Đề tài "Trình bày các biện pháp kiềm chế lạm
phát của Việt Nam trong năm 2008 và tác động
của các biện pháp đó đối với nền kinh tế"
MỤC LỤC
Đề tài "Trình bày các biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam trong năm 2008 và tác động của
các biện pháp đó đối với nền kinh tế" 1
1
MỤC LỤC 2
Đề tài: Trình bày các giải pháp chính các biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam trong năm
2008. Các giải pháp đó có tác động (tích cực hay tiêu cực) như thế nào đối với nền kinh tế ở thời
điểm hiện tại? Đánh giá của bạn về tính hiệu quả và kịp thời của các giải pháp này 11
I. LẠM PHÁT LÀ GÌ? 11
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong
một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền. Khi so sánh
với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ
khác 11
II. NGUYÊN NHÂN CỦA LẠM PHÁT 11
Về mặt lý thuyết lạm phát có thể do các nhóm nguyên nhân: 11
Lạm phát do chính sách: thường xảy ra do những biện pháp tiền tệ mở rộng, phản ánh thâm hụt thu
chi ngân sách lớn và việc tài trợ thâm hụt bằng tiền tệ, thường là cội rễ của lạm phát cao. Một ví dụ
kinh điển đó là những trận siêu lạm phát ở áo và Đức những năm 20 do mở rộng tiền tệ thái quá 11
Lạm phát do chi phí đẩy: xảy ra do tăng chi phí và có thể phát triển ngay cả khi thất nghiệp và việc
sử dụng nguồn lực còn thấp. Vì tiền lương ( tiền công ) thường là chi phí sản xuất quan trọng nhất, sự
gia tăng tiền lương không phù hợp với tăng trưởng năng suất có thể khơi mào cho quá trình lạm phát.
Nhưng lạm phát do chi phí đẩy có thể không dai dẳng nếu chính sách tiền tệ tác động vào, trong
trường hợp đó, tiền lương tăng dẫn tới thất nghiệp cao hơn thay vì lạm phát cao hơn 11
Lạm phát do cầu kéo: xảy ra do tổng cầu vượt trội đẩy mức giá chung lên cao. Sự thúc đẩy của cầu
có thể xuất phát từ những cú sốc bên trong hay bên ngoài nhưng thường hình thành từ những chính
sách thu chi ngân sách hay tiền tệ mở rộng 11
Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam: 11
vài năm gần đây bình quân hàng năm trên 40% GDP và hệ số ICOR là 4,7 (có nghĩa là VN hiện cần
4,7 đơn vị đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng), hệ số này là rất cao so với các nước khác trong
khu vực. Tổng cầu tăng, nhưng tổng cung tăng hạn chế nên giá phải tăng 12
- Trong năm 2007, và đầu năm 2008 Nhà nước chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh theo giá thị
trường đối với một số loại hàng hóa, vật tư cơ bản như: điện, xăng dầu, than,… làm ảnh hưởng đến
việc tăng giá các hàng hóa khác 13
- Chính sách tiền tệ năm 2007 cũng có những vấn đề cần xem xét, cung tiền (tổng phương tiện thanh
toán) tăng nhanh năm 2005 là 23.4%, năm 2006 là 33.6%, năm 2007 là 53.8%, tổng cộng 3 năm
cung tiền M2 tăng 134.2%, trong khi 3 năm GDP chỉ tăng 25.09%. Chênh lệch giữa cung tiền tăng
trong 3 năm qua (134.5%) với tăng trưởng kinh tế GDP (25.09%) là rất lớn, chắc chắn sẽ đè nặng lên
giá cả trong nước, và cuối năm 2007, đầu năm 2008 nó bộc phát mạnh là do có sự cộng hưởng bởi
lạm phát quốc tế (USD yếu) và thiên tai 13
Chuyên gia IMF cho rằng, với chính sách hiện nay, Việt Nam đang nhập khẩu lạm phát từ bên ngoài.
13
Tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng tăng cao, năm 2006 là +29.7%, năm 2007 tăng dư
nợ cao nhất trong nhiều năm qua 43.7%, một số NHTM tăng trên 70%. Các NHTM trong thời gian
qua đã cung cấp được một lượng vốn lớn cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế để phát triển sản
xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng cao, góp phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự tăng
trưởng nóng của thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản, các NHTM cũng sẵn lòng cho
vay đối với những nhà đầu cơ trong lĩnh vực này. Nguồn vốn huy động ngắn hạn của ngân hàng được
đổ vào thị trường vốn dài hạn nhiều rủi ro, nếu bong bóng bất động sản có vấn đề thì rủi ro tín dung
là rất lớn. Điều cần lưu ý, một trong những nguyên nhân dư nợ tín dụng tăng cao trong năm 2007 là
do các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ lên nhanh + 56% (tăng 33.737 tỷ đồng), cuối năm
2006 tổng vốn điều lệ của tổ chức tín dụng là 60.419 tỷ đồng, cuối năm 2007 là 94.156 tỷ đồng,
thành lập mới nhiều ngân hàng, làm tăng khả năng cho vay và áp lực trả lãi cổ đông, áp lực tăng giá
cổ phiếu trên thị trường do năm 2006 giá cổ phiếu đã tăng chóng mặt 13
- Trong những năm qua, với những thành tựu phát triển kinh tế nổi bật cùng với chính sách thông
thoáng, cởi mở, VN trở thành một điểm đến lý tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài. Lượng vốn của
các nhà đầu tư nước ngoài vào VN liên tục ở mức cao thông qua kênh đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp,…. Điều rất tiếc, nếu chúng ta chủ động nâng giá VND và giảm giá USD theo quy luật cung cầu
-Khởi phát và đẩy mạnh cuộc đua tăng lãi suất. Quyết định rút tiền ra khỏi lưu thông bằng tín phiếu
