hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi suất trên thị
trường quốc tế, thì sẽ thu hút những dòng vốn từ thị trường nước ngoài do lãi suất
hấp dẫn hơn, điều này làm cho cung ngoại tệ tăng lên sẽ dẫn đến TGHĐ giảm
xuống (đồng nội tệ lên giá so với đồng ngoại tệ).
- Nếu lãi suất tín dụng trong nước thấp hơn lãi suất ngoại tệ hay lãi suất trên thị
trường quốc tế, thì sẽ thu hút những dòng vốn đi ra thị trường nước ngoài do lãi
suất hấp dẫn hơn, điều này làm cho cung ngoại tệ giảm xuống sẽ dẫn đến TGHĐ
tăng lên (đồng nội tệ giảm giá so với đồng ngoại tệ).
Lãi suất tín dụng giữa các quốc gia cũng là một nhân tố tác động gián tiếp tới
TGHĐ thông qua việc tác động tới cung ngoại tệ trên thị trường.
2.5.Các nhân tố khác
2.5.1. Chính sách kinh tế vĩ mô của CP
Khi CP thực hiện các thay đổi về chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài

thì dẫn đến giảm giá Yên Nhật và tăng giá VND.
2.5.4. Năng suất lao động
Do TGHĐ phản ánh mối tương quan đồng giá sức mua của các đồng tiền, nên
dễ dàng so sánh giá cả của thị trường nội địa và thị trường thế giới. Từ đó sẽ có thể
thấy được tình trạng năng suất lao động của mỗi quốc gia hay nói cách khác tỷ giá và
năng suất lao động có mối liên hệ với nhau. Nếu như năng suất lao động của một
quốc gia này cao hơn quốc gia khác, làm cho giá cả hàng hóa nội địa của quốc gia này
thấp hơn hàng hóa nước ngoài. Kết quả là nhu cầu hàng hóa nội địa tăng cao, dẫn đến
đồng nội tệ lên giá. Trong dài hạn, khi năng suất của một quốc gia cao hơn quốc gia
khác, thì đồng tiền của quốc gia đó sẽ được định giá cao hơn và tỷ giá sẽ ngày càng
tăng khi năng suất lao động ngày càng tăng. Ví dụ: Trung Quốc có năng suất lao
động cao hơn Việt Nam vì vậy hàng hoá Trung Quốc rẻ dẫn đến cầu nhập hàng hoá
Trung Quốc của Việt Nam tăng mạnh khiến cho cầu về Nhân Dân tệ cũng tăng theo.
Lúc này giá trị của CNY tăng và được định giá cao hơn so với VND.
2.5.5. Yếu tố tâm lý, kỳ vọng
Yếu tố tâm lý, kỳ vọng được thể hiện bằng sự phán đoán của thị trường về các
sự kiện kinh tế, chính trị, tâm lý số đông, lợi tức kỳ vọng … từ những sự kiện này,
người ta dự đoán chiều hướng thay đổi của TGHĐ. Thông qua đó tiến hành thực hiện
những hành động đầu tư, đầu cơ, tích trữ về ngoại hối. Điều này làm cho tỷ giá có thể
thay đổi tăng hoặc giảm trên thị trường thông qua tác động đến cung và cầu ngoại tệ.
Ví dụ: Nếu như kỳ vọng của nhiều người là tỷ giá sẽ tăng cao trong tương lai thì
sẽ xuất hiện hiện tượng một số lượng lớn người dân tiến hành mua ngoại tệ để đầu cơ,
tích trữ trong ngắn hạn. Điều này làm cho cầu ngoại tệ trên thị trường tăng lên một
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 19
Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
cách nhanh chóng. Nếu cung ngoại tệ không đáp ứng kịp thì sẽ khiến cho TGHĐ tăng
lên. Và ngược lại sẽ làm cho TGHĐ giảm xuống.
2.6.Nhận định chung về các nhân tố ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái
Nói tóm lại, tỷ giá ở tại một thời điểm là sự tồng hợp sự tác động của nhiều yếu
tố như là sức mua của các đồng tiền và tốc độ lạm phát ở các nước có liên quan; trạng

