50 Giải pháp để kiềm chế lạm phát ở Việt Nam  - Pdf 23


1
MỤC LỤC Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG
5
1/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 7
2/ ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU 8
3/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 8
4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9

4.1/ Phương pháp luận 9
4.2/ Phương pháp 9
5/ Ý NGHIÃ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 11

CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 13

1.1/CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT–ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT
13
1.1.1/ Các quan điểm về lạm phát 13
1.1.2/ Đo lường lạm phát
13
1.2/ CÁC LOẠI LẠM PHÁT 14
1.2.1/ Lạm phát vừa phải 14
1.2.2/ Lạm phi mã 14
1.2.3/ Siêu lạm phát 15
1.3/ NGUYÊN NHÂN GÂY RA LẠM PHÁT 16

NĂM 2006 45
2.4.1/ Các yếu tố làm giảm lạm phát 45
2.4.2/ các yếu tố làm tăng lạm phát 49

CHƯƠNG III
CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 53

3.1/ MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG HƯỚNG TỔNG QUÁT 5 NĂM 2006 –
2010 CỦA VIỆT NAM 53
3.2/ ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN
HIỆN NAY 54
3.2.1/ Cách tính lạm phát hiện nay 54
3.2.2/ Đo lường lạm phát ở Việt nam bằng lạm phát cơ bản 56

3
3.2.3/ Xác đònh lại rổ hàng hoá 58 3.3/ CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LẠM PHÁT GÓP PHẦN ỔN
ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 –
2010 58
3.3.1/ Chính phủ kiểm soát lạm phát 59
3.2.1.1 Chống những hành vi trục lợi 59
3.2.1.2Cải cách tiền lương 61
3.2.1.3 Cải cách hành chính 61
3.2.1.4 Xây dựng một quy chế quản lý giá cả hợp lý 62
3.3.2/ Ngân hàng nhà nước trong việc kiểm soát lạm phát 66
3.2.2.1 Điều hành chính sách tiền tệ 66
3.2.2.2 Những vấn đề cần phải có sự phối kết hợp đồng bộ 70


ĐTNN Đầu tư nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTƯ Ngân hàng trung ương
NSNN Ngân sách nhà nước
OTC Thò trường phi tập trung
TCTD Tổ chức tín dụng
TNQD Thu nhập quốc dân
VND Đồng Việt Nam
XDCB Xây dựng cơ bản
XNK Xuất nhập khẩu
UBND Uỷ ban nhân dân
USD Đôla Mó
WFE Diễn đàn kinh tế thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
M Số lượng tiền tệ
ICOR Tỷ lệ thu nhập tăng thêm trên đầu tư
EC Khối tiền tệ chung Châu âu
LTTP Lương thực thực phẩm

5

DANH MỤC CÁC BẢNG

2003-2006 Trang 44
Bảng 2.21 Diễn biến giá cả một số mặt hàng của Việt Nam,
2004-2006 Trang 44

6
Bảng 2.22 Điều chỉnh thuế một số mặt hàng, 2005-2006 Trang 44
Bảng 2.23 Điều hành CSTT của NHNN 205-2006 Trang 46
Bảng 3.1 Quyền số giá tiêu dùng năm 2000 Trang 51
Bảng 3.2 Lãi suất ngân hàng nào cao nhất Trang67
Bảng PL1 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua cáctháng trong năm 2001
Trang75
Bảng PL2 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2002
Trang76
Bảng PL3 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2003
Trang77
Bảng PL4 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong năm 2004
Trang78
Bảng PL5 Tốc độ tăng giá tiêu dùng qua các tháng trong 6 tháng đầu
năm 2005 Trang79
Bảng PL6 Tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ 1986 đến
2006 Trang80
Bảng PL7 Kết qủa phân tích hồi quy giữa lạm phát và tăng trưởng kinh
tế theo phương pháp bình phương nhỏ nhất Trang 82
Bảng PL8 Kết qủa phân tích hồi quy giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp
theo phương pháp bình phương nhỏ nhất Trang 83
Bảng PL9 Kết qủa phân tích hồi quy giữa lạm phát và tỷ lệ sử dụng thời
gian lao động ở nông thôn theo phương pháp bình phương nhỏ
nhất Trang 84
BảngPL10 Những đòa chỉ thất thoát, lãng phí Trang 85
BảngPL11 Tốc độ tang giá tiêu dùng, giá lương thực thực phẩm từ 1990-