sẽ tiếp thêm năng lượng cho cuộc đua tăng lãi suất của ngân hàng. Nhiều người đem tiền đi gửi ngân
hàng vì lãi suất tiền gửi tăng.Tuy nhiên lãi suất đầu ra cũng không đứng yên, doanh nghiệp sẽ chuyển
hết phần chi phí tăng thêm vào giá bán làm cho giá cả tăng và mục tiêu giảm lạm phát bằng thắt chặt
tiền tệ không thể thực hiện được 14
-Tạo áp lực lên tăng trưởng và việc làm 14
-Trở ngại cho thu hút vốn gián tiếp 15
Các quy đinh thắt chặt tiền tệ sẽ tạo ra cảm giác cho nhà đầu tư là nhà nước đang hi sinh các thị
trường vốn và thị trường chứng khoán để chống lạm phát. Điều nay có khả năng sẽ làm xói mòn hơn
nữa niềm tin của nhà đầu tư 15
-Đồng tiền lên giá: 15
Áp lực tăng giá đồng tiền sẽ gây áp lực cho xuất khẩu. Hậu quả chung là làm cho xuất khẩu bị giảm
sút mạnh và hàng xuất khẩu bị giảm sức cạnh tranh 15
Thứ hai, Chính phủ sẽ điều chỉnh chính sách tài khóa theo hướng kiểm soát chặt chẽ, nâng cao hiệu
quả chi tiêu công gồm tăng thu ngân sách vượt dự toán, giảm chi phí hành chính 15
Các hạng mục đầu tư sẽ được rà soát chặt chẽ. Cắt bỏ công trình đầu tư kém hiệu quả, tập trung vốn
cho những công trình sắp hoàn thành. Bộ Tài chính sẽ đảm trách việc rà soát, đề xuất biện pháp chấn
chỉnh hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn. Bộ Kế
hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện sơ kết mô hình tập đoàn kinh tế trong quý IV
năm 2008 15
Thứ năm, Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là nhiên liệu và
năng lượng. Các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông.
Từ đó, giải pháp triệt để thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng được triển khai thành công.
17
Hiện nay tình trạng lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng diễn ra khá phổ biến ở các cơ quan đơn vị.
Tiềm năng tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng là rất lớn. Bối cảnh quốc tế và trong nước đã làm rõ
những yếu kém của nền kinh tế và trong cơ cấu của nền kinh tế của nước ta đã bộc lộ sâu sắc hơn
trong điều kiện hội nhập quốc tế tạo ra những thách thức gay gắt cho việc quản lí và điều hành phát
triển kinh tế. Trước tình hình này, toàn đảng toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp nước ta đã nỗ lực
phấn đấu phát huy tiềm năng lợi thế đối phó và vượt qua những khó khăn thách thức, giữ vững ổn
Các hậu quả của việc thắt chặt tiền tệ: 22
-Khởi phát và đẩy mạnh của đua tăng lãi suất 22
Quyết định rút tiền ra khỏi lưu thông bằng tín phiếu sẽ tiếp them năng lượng cho cuộc đua tăng lãi
suất của ngân hàng.Nhiều người đem tiền đi gửi ngân hàng vì lãi suất tiền gửi tăng.Tuy nhiên lãi suất
đầu ra cũng không đứng yên.Doanh nghiệp sẽ chuyển hết phần chi phí tăng thêm vào giá bán làm
cho giá cả tăng và mục tiêu giảm lạm phát bằng thắt chặt tiền tệ không thể thực hiện được 22
-Tạo áp lực lên tăng trưởng và việc làm 22
-Trở ngại cho thu hút vốn gián tiếp 22
Các quy đinh thắt chặt tiền tệ sẽ tạo ra cảm giác cho nhà đầu tư là nhà nước đang hi sinh các thị
trường vốn và thị trường chứng khoán để chống lạm phát. Điều nay có khả năng sẽ làm xói mòn hơn
nữa niềm tin của nhà đầu tư 22
-Đồng tiền lên giá: 22
Áp lực tăng giá đồng tiền sẽ gây áp lực cho xuất khẩu. Hậu quả chung là làm cho xuất khẩu bị giảm
sút mạnh và hàng xuất khẩu bị giảm sức cạnh tranh 23
*các giải pháp kìêm chế lạm phát có những tác động đối với thời điểm hiện tại: 23
Sau khi thực hiện quyết liệt, đồng bộ 1 loạt giải pháp kiềm chế lạm phát với sự đồng thuận cao của
toàn xã hội, thị trường hàng hóa và dịch vụ dã có những phản ứng tích cực cho dù thách thức ở phía
trước vẫn còn rất lớn 23
Biểu hiện dễ thấy là chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 đã chậm lại và giảm xuống còn 2,99 % sau khi tăng
“nóng” trong tháng 2. Đây được coi là thành công bước đầu của việc áp dụng các biện pháp về chống
lạm phát của chính phủ, trong đó thắt chặt tiền tệ là biện pháp chủ chốt nhất 23
Sang tháng 4, nhiều mặt hàng đã bắt đầu giảm giá sau 1 thời gian dài biến động mạnh, nhất là những
mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân như vật liệu xây dựng,phân bón,
xăng dầu, lương thực thực phẩm và vé tàu 23
Đến thời điểm này giá lương thực thực phẩm tại 2 thành phố có sức tiêu thụ hàng hóa lớn nhất nước
là Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu giảm 23
Với dà tiến triển tích cực này cộng với cam kết giữ nguyên hoặc giảm giá bán trong quý tới của
nhiều hiệp hội, doanh nghiệp, chỉ số tiêu dung sư báo chắc chắn sẽ thấp 23
Dù vậy giới chuyên gia cũng bày tỏ lo ngại về nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục phải đối mặt với
những khó khăn, thách thức mới do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan 23
thương mại không còn tiền mặt để cho vay và trả nợ đến hạn, mà không vay được trên thị trường liên
ngân hàng.(Nghĩa là tài khoản của Ngân hàng không còn đủ để thanh toán các khoản cho vay và trả
nợ, là ngân hàng không còn đủ tiền) 24