TGHĐ tập trung chú trọng vào hai vấn đề lớn là: vấn đề lựa chọn hệ thống TGHĐ và vấn
đề điều chỉnh TGHĐ. Nhưng vấn đề quan tâm hàng đầu của chính sách điều chỉnh
TGHĐ như tên gọi chính là vấn đề điều chỉnh TGHĐ.
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 20
Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
3.2.Phân loại chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái:
- Chính sách tỷ giá cố định: Là chính sách tỷ giá mà NHTW buộc phải can thiệp trên
thị trường ngoại hối để duy trì tỷ giá biến động xung quanh một mức tỷ giá cố định
(gọi là tỷ giá trung tâm) trong một biên độ hẹp đã được định trước.
→ Chính sách tỷ giá này giảm bớt rủi ro trong việc chuyển đổi từ đồng tiền này sang đồng
tiền khác.
- Chính sách tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Là chế độ tỷ giá được xác định hoàn toàn tự do
theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không có sự can thiệp của
NHTW.
→ Chính sách tỷ giá này giúp cho chính sách tiền tệ quốc gia được độc lập.
- Chính sách tỷ giá thả nổi có điều tiết: Là chế độ tỷ giá mà NHTW tiến hành can thiệp
trên thị trường ngoại hối nhằm ảnh hưởng đến tỷ giá nhưng không cam kết duy trì
một tỷ giá cố định hay biên độ dao động nào xung quanh tỷ giá trung tâm.
3.3.Mục tiêu của chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Trong nền kinh tế mở động cơ hoạch định chính sách là những mục tiêu cân đối
bên trong và bên ngoài. Trong khi đó TGHĐ lại là một yếu tó có khả năng ảnh hưởng
trực tiếp đến mục tiêu cân đối bên trong và bên ngoài của nền kinh tê nên việc hoạch định
chính sách TGHĐ phải hướng tới mục tiêu ổn định được hai mục tiêu bên trong và bên
ngoài của nền kinh tế.
Tuy nhiên trong mỗi giai đoạn nhất định không phải lúc nào cũng cố định cứng
nhắc hai mục tiêu này mà tùy vào thời điểm chính sách tỷ giá cũng có thêm một số mục
tiêu cụ thể khác như là thưởng xuyên xác lập và duy trì mức tỷ giá cân bằng, duy trì và
bảo vệ đồng nội tệ, gia tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia…
* Hai mục tiêu chính của chính sách điều chỉnh tỷ giá:
- Mục tiêu cân bằng nội (ổn định nền kinh tế trong nước): là trạng thái cân bằng mà

mức báo động cần phải can thiệp thì NHTW tiến hành điều chỉnh lãi suất chiết khấu.
Khi lãi suất chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thị
trường. Từ đó làm dịch chuyển các dòng vốn quốc tế làm thay đổi cán cân thanh toán
quốc tế (tài khoản vốn, tài khoản vãng lai …) hoặc ít nhất làm cho người sở hữu vốn
trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu
lợi và làm thay đổi TGHĐ. Cụ thể lãi suất tăng dẫn đến xu hướng là một dòng vốn
vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và người sở hữu vốn
ngoại tệ trong nước sẽ có xu hướng chuyển đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thu
lãi suất cao hơn do tác động đó ảnh hưởng đến cung cầu nội – ngoại tệ làm cho tỷ giá
sẽ giảm (nội tệ tăng) và ngược lại muốn tăng tỷ giá, giảm giá trị đồng nội tệ sẽ tiến
hành giảm lãi suất tái chiết khấu.
Tuy nhiên, lãi suất do cung cầu của vốn vay quyết định. Còn tỷ giá thì do quan
hệ cung cầu về ngoại tệ quyết định. Điều này có nghĩa là những yếu tố để hình thành
tỷ giá và lãi suất là không giống nhau, do vậy biến động của lãi suất không nhất thiết
kéo theo biến động của tỷ giá. Công cụ lãi suất chiết khấu được sử dụng để điều chỉnh
TGHĐ trong ngắn hạn.
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 22
Đề án: Tài chính-Tiền tệ GVHD: Võ Hoàng Diễm Trinh
3.4.2. Công cụ ngoại hối
Đây là chính sách mà NHTW can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách mua
bán ngoại hối trên thị trường mở, đây là một công cụ có tác động mạnh và trực tiếp
đến TGHĐ nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể đã đề ra. Cụ thể:
- Khi tỷ giá lên cao, NHTW tăng cường bán ngoại hối ra thị trường làm cung ngoại
hối trên thị trường tăng lên do đó làm giảm bớt căng thẳng về cung cầu ngoại hối
trên thị trường và kéo tỷ giá giảm xuống.
- Khi tỷ giá giảm xuống , NHTW sẽ mua vào ngoại hối, tăng nhu cầu ngoại hối trên
thị trường và làm giảm bớt căng thẳng trong quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị
trường dẫn tới TGHĐ sẽ tăng lên.
Can thiệp vào thị trường ngoại hối bằng cách mua bán trên thị trường ngoại hối
còn có tác động trực tiếp tới các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác (lãi suất, giá cả, lạm