Có thể nói lạm phát luôn là một vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch
đònh chính sách kinh tế, và nhất là trong tình hình hiện nay, Việt Nam đã
trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới( WTO) thì
vấn đề này lại càng được các nhà hoạch đònh chính sách quan tâm nhiều
hơn. Trong năm 2004, chỉ số giá tiêu dùng của nước ta tăng 9,5 %, có
người nói chúng ta lên cơn sốt lạm phát và có người nói chúng ta chưa lạm
phát mặc dù chỉ số giá này đã tăng vượt quá ngưỡng mục tiêu đề ra ban
đầu (4- 5%), đến 2005 thì chỉ số giá tiêu dùng lại được khống chế chỉ còn
8,4% bằng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, năm 2006 chỉ số giá tiêu dùng
được khống chế ở mức 6,6% thấp hơn 1,6% so với tốc độ tăng trưởng kinh
tế. Diễn biến tình hình thay đổi của chỉ số giá tiêu dùng nước ta đã làm cho
các nhà hoạch đònh, nhà nghiên cứu phải tốn nhiều công sức để khống chế
nó.
Vậy nền kinh tế nước ta trong năm 2004, 2005, 2006 và những năm
trước đó có lạm phát hay không, và nếu có là bao nhiêu, là cao hay thấp,
mức lạm phát đó có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế, những nguyên
nhân nào gây ra lạm phát ở nước ta, là những vấn đề cần phải làm sáng tỏ,
để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thích hợp để kiểm soát lạm phát
góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10
năm 2001 – 2010 mà Đại hội IX của Đảng đã đề ra.

8
Lạm phát là một vấn đề phức tạp, có liên quan đến nhiều lónh vực,
nhưng với mong muốn bằng những kiến thức đã học được để đưa ra những
giải pháp, mặc dù có những giải pháp mới chỉ dừng lại ở những ý tưởng,

1
Website của NHNN

nhưng đây cũng là những giải pháp nhằm kiểm soát lạm phát được tốt hơn

đònh kinh tế vó mô giai đoạn 2007 – 2010, góp phần thực hiện thắng lợi
chiến lược phát triển kinh tế – xã gội 10 năm 2001 – 2010.
3/ MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI :

Để giải quyết những vấn đề đặt ra ở trên, luận văn cần trả lời được
những câu hỏi sau:
Một là: Nền kinh tế Việt Nam có bò lạm phát hay không ? Trong
đó tập trung vào trả lời cho giai đoạn 2001 – 2006, nổi lên là năm 2004,
mà cho đến nay vẫn còn hai luồng ý kiến trái ngược nhau.
Hai là: Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đối với tăng trưởng
kinh tế? Tỷ lệ thất nghiệp và cán cân thanh toán? Phương trình hồi quy xác
đònh mức độ tương quan giữa lạm phát với các nhân tố trên như thế nào ?
Bøa là: Có tồn tại một ngưỡng lạm phát ở nước ta hay không? Nếu
có thì ngưỡng đó là bao nhiêu ?
Bốn là: Những nguyên nhân chủ yếu nào gây ra lạm phát ở Việt
Nam thời gian qua ?
Năm là: Cách tính lạm phát ở Việt nam hiện nay có phù hợp với
điều kiện kinh tế – xã hội ở nước ta nữa hay không ? Nếu không thì nên
chọn cách tính nào khác (bước đầu đối chiếu với cách tính lạm phát của
một số nước trên thế giới). Nếu còn phù hợp thì có phải điều chỉnh gì
không ?
Sáu là: Lạm phát ở Việt Nam có chòu ảnh hưởng bới những biến
động kinh tế khu vực và thế giới hay không ?