Phần 2:Kết quả đạt được 24
I. Theo đánh giá chung của Bộ Kế hoạch Đầu tư (MPI), tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam 6 tháng
đầu năm 2009 tiếp tục có chuyển biến tích cực. Tháng 6/2009, tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước
đạt 6,5%, tính chung 6 tháng đầu năm GDP đạt 3,9% 24
Giá trị sản xuất công nghiệp cả nước tăng liên tục trong 5 tháng qua. Giá trị sản xuất công nghiệp 6
tháng tăng 16,5%. Sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp vượt qua nhiều khó khăn đạt được kết quả tốt, tăng
2,5% so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 2,278 triệu tấn, tăng 5%. Diện tích
trồng rừng cũng tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước 25
Mặc dù nền kinh tế gặp khó khăn, nhu cầu tiêu dùng giảm sút song tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ tháng 6 vẫn tăng 2,3% so với tháng 5 đưa tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch
vụ xã hội 6 tháng tăng 20% so với cùng kỳ 25
Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 27,6 tỷ USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ. Kim
ngạch nhập khẩu tháng 6 ước đạt 5,9 tỷ USD, tăng 4,1% so với tháng 5. Tính chung kim ngạch nhập
khẩu 6 tháng đạt 29,7 tỷ USD, giảm 34% so với cùng kỳ 25
Tuy nhiên tháng 6 cũng là tháng thứ 3 liên tiếp Việt Nam nhập siêu trở lại sau 3 tháng đầu năm xuất
siêu. MPI dự báo riêng tháng 6 nhập siêu có thể lên tới 1 tỷ USD, tính chung nhập siêu 6 tháng hơn
2,1 tỷ USD 25
Thu ngân sách nhà nước tính theo lũy kế từ đầu năm đến nửa đầu tháng 6 đạt 49,3% dự toán cả năm.
25
6 tháng đầu năm có hơn 40 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, tăng 14% so với cùng kỳ. Mức
giải ngân ODA 6 tháng đầu năm đạt 1,27 tỷ USD, bằng 67% kế hoạch năm 25
Theo báo của Tổng cục thống kê, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 năm 2009 tăng 0,55% so với tháng 5
và tăng 0,82% so với tháng 12/2008 25
II. Mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế, xã hội của năm 2009 cần được xác định là: tiếp tục ưu
tiên kiềm chế lạm phát, chủ động hạn chế tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế toàn cầu, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm lo tốt hơn an sinh xã hội; duy trì tăng trưởng
hợp lý, bền vững; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
. Một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác như tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu sẽ ở mức âm 9,9% trong
khi kế hoạch là tăng 3%; 27
Biện pháp thứ bảy đó là tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân,
mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội: 27
Trước tình hình lạm phát gia tăng chính phủ đã chủ trương mở rộng các chính sách về an sinh xã hội,
tăng cường hỗ trợ đời sống nhân dân, khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh của nhân dân 27
Lạm phát làm cho giá cả tăng cao, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân, nhất là vùng nghèo,
hộ nghèo, vùng bị thiên tai, người lao động có thu nhập thấp.để giải quyết tình trạng này chính phủ
đã có những biện pháp phù hợp như : Từ ngày 1 tháng 1 năm 2008, chính phủ đã quyết định tăng
20% mức lương tối thiểu cho những người lao động thuộc khối cơ quan nhà nước, lực lượng vũ
trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội 28
Chính phủ cũng quy định điều chỉnh mức lương tối thiểu theo hướng tăng lên đối với lao động Việt
Nam làm việc cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức
quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam, lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp
tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn
lao động. Riêng với người lao động đã qua học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề),
mức lương tối thiểu quy định cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng. Ngoài ra, khoảng
1,8 triệu người về hưu và người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội đã được tăng lương 20%, hơn 1,5
triệu người có công đã được điều chỉnh trợ cấp lên 20% so với mức chuẩn hiện hành 28
Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện các chính sách an sinh xã
hội, hỗ trợ đời sống người nghèo, người có thu nhập thấp, đặc biệt là đồng bào bị ảnh hưởng của
thiên tai bão lũ, chú trọng việc hỗ trợ vốn cho người nghèo vay để sản xuất và tín dụng cho học sinh,
sinh viên nghèo 28
Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 289/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đồng bào
dân tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo và ngư dân bao gồm : 28
- Thực hiện cấp bằng tiền tương đương 5 lít dầu hoả/năm (dầu thắp sáng) cho các hộ là đồng bào dân
tộc thiểu số, hộ thuộc diện chính sách và hộ nghèo ở những nơi chưa có điện lưới 28
- điều chỉnh mức hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho người nghèo từ 80.000 đồng/người/năm lên 130.000