điều chỉnh TGHĐ phù hợp, tập trung vào sự phối hợp của chính sách tài chính và
chính sách tiền tệ:
- Trong trường hợp TGHĐ cố định và có sự di chuyển vốn hoàn hảo:
Nếu như CP muốn duy trì TGHĐ cố định thì cần phải có một quỹ dự trữ ngoại
hối đủ mạnh để can thiệp mạnh mẽ vào cung cầu thị trường ngoại hối. Nếu có sự gia
tăng về cầu ngoại tệ thì NHTW tiến hành bán ngoại tệ, làm giảm quỹ dự trữ ngoại tệ
để ổn định tỷ giá và ngược lại cầu nội tệ tăng sẽ làm gia tăng quỹ dự trữ ngoại tệ. Tuy
nhiên với chính sách TGHĐ cố định thì chính sách tiền tệ của ngân hàng trug ương tỏ
ra kém hiệu quả, nếu như thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, làm cho cung tiền
tăng (S
0
S
1
) khiến cho lãi suất trên thị trường giảm (i
0


i
1
). Mà lãi suất giảm kéo
theo hiệu ứng là các nhà đầu tư nước ngoài lấy ngoại tệ trên thị trường đầu tư ra nước
ngoài, do vậy mức cung tiền có xu hường trở lại nhưng thị trường cung mất một
lượng lớn ngoại tệ. Nếu như chính sách tiền tệ không có hiệu quả thì chính sách tài
khóa lại tỏ ra có hiệu quả cao. Nếu CP thực hiện chính sách tài khoán mở rộng làm
cho cầu tiền (D
0
D
1
) trong nền kinh tế tăng lên kéo theo lãi suất tăng (i
0

i
0
), cầu
ngoại tệ tăng lên do có xu hướng chuyển dịch vốn ra nước ngoài. Thay vì bán dự trữ
ngoại tệ thì NHTW để nội tệ giảm giá. Điều này khiến xuất khẩu tăng lên làm cầu
ngoại tệ tăng, đường D tăng lên (D
0
D
1
) làm lãi suất đạt mức lãi suất ban đầu. Do
vậy làm giảm áp lực phá giá tiền tệ. Nếu CP thực hiện chính sách tài khóa mở rộng
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 24
i
0
D
0
S
0
S
1
i
1
D
1
Đồ thị 1.4: Chính sách tài khóa mở rộng của CP
đến i
i
0
D
S

cho TGHĐ giảm xuống. Nâng giá tiền tệ chỉ thực hiện khi giá hàng hóa và dịch vụ
xuất khẩu được đánh giá là có giá thấp hơn giá của thị trường thế giới; hạn chế xuất
khẩu nhằm cân bằng cán cân thương mại quốc tế tránh được sức ép của các nước
khác trong thương mại mậu dịch quốc tế hoặc tăng khả năng nhập khẩu, hạn chế xuất
khẩu, kiềm chế lạm phát. Những quốc gia có nền kinh tế phát triển quá “nóng” muốn
làm giảm bớt sự phát triển “nóng” của nền kinh tế thì thường dùng biện pháp nâng giá
tiền tệ để giảm đầu tư trong nước và tăng cường chuyển nguồn vốn ra nước ngoài.
Đỗ Nguyễn Tấn Trường – Lớp: 36k07.3 Trang 25
D
1
i
0
D
0
S
0
S
1
i
1
Đồ thị 1.5: Chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ ảnh hưởng
đến lãi suất.

Trích đoạn MỘT SỐ CHÍNH SÁCH ĐIỀU CHỈNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM GIA MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CHO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI Ở VIỆT NAM Chính sách ngoại hối
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status