4/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :
4.1/ Phương pháp luận :
Do vấn đề lạm phát có liên quan mật thiết đến nhiều vấn đề khác
như tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, cán cân thanh toán …
thuộc nhiều lónh vực khác nhau như tài chính Nhà nước, tín dụng ngân
hàng … nên khi nghiên cứu lạm phát phải đặt trong mối quan hệ tương hỗ

sai số cho phép là 5% (độ tin cậy đạt 95% trong các phân tích). Nếu phân
tích hồi quy cho kết quả nhưng không đảm bảo độ tin cậy thì kết luận kết
quả hồi quy không có ý nghóa về mặt thống kê. Cũng trong phương pháp
hồi quy, để đơn giản dãy số phân tích nhưng vẫn đảm bảo độ tin cậy, tác
giả chọn số liệu trong vòng 11 năm 1996 đến 2006 để chạy hàm hồi quy.
Tuy nhiên, chuỗi số liệu có thể mở rộng ra hoặc thu hẹp lại trong từng tình
huống nghiên cứu.
Để có thể thấy được vấn đề nghiên cứu có thể thay đổi như thế
nào qua thời gian, luận văn sử dụng phương pháp so sánh – đối chiếu
nhằm xem xét vấn đề trong mối tương quan, so sánh đối chiếu giữa những
thời kỳ khác nhau.

11
Ngoài ra, để mổ xẻ vấn đề nghiên cứu một cách tỷ mỉ, luận văn sử
dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành : Xem xét, nghiên cứu vấn đề
dưới nhiều góc độ, từ nhiều ngành khác nhau.
Do bản chất nghiên cứu khoa học bao giờ cũng có tính kế thừa,
nên trong luận văn có vận dụng kết quả nghiên cứu của một số chuyên gia
về các vấn đề có liên quan.
Cuối cùng, một phương pháp khác không kém phần quan trọng là
phương pháp chuyên gia : Tìm hiểu vấn đề thông qua hình thức thu thập ý
kiến của những người có nhiều kinh nghiệm (đặc biệt là các thầy cô giảng
viên), am tường trên từng lónh vực để từ đó rút ra những kết luận xác thực.

5/ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI :
Trong bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều bất ổn do chiến
tranh, xung đột, thiên tai, đặc biệt là nạn khủng bố thì Việt Nam trong
những năm gần đây được xem là điểm đến an toàn nhất, có tình hình
chính trò ổn đònh nhất. Nếu như chúng ta tạo được một sự ổn đònh nữa về
mặt kinh tế thì khả năng thu hút đầu tư nước ngoài là rất lớn, nhưng trước

Do vậy, đề tài đi vào nghiên cứu lạm phát với mong muốn nắm
vững hơn về diễn biến tình hình lạm phát ở Việt Nam thời gian qua và
những nhân tố tác động tới lạm phát để từ đó kiểm soát lạm phát tốt hơn,
góp phần tạo nên một sự ổn đònh về kinh tế, cùng với sự ổn đònh chính trò
giúp chúng ta thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đặt
ra.
Với những mục đích như trên, đề tài mang ý nghóa thiết thực đối
với công cuộc phát triển kinh tế hiện nay.
Toàn bộ nội dung của đề tài được thể hiện trong 3 chương :

Chương I
:

LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT
Chương II
:

LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA

Chương III : GIẢI PHÁP ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM


hiện của lạm phát, họ xem lạm phát là hiện tượng mức giá cả chung tăng
lên. Sự gia tăng này diễn ra với tốc độ cao và kéo dài.
1.1.2/ Đo lường lạm phát
Hiện nay, có nhiều phương pháp và mô hình dùng để tính lạm phát
cơ bản như :
- Phương pháp loại trừ (Exclusion method)
- Phương pháp điều chỉnh trung bình và phương pháp quyền số
điểm giữa.
- Mô hình cấu trúc VAR (Vector Autoregresion).
- Mô hình tham số cho việc dự đoán lạm phát cơ bản và diễn dòch

1
Lý thuyết tài chính – tiền tệ năm 1999. TS . Nguyễn Đức Thanh

quy trình lạm phát.