đồng/người/năm; hỗ trợ 50% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế đối với thành viên thuộc hộ cận nghèo tham
gia bảo hiểm y tế tự nguyện 28
Bên cạnh đó, công tác hỗ trợ vẫn còn chưa đảm bảo đúng đối tượng, đúng số lượng mà người ta được
nhận.Tình trạng này gây nên một sự bất ổn trong dân chúng, làm giảm niềm tin của dân cư vào nhà
nước, vào chính phủ. Ngoài ra vẫn còn có một số cán bộ tham ô của nhà nước bỏ túi riêng, những cá
nhân làm giàu bằng những thứ mà người nghèo được nhận.điều này là bất công và hành động này
đáng bị trừng phạt.Vì vậy,điều quan trọng cần chú ý là phải xây dựng cơ chế và kiểm tra việc thực
thi, bảo đảm nguồn hỗ trợ của Nhà nước đến đúng đối tượng, không bị thất thoát, tham nhũng 30
cần phải có giải pháp hỗ trợ và khôi phục lòng tin trong quá trình thực hiện các giải pháp của Chính
phủ. Trong năm 2008 đã diễn ra dồn dập “các cơn sốt” từ sắt thép, đến xi măng, đến gạo, thực
phẩm.Đó là do đầu cơ, tung tin thất thiệt, nhưng nếu người dân vẫn còn lòng tin, thì bọn đầu cơ khó
mà kiếm chác được. Khi đã mất đi cái quý giá nhất - lòng tin, thì chỉ với một tin đồn không có căn cứ
đã làm cho hàng trăm, hàng ngàn người nghe theo, đổ xô đi mua hàng hóa, vàng, ngoại tệ cất trữ, gây
ra những đợt tăng giá đột biến 30
Hiện nay, ở Việt Nam còn tồn tại tình trạng người dân quá thụ động, chỉ trông chờ từ nguồn lực hỗ
trợ của Nhà nước mà không cố gắng tự mình vượt qua khó khăn, thoát khỏi nghèo đói. Đó là một
cách nghĩ mà cấp thiết phải sửa đổi 30
Ngoài ra việc thực hiện những biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân, mở rộng
việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội hầu như là những chính sách ngắn hạn chỉ giải quyết
vấn đề tức thời, chỉ tính đến mục tiêu trước mắt mà chưa có một chính sách đồng bộ, bền vững và
hiệu quả 31
CÁC TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP KIỀM HÃM KINH TẾ ĐẾN THỜI ĐIỂM HIỆN TẠI.31
l. Kết quả đạt đc: 31
Chính phủ điều hành thận trọng, linh hoạt các công cụ như lãi suất, dự trữ bắt buộc, tín phiếu bắt
buộc; điều chỉnh cơ cấu tín dụng, kiểm soát chặt việc cho vay kinh doanh bất động sản, chứng khoán,
vay tiêu dùng, tập trung vốn cho sản xuất và xuất khẩu, bảo đảm tính thanh khoản của các ngân hàng
và cả nền kinh tế; hạn chế tăng tổng phương tiện thanh toán cả năm xuống còn khoảng 18% và tổng
dư nợ tín dụng khoảng dưới 30% ; tăng cường quản lý các ngân hàng thương mại, trợ giúp các ngân
hàng yếu kém vượt qua khó khăn; ban hành các quy định thích hợp để nâng cao hiệu quả, tính an
toàn và cũng là tiêu chí để cấp phép lập ngân hàng mới. Các ngân hàng thương mại nhà nước đã
đóng góp quan trọng vào việc thực hiện chính sách tiền tệ. Lãi suất ngân hàng ổn định hơn, đã và
đang giảm dần cùng với việc giảm của tốc độ tăng giá 31
lạm phát của chính phủ, trong đó thắt chặt tiền tệ là biện pháp chủ chốt nhất 32
Sang tháng 4, nhiều mặt hàng đã bắt đầu giảm giá sau 1 thời gian dài biến động mạnh, nhất là những
mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân như vật liệu xây dựng,phân bón,
xăng dầu, lương thực thực phẩm và vé tàu 32
Đến thời điểm này giá lương thực thực phẩm tại 2 thành phố có sức tiêu thụ hàng hóa lớn nhất nước
là Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu giảm 32
Với dà tiến triển tích cực này cộng với cam kết giữ nguyên hoặc giảm giá bán trong quý tới của
nhiều hiệp hội, doanh nghiệp, chỉ số tiêu dung sư báo chắc chắn sẽ thấp 32
Dù vậy giới chuyên gia cũng bày tỏ lo ngại về nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục phải đối mặt với
những khó khăn, thách thức mới do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan 33
Tiếp tục nỗ lực bình ổn thị trường, thủ tướng chính phủ đã kí ban hành và yêu cầu các bộ, ngành địa
phương thực hiện nghị quyết về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an
sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh đến việc cắt bỏ các công trình
đầu tư kém hiệu quả, những khoản chi tiêu không cần thiết 33
Đề tài: Trình bày các giải pháp chính các biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam
trong năm 2008. Các giải pháp đó có tác động (tích cực hay tiêu cực) như thế nào
đối với nền kinh tế ở thời điểm hiện tại? Đánh giá của bạn về tính hiệu quả và kịp
thời của các giải pháp này.
I. LẠM PHÁT LÀ GÌ?
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền
kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức
mua của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá
tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.
II. NGUYÊN NHÂN CỦA LẠM PHÁT
Về mặt lý thuyết lạm phát có thể do các nhóm nguyên nhân:
Lạm phát do chính sách: thường xảy ra do những biện pháp tiền tệ mở rộng, phản
ánh thâm hụt thu chi ngân sách lớn và việc tài trợ thâm hụt bằng tiền tệ, thường là
cội rễ của lạm phát cao. Một ví dụ kinh điển đó là những trận siêu lạm phát ở áo và
Đức những năm 20 do mở rộng tiền tệ thái quá.
Lạm phát do chi phí đẩy: xảy ra do tăng chi phí và có thể phát triển ngay cả khi thất
b. Nguyên nhân bên trong
- Chính sách tài khóa không hiệu quả là nguyên nhân rất quan trọng của căn bệnh lạm
phát ở nước ta. Để hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế, Chính phủ đã có những kế
hoạch chi tiêu nâng cấp cơ sở hạ tầng của đất nước và liên tục bội chi ngân sách
trong nhiều năm trn 5% GDP (năm 2007 bội chi khoảng trên 56.000 tỷ đồng). Đầu
tư cho tăng trưởng kinh tế là điều cần thiết, nhưng đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn
trải, gây lãng phí lớn trong thời gian dài là nguy hiểm cho nền kinh tế nước, trong
khi đồng lương của nhân dân lao động, những người công chức nhà nước thì quá
thấp so với thời giá, 30-40 năm làm việc trong cơ quan hành chính, giáo dục, y
tế… Công tác xây dựng, thẩm định, phê duyệt dự án, tổng dự án và thiết kế kỹ
thuật quá chậm trễ, thủ tục rườm rà và phức tạp. Việc chi tiêu thì không hiệu quả,
tình trạng tham nhũng thì gia tăng đã hưởng đến niềm tin của công chúng vào cơ
chế và bộ my điều hành của chúng ta. Đảng và Nhà nước ta đã thấy và đang điều
chỉnh, như thành lập cơ quan chống tham nhũng, nhưng cần quyết liệt hơn. Tỷ lệ
vốn đầu tư toàn xã hội ở VN trong vài năm gần đây bình quân hàng năm trên 40%
GDP và hệ số ICOR là 4,7 (có nghĩa là VN hiện cần 4,7 đơn vị đầu tư để tạo ra
một đơn vị tăng trưởng), hệ số này là rất cao so với các nước khác trong khu vực.
Tổng cầu tăng, nhưng tổng cung tăng hạn chế nên giá phải tăng.
- Trong năm 2007, và đầu năm 2008 Nhà nước chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh
theo giá thị trường đối với một số loại hàng hóa, vật tư cơ bản như: điện, xăng dầu,
than,… làm ảnh hưởng đến việc tăng giá các hàng hóa khác.
- Chính sách tiền tệ năm 2007 cũng có những vấn đề cần xem xét, cung tiền (tổng
phương tiện thanh toán) tăng nhanh năm 2005 là 23.4%, năm 2006 là 33.6%, năm
2007 là 53.8%, tổng cộng 3 năm cung tiền M2 tăng 134.2%, trong khi 3 năm GDP
chỉ tăng 25.09%. Chênh lệch giữa cung tiền tăng trong 3 năm qua (134.5%) với
tăng trưởng kinh tế GDP (25.09%) là rất lớn, chắc chắn sẽ đè nặng lên giá cả trong
nước, và cuối năm 2007, đầu năm 2008 nó bộc phát mạnh là do có sự cộng hưởng
bởi lạm phát quốc tế (USD yếu) và thiên tai.
Chuyên gia IMF cho rằng, với chính sách hiện nay, Việt Nam đang nhập khẩu lạm
phát từ bên ngoài.
- Chi phí sản xuất hàng hóa dịch vụ chưa hợp lý, sức cạnh tranh các sản phẩm trong
nước không cao, hiệu quả kinh tế thấp.
- Thu nhập của dân cư tăng (tăng tiền lương tối thiểu từ năm 2005, 2006, 2007). Việc
tăng lương một phần gia tăng tổng cầu, mặt khác tạo tâm lý làm tăng giá các hàng
hóa tiêu dùng khác. Điều chỉnh tiền lương cho người lao động là cần thiết trong
giai đoạn lạm phát cao, nhưng cần điều chỉnh tiền lương vào những thời điểm ít
nhạy cảm (giữa năm).
- Một trong những nguyên nhân cũng góp phần vào mức lạm phát gia tăng tại VN hiện
nay là yếu tố tâm lý của người dân. Đặc biệt là yếu tố đầu cơ của các đơn vị cung
cấp hàng hóa dịch vụ, các đại lý bán lẻ tại VN.
Đứng trước thực trạng này, ngày 17/4, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký ban
hành Nghị quyết số 10/2008/NQ-CP, đề ra 8 nhóm biện pháp kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.
Đồng thời, yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tổ chức, triển khai
ngay trong tháng 4/2008.
Nhóm giải pháp đầu tiên, mang tính mấu chốt mà Chính phủ đưa ra là thực hiện chính
sách tiền tệ chặt chẽ. Một trong những mục tiêu của nhóm giải pháp này, theo
Nghị quyết, để giảm dần lãi suất huy động theo hướng thực hiện chính sách lãi
suất thực dương. Các hoạt động của ngân hàng thương mại về huy động, cho vay,
tín dụng cần được giám sát chặt chẽ, đảm bảo đúng quy định.
Thắt chặt tiền tệ là 1 hướng trong chính sách tiền tệ nhằm giảm lượng cung tiền trong
lưu thông. Khi lượng cung tiền vượt quá lượng cầu tiền sẽ dẫn đến lạm phát, do đó
mục tiêu chính của thắt chặt tiền tệ nhằm giảm mức lạm phát.
Mặt trái của việc thắt chặt tiền tệ:
-Khởi phát và đẩy mạnh cuộc đua tăng lãi suất. Quyết định rút tiền ra khỏi lưu thông
bằng tín phiếu sẽ tiếp thêm năng lượng cho cuộc đua tăng lãi suất của ngân hàng.