14
- Mô hình tham số của quy trình lạm phát.
Mỗi phương pháp, mô hình có những ưu điểm, nhược điểm riêng
và khó khăn riêng. Trong đó, phương pháp điều chỉnh trung bình được
công nhận rộng rãi và dễ áp dụng(phụ lục 12: xác đònh lạm phát cơ bản
bằng phương pháp điều chỉnh trung bình). Muốn sử dụng phương pháp này
trước hết cần thu thập thông tin về sự thay đổi giá cả hàng tháng của từng
mặt hàng có trong rổ hàng hóa. Để có được thông tin này, hiện nay ở Việt
Nam chỉ có Tổng cục thống kế mới nắm được. Do vậy, trong thời gian tới
Tổng cục thống kê và NHNN cần thu thập thông tin để tính lạm phát cơ
bản theo phương pháp điều chỉnh trung bình hoặc nghiên cứu sử dụng
phương pháp hoặc mô hình thích hợp để tính lạm phát cơ bản.
1.2/ CÁC LOẠI LẠM PHÁT
Căn cứ vào tốc độ lạm phát, lạm phát được chia thành 3 loại như

Trong lòch sử tiền tệ thế giới, người ta chia lạm phát ra thành 4 cấp
độ khác nhau để có những giải pháp chống lạm phát thích ứng: Các cấp độ
của lạm phát gồm: lạm phát ỳ – Là mức độ lạm phát thấp nhất từ 0% đến
không quá vài % - Cấp độ lạm phát này chủ yếu phản ánh tính khách quan
tuyệt đối của hiện tượng lưu thông hàng hoá – tiền tệ trong điều kiện chế
độ tiền giấy. Lạm phát này có thể lặp đi lặp lại trong một chuỗi thời gian
dài và nếu chỉ có nó, người ta có thể chủ động tính vào thành các chỉ tiêu
cân bằng trung hoà của nền kinh tế – Người ta chấp nhận và sẵn sàng
chung sống hoà bình với loại lạm phát được ví như căn bệnh kinh niên này
của lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ.
Mức độ cao hơn từ trên vài % đến mức lớn hơn không nhiều so với
tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải hay
kiển soát lạm phát được. Đối với loại này thì tuỳ theo chiến lược và chiến
thuật phát triển kinh tế mỗi thời kỳ mà các Chính phủ có thể chủ động
đònh hướng mức khống chế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao
nhiêu để gắn với một số mục tiêu kinh tế khác: Kích thích tăng trưởng kinh
tế, tăng cường xuất khẩu và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các năm tài khoá
nhất đònh. Tuy nhiên chỉ có thể chấp nhận có lạm phát vừa phải trong điều
kiện nền kinh tế chưa đạt tới trò giá sản lượng tiền năng so với điều kiện
hiện tại – Khi mà nhiều nhân tố của sản xuất vẫn còn nằm trong tình
trạng ngủ yên hoặc chưa có phương án khả thi để phát huy các tiềm năng
đó.
Lạm phát phi mã là cấp độ cao thứ 3 có tỷ lệ lạm phát bình quân/
năm từ mức trung bình của 2 con số đến đỉnh cao của 3 con số. Đây là tỷ lệ
lạm phát vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của NHTƯ.
Cấp độ siêu lạm phát là hiện tượng khủng hoảng kinh tế đã đến
mức rất nghiêm trọng – Tỷ lệ lạm phát đã lên đến trên 3 con số – Thậm
chí người ta không thể đo lạm phát bằng số % mà bằng số lần tăng giá
trong năm. Điển hình là ở Đức trong các năm từ 1921 đến 1923 sau đại
chiến thế giới lần thứ nhất.