Nhiều người đem tiền đi gửi ngân hàng vì lãi suất tiền gửi tăng.Tuy nhiên lãi suất
đầu ra cũng không đứng yên, doanh nghiệp sẽ chuyển hết phần chi phí tăng thêm
vào giá bán làm cho giá cả tăng và mục tiêu giảm lạm phát bằng thắt chặt tiền tệ
không thể thực hiện được
thời nhập khẩu thuận lợi dẫn đến các cân thanh toán bị thâm hụt. Vì vậy chính phủ đã
áp dụng nhiều biện pháp nhằm hạn chế nhập khẩu như:
Tăng thuế nhập khẩu những mặt hàng không thiết yếu như: ô tô nguyên chiếc, linh
kiện lắp ráp xe ô tô dưới 12 chỗ ngồi, một số mặt hàng điện tử, điện lạnh, xe và linh
kiện lắp ráp xe gắn máy, rượu bia… nhưng vẫn đảm bảo phù hợp với cam kết hội
nhập. Ví dụ:
Trong năm 2008 thuế suất thuế nhập ô tô nguyên chiếc có đến 2 lần liên tiếp tăng trở
lại vào tháng 3 và tháng 4, đưa từ mức 60% đến 83%. Việc tăng thuế là do ô tô nhập
ngoại rẻ hơn so với ô tô sản xuất trong nước làm cho việc nhập khẩu ô tô ồ ạt đã ảnh
hưởng nặng nề đến ngành sản xuất và lắp ráp ô tô trong nước. Kết quả đến nửa cuối
năm 2008 lượng xe hơi nhập khẩu giảm gần 1 nửa so với con số 3300 chiếc của tháng
5
Tăng cường biện pháp kiểm soát nhập khẩu qua biên giới. Mặc dù chưa có số liệu
chính thức về kim ngạch nhập khẩu qua biên giới nhưng trên thực tế chúng ta có thể
thấy thị trường Việt Nam đang tràn ngập hàng nhập khẩu phi chính thức thừ Trung
Quốc và các nước trong khu vực. Tình trạng này kìm hãm sự phát triển cả các doanh
nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Một biện pháp có thể xem xét là áp dụng mức thuế
vừa phải để tránh trốn thuế, đồng thời đánh thuế kinh doanh nội địa đối với loại hàng
này dẫn đến tăng thu ngân sách hỗ trợ sản xuát trong nước.
Giám sát chặt chẽ tín dụng thương mại, vay nợ nước ngoài để nhập khẩu hàng hóa; các
khoản tín dụng phi chính thức, cho vay mua hàng trả chậm để hạn chế các kênh nhập
khẩu hàng tiêu dùng
Việc nới lỏng tỷ giá hối đoái cần được cân nhắc thận trọng, tránh để VND tăng giá quá
mức
Để hỗ trợ xuất khẩu Chính phủ thực hiện nhiều biện pháp:
- NHNN đảm bảo đủ vốn và mua hết ngoại tệ cho các doanh nghiệp làm hàng
xuất khẩu, xử lý ngay các ách tắc về tín dụng xuất khẩu cho từng trường hợp cụ
thể.
- Tăng cường hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại đối với hàng xuất khẩu.
- Cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất khẩu để giảm chi phí
phổ biến ở các cơ quan đơn vị nên tiềm năng tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng
rất lớn.Chính phủ kêu gọi các cơ quan nhà nước cắt giảm 10% chi tiêu hành
chính,các doanh nghiệp phải rà soát lại tất cả các khoản chi nhằm hạ giá thành và
phí lưu thông.
Theo thủ tướng Nguyễn tấn Dũng “Đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đầu tư của
doanh nghiệp nhà nước đang chiếm 45% tổng số đầu tư xã hội. Vì thế nếu chúng
ta cắt giảm 1 cách hợp lý nguồn đầu tư này chắc sẽ giảm áp lực về càu,giảm nhập
siêu và nhờ thế góp phần nâng cao hiệu quả cảu nền kinh tế”.
Chính phủ kêu gọi mọi người , mọi nhà triệt để thực hành tiết kiệm trong sản xuất và
tiêu dung nhất là năng lượng và nhiên liệu
Thứ sáu, tăng cường công tác quản lý thị trường, chống đầu cơ buôn lậu và gian lận
thương mại, kiểm soát việc chấp hành pháp luật nhà nước về giá.
Trong năm 2008 Ban chỉ đạo 127 tỉnh, các ngành, các lực lượng chức năng, UBND
các huyện, thành phố đã tích cực chủ động bám sát chỉ đạo của Chính phủ, của thủ
tướng Chính phủ, của các Bộ, của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh đã thu được những kết quả tích
cực, cơ bản đáp ứng được yêu cầu ngăn chặn có hiệu quả tình trạng buôn lậu, hàng giả
và gian lận thương mại trên các tuyến, địa bàn trọng điểm; ngăn chặn kịp thời các biểu
hiện của hành vi đầu cơ, găm hàng, tăng giá bất hợp lý, tung tin thất thiệt, góp phần
vào sự phát triển kinh tế, ổn định thị trường, bảo đảm an sinh xã hội, nhất là kiểm soát
đối với các mặt hàng thiết yếu.
Tuy vậy, tình hình buôn lậu vẫn diễn biến phức tạp, từng lực lượng trên từng địa bàn
còn hạn chế trong việc đề xuất những giải pháp kịp thời có hiệu quả với Ban chỉ đạo
127 tỉnh, UBND tỉnh; sự phối hợp giữa các ngành chức năng với nhau, với UBND các
huyện, thành phố còn chưa thật chặt chẽ, có lúc có nơi còn mang tính cục bộ của từng
lực lượng nên hiệu quả công tác chưa cao; chế độ thông tin, báo cáo còn chậm, chưa
thật kịp thời; một số văn bản của Chính phủ, của các Bộ, Ngành liên quan đã cũ, có
những điểm không còn phù hợp hoặc không rõ ràng nhưng chưa có sự điều chỉnh bổ
sung kịp thời Nhất là vào dịp tết Nguyên Đán lợi dụng sức mua tăng vọt, thị trường
hàng hóa nhộn nhịp đi cùng với sự sôi động hơn về hoạt động thương mại thì các hoạt
động liên quan đến buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại trên địa bàn cả nước sẽ
máy quay phim, thuốc lá ngoại, rượu ngoại…; các đối tượng còn tận dụng chính sách
ưu đãi đối với cơ quan ngoại giao, chuyên gia nước ngoài, phương tiện hoạt động
trong khu kinh tế cửa khẩu để gian lận sử dụng ô tô mang tên nước ngoài.
Bên cạnh đó, hoạt động gian lận của doanh nghiệp còn diễn ra dưới hình thức khai
thấp trị giá hải quan, nhập hàng vào khu miễn thuế niêm yết giá bán thấp, sau đó thông
đồng với “đầu nậu” tổ chức thuê người mua gom hàng theo tiêu chuẩn miễn thuế của
cư dân biên giới, người du lịch để vận chuyển về nước tiêu thụ. Nhiều mặt hàng được
nhập khẩu vào Việt Nam rồi lợi dụng cơ chế xin giấy chứng nhận xuất xứ C/O Việt
Nam (Certificate of Origin_Là giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa do cơ quan có thẩm
quyền hay đại diện có thẩm quyền tại nước xuất khẩu cấp để chứng nhận xuất xứ của
sản phẩm nước đó theo các quy tắc xuất xứ. C/O ưu đãi và C/O không ưu đãi) để xuất
khẩu ra nước ngoài. Điều này không những gây ảnh hướng xấu đến chất lượng hàng
hóa Việt Nam xuất khẩu mà còn gây rất nhiều khó khăn cho lực lượng điều tra bắt giữ
trong việc phân định và xử lý.
Chỉ đạo việc phát hiện, đấu tranh, xử lý buôn lậu và gian lận thương mại năm 2008,
Thượng tướng Lê Thế Tiệm, Uỷ viên TW Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an yêu cầu các
đơn vị chuyên trách trong CAND phải "nắm tay" cùng lực lượng quản lý thị trường,
thuế, hải quan, tài chính kiểm tra, ngăn chặn tội phạm hoạt động gây rối thị trường,
buôn bán hàng cấm, hàng lậu, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.
Cục C15(Cục sảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ) cho biết, ngoài kế
hoạch gửi về PC15 Công an các địa phương, đơn vị này sẽ lập các tổ công tác, phân
công cán bộ về một số địa bàn trọng điểm, đấu tranh theo tuyến. Ba tuyến trọng điểm
về buôn lậu: tuyến biên giới phía Bắc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai ); tuyến biên
giới miền Trung (Việt - Lào) và tuyến biên giới phía Nam (Việt Nam - Campuchia,
đặc biệt khu vực Tây Ninh, Long An ). Ngoài ra, buôn lậu trên tuyến đường biển và
đường sông (khu vực Tây Nam bộ) cũng được cảnh báo sẽ phức tạp trở lại, nhất là các
cảng: TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng
Để đấu tranh với nạn hàng lậu, hàng giả, rõ ràng không chỉ đấu tranh với đối tượng
buôn bán, vận chuyển mà còn với hành vi tiêu cực của một số người được giao thẩm
quyền kiểm tra, kiểm soát.
doanh không có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, không đảm bảo điều kiện
kinh doanh theo qui định, như kinh doanh xăng dầu, khí đốt hóa lỏng, dịch vụ ăn uống,
dịch vụ y tế tư nhân, vận chuyển, giết mổ gia súc, gia cầm
Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đã được nâng cao; công tác kiểm tra,
kiểm soát việc vận chuyển, kinh doanh gia súc, gia cầm nhập lậu, không có giấy chứng
nhận kiểm dịch được tăng cường đã đem lại những kết quả nhất định.
Thực hiện thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm.Trưởng Ban 127 tỉnh cùng với các thành
viên Ban chỉ đạo 127 tỉnh là lãnh đạo Sở Tài chính, Sở Công Thương, Chi cục QLTT
tỉnh đã có các đợt kiểm tra, làm việc với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh đầu
mối các mặt hàng thiết yếu thuộc danh mục nhà nước bình ổn giá. Qua đó đã nắm bắt
được tình hình thị trường, định hướng cung cầu hàng hoá, chấn chỉnh hoạt động sản
xuất kinh doanh thương mại trên thị trường.
Đoàn kiểm tra liên ngành về giá cả thị trường do UBND các tỉnh đã thành lập đã tổ
chức kiểm tra các đơn vị sản xuất, đơn vị kinh doanh đầu mối một số mặt hàng thiết
yếu thuộc danh mục nhà nước bình ổn giá như gạch xây dựng, xi măng, sắt xây dựng,
lương thực, vận tải Tính đến 15/10 /2008 lực lượng kiểm soát Hải quan đã phát
hiện, bắt giữa 12.357 vụ, trị giá hàng vi phạm ước tính 275 tỷ 20 triệu đồng.