1.3.1/ Lạm phát cầu kéo ( Demand Pull Inflation)
Lạm phát cầu kéo hay lạm phát nhu cầu là lạm phát xảy ra do
tổng cầu tăng vượt quá mức cung hàng hóa của xã hội, dẫn đến áp lực làm
tăng giá cả.
Khi nghiên cứu về lạm phát, Bentet Hanxen
1
đã viết “ Bởi vì nhu cầu quá
mức có thể coi là nguyên nhân của lạm phát cho nên chúng ta có thể công
nhận rằng lạm phát, đó là tình huống ở đó tồn tại quá mức rộng

17
khắp đối với nhiều mặt hàng trên thò trường”. Trong lạm phát cầu kéo, tiền
tệ đồng thời có 2 vai trò: vừa là nền tảng, vừa là nguyên nhân cực.Trong
lạm phát chi phí đẩy tiền tệ cũng là cơ sở của lạm phát nhưng đóng vai trò
thụ động, nghiã là tiền tệ sẽ bò cuốn vào dòng xoáy của giá cả sản xuất.
Vậy, nguyên nhân nào làm cho tổng cầu tăng lên? Có thể chỉ ra
một số nguyên nhân cơ bản như sau :
- Chi tiêu của Chính phủ tăng lên dẫn đến số lượng tiền tệ M gia
tăng, làm cho mức cầu về hàng hoá tăng.
- Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn
ở trong nước, ngoài nước hoặc NHTƯ. NHTƯ ứng trước cho NSNN tức là
NHTƯ đã phát hành tiền qua ngõ chính phủ, vì vậy khối lượng tiền tệ lưu
thông tăng. Vay nước ngoài cũng làm khối lượng tiền tệ tăng. Vay trong
nước khi trả mà thu không đủ chi cũng phải phát hành và làm cho khối
lượng tiền tệ tăng.Khối lượng tiền tệ tăng làm cho tổng chi tiêu bằng tiền
tăng.
- Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng lên do mức thu thập tăng
hoặc lãi suất giảm.
- Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự
gia tăng tốc độ lưu thông tiền tệ. Nếu dân chúng có khuynh hướng thích

Chi phí tăng lên có thể xuất phát từ những nguyên nhân sau :
- Mức tăng tiền lương vượt quá mức tăng năng suất lao động : Các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thò trường thường phải chòu rất nhiều áp lực
về vấn đề lương tiền. Trong ngắn hạn chi phí nhân công ổn đònh do bò hạn
chế bởi hợp đồng lao động nhưng trong dài hạn do áp lực của công đoàn,
do thuế thu nhập và các yếu tố khác làm cho nhân viên tạo sức ép nâng
tiền lương lên, khi lương tăng, giá cả hàng hoá sẽ tăng. Quy trình này tác
động bởi yếu tố hành chính, có nghóa khi giá cả tăng lên, các doanh nghiệp
phải tăng giá bán để đảm bảo lợi nhuận. Khi giá cả hàng hoá nói chung và
tiêu dùng nói riêng tăng lên thì người lao động tìm mọi cách để tăng lương.
Khi lương tăng, giá cả lại tăng. Đến lượt mình, các doanh nghiệp lại tăng
giá bán để đảm bảo lợi nhuận. Adam Smit
1
gọi sự vận hành của cơ chế
này là đường xoáy trôn ốc.
- Do giá nhập khẩu tăng lên tác động trực tiếp tới giá cả trong nước
(nếu là hàng tiêu dùng trực tiếp) hoặc tác động gián tiếp thông qua việc
làm tăng chi phí sản xuất (nếu là đầu vào của quá trình sản xuất). Giá
hàng nhập khẩu tăng lên có thể do lạm phát của nước ngoài cao làm cho
giá nguyên liệu ở nước xuất khẩu tăng, hay do đồng nội tệ bò mất giá so
với đồng tiền của những nước có quan hệ mậu dòch…
- Do thuế suất tăng lên làm ảnh hưởng tới mức sinh lời của các nhà

1
Nhà kinh tế học người Scotland19
đầu tư do vậy đẩy giá cả tăng lên. Để duy trì mức sinh lời mong muốn,
hoặc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ lợi nhuận bằng biện pháp tăng giá bán

động bất thường về giá trò tiền tệ và làm sai lệch toàn bộ thước đo các
quan hệ giá trò, ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế xã hội. Có thể kể ra
một số hậu quả của lạm phát như sau :

20
Một là: Lạm phát kìm hãm tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng đến
mọi
lónh vực của đời sống kinh tế xã hội.
Lạm phát làm cho thu nhập thực của người lao động bò giảm sút,
có thể kéo theo các cuộc đình công đòi tăng lương với qui mô lớn, dài
ngày làm ngừng trệ sự tăng trưởng kinh tế.
Lạm phát còn làm cho lãi suất danh nghóa tăng lên bởi tỷ lệ lạm
phát dự tính tăng lên( lãi suất thực = lãi suất danh nghiã – tỷ lệ lạm phát),
nếu lạm phát dự tính không phù hợp với lạm phát thực tế nó sẽ làm ảnh
hưởng đến mức lãi suất thực. Kết quả là ảnh hưởng đến tiết kiệm và đầu
tư, cuối cùng là ảnh hưởng đến mức tăng trưởng kinh tế.
Trong lónh vực sản xuất kinh doanh, do lạm phát, giá cả vật tư
hàng hoá, nguyên liệu tăng, làm cho khu vực sản xuất kinh doanh mỗi
ngày một thu hẹp, ngượv lại dòch vụ, thương mại lại phát triển(buôn bán có
lợi hơn)dẫn đến khủng hoảng kinh tế và trật tự kinh tế bò rối loạn.
Trong lónh vực đầu tư, sự biến động bất thường của lạm phát gây
khó khăn cho việc xác đònh mức sinh lợi chính xác của các khoản đầu tư,
khiến cho các nhà đầu tư ngần ngại khi tiến hành đầu tư, nhất là đầu tư
vào các dự án dài hạn, làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế.
Trong lónh vực lưu thông phân phối, giá cả hàng hoá tăng đã gây
nên tình trạng đầu cơ tích trữ hàng hoá vì thế làm mất cân đối giả tạo quan
hệ cung cầu làm cho lónh vực lưu thông bò rối loạn.
Hai là: Lạm phát làm cho đời sống dân cư gặp khó khăn hơn.
Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghóa tăng lên, giá cả
hàng hoá tăng, trong khi thu nhập không tăng, hoặc tăng chậm(đặc biệt là

thiết.

1.5 / CÁC NHÓM GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở CÁC
NƯỚC
Việc đưa ra các giải pháp kiểm soát lạm phát thường xuất phát từ
sự phân tích đúng đắn nguyên nhân gây nên lạm phát, bao gồm nguyên
nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp. Để giải quyết các nguyên nhân sâu
xa cần phải có thời gian và đi kèm với các cuộc cải cách lớn. Còn nguyên
nhân trực tiếp của bất kỳ cuộc lạm phát nào cũng xuất phát từ các lý do
đẩy tổng cầu tăng quá mức hoặc tổng cung giảm do chi phí tăng lên.
Thông thường để tác động vào các nguyên nhân trực tiếp của lạm phát và
kiềm chế lạm phát ở tỷ lệ mong muốn, Chính phủ các nước sử dụng một
hệ thống các giải pháp tác động vào tổng cầu hoặc tổng cung nhằm làm
giảm sự gia tăng của tổng cầu hoặc khắc phục các nguyên nhân làm gia
tăng chi phí.
Nước Mỹ rất sợ lạm phát, nhưng họ vẫn không sợ vay nợ, phải
chăng là họ quản lý tốt và chi tiêu có hiệu quả nguồn vốn vay… chỉ khi
kinh tế suy thoái mới đẩy tiền ra để kích thích kinh tế tăng trưởng, nhưng

22
khi nền kinh tế vừa có dấu hiệu của lạm phát (mới chỉ có 2,5%/ năm) họ
đã tăng lãi xuất để kiềm chế lạm phát. Lạm phát ở Trung Quốc vừa mới
xuất hiện và cũng chỉ ở dưới mức 4%, họ đã giảm đầu tư để giảm nóng cho
nền kinh tế. Những quốc gia thò thò trường mới nổi trong đó có Chilê(từ
1980), Thái Lan(từ 2000) đã áp dụng rất thành công cơ chế lạm phát mục
tiêu( Inflation Targeting).
1.5.1/ Nhóm giải pháp tác động vào tổng cầu
Về phía chính phủ
: Chính phủ các nước có lạm phát thường tìm
cách ngăn chặn các nguyên nhân dẫn