Nhìn chung, trong năm 2008 công tác phối kết hợp giữa các lưc lượng chức năng đã
được cải thiện và nâng cao cả về chất và số lượng. Các Sở, ngành đã thành lập nhiều
Đoàn kiểm tra liên ngành có sự tham gia của nhiều đơn vị, qua đó đã phát huy được
sức mạnh tổng hợp, trí tuệ tập thể. Đây là một yếu tố hết sức quan trọng góp phần
hoàn thành nhiệm vụ công tác năm 2008 của mỗi cơ quan, đơn vị.
Tuy nhiên, công tác phối kết hợp mới chỉ dừng lại ở việc thực hiện kiểm tra kiểm soát
mà ít được triển khai sâu rộng sang các lĩnh vực khác như phối hợp đào tạo, tập huấn
nâng cao trình độ nghiệp vụ, nhận thức của các cán bộ công chức thực thi; phối hợp
trong công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn pháp luật.
Thứ bảy, tăng cường các biện pháp hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân,
mở rộng việc thực hiện các chính sách về an sinh xã hội. Điển hình là từ nay cho
đến hết tháng 6/2008, chưa tăng giá điện, than, xăng, dầu, giữ ổn định giá xi măng,
phân bón, nước sạch, thuốc chữa bệnh, vé máy bay, tàu hỏa, vé xe buýt, mức thu
tích cực cho dù thách thức ở phía trước vẫn còn rất lớn.
Biểu hiện dễ thấy là chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 đã chậm lại và giảm xuống còn 2,99
% sau khi tăng “nóng” trong tháng 2. Đây được coi là thành công bước đầu của
việc áp dụng các biện pháp về chống lạm phát của chính phủ, trong đó thắt chặt
tiền tệ là biện pháp chủ chốt nhất.
Sang tháng 4, nhiều mặt hàng đã bắt đầu giảm giá sau 1 thời gian dài biến động mạnh,
nhất là những mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân như
vật liệu xây dựng,phân bón, xăng dầu, lương thực thực phẩm và vé tàu.
Đến thời điểm này giá lương thực thực phẩm tại 2 thành phố có sức tiêu thụ hàng hóa
lớn nhất nước là Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu giảm.
Với dà tiến triển tích cực này cộng với cam kết giữ nguyên hoặc giảm giá bán trong
quý tới của nhiều hiệp hội, doanh nghiệp, chỉ số tiêu dung sư báo chắc chắn sẽ
thấp.
Dù vậy giới chuyên gia cũng bày tỏ lo ngại về nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục phải
đối mặt với những khó khăn, thách thức mới do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách
quan và chủ quan.
Tiếp tục nỗ lực bình ổn thị trường, thủ tướng chính phủ đã kí ban hành và yêu cầu các
bộ, ngành địa phương thực hiện nghị quyết về các biện pháp kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.Nghị quyết
đặc biệt nhấn mạnh đến việc cắt bỏ các công trình đầu tư kém hiệu quả, những
khoản chi tiêu không cần thiết.
2. Công cụ tỉ giá
Phần 1: Sử dụng công cụ tỷ giá trong chính sách kiềm chế lạm phát tại Việt Nam năm
2008
1.Chính sách đưa ra là tăng nh• VND để tỷ giá giữa VND và USD giảm,
2.Tác động của việc linh hoạt tỷ giá để VNĐ lên giá(1)
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay tác giả kiến nghị Việt Nam nên mạnh dạn
sử dụng chính sách tỉ giá linh hoạt. NHNN nên nới rộng biên độ dao động của
VND, giảm việc phát hành VNĐ mua lại lượng ngoại tệ chảy vào Việt Nam, trong
ngắn hạn để cơ chế thị trường tác động nhiều hơn nữa vào tỷ giá tức là cho phép
tháng đầu năm ước đạt 2,278 triệu tấn, tăng 5%. Diện tích trồng rừng cũng tăng
7,7% so với cùng kỳ năm trước.
Mặc dù nền kinh tế gặp khó khăn, nhu cầu tiêu dùng giảm sút song tổng mức bán lẻ
hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 6 vẫn tăng 2,3% so với tháng 5 đưa tổng mức
lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ xã hội 6 tháng tăng 20% so với cùng kỳ.
Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 27,6 tỷ USD, giảm 10,1% so với
cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu tháng 6 ước đạt 5,9 tỷ USD, tăng 4,1% so với
tháng 5. Tính chung kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đạt 29,7 tỷ USD, giảm 34% so
với cùng kỳ.
Tuy nhiên tháng 6 cũng là tháng thứ 3 liên tiếp Việt Nam nhập siêu trở lại sau 3 tháng
đầu năm xuất siêu. MPI dự báo riêng tháng 6 nhập siêu có thể lên tới 1 tỷ USD,
tính chung nhập siêu 6 tháng hơn 2,1 tỷ USD.
Thu ngân sách nhà nước tính theo lũy kế từ đầu năm đến nửa đầu tháng 6 đạt 49,3%
dự toán cả năm.
6 tháng đầu năm có hơn 40 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, tăng 14% so với
cùng kỳ. Mức giải ngân ODA 6 tháng đầu năm đạt 1,27 tỷ USD, bằng 67% kế
hoạch năm.
Theo báo của Tổng cục thống kê, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 năm 2009 tăng 0,55% so
với tháng 5 và tăng 0,82% so với tháng 12/2008.
II. Mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế, xã hội của năm 2009 cần được xác định là:
tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm phát, chủ động hạn chế tác động tiêu cực của khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô; chăm
lo tốt hơn an sinh xã hội; duy trì tăng trưởng hợp lý, bền vững; giữ vững ổn định
chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện thực
hiện thắng lợi "Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010".
"Theo thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:
Một số chỉ tiêu kinh tế- xã hội quan trọng trong năm 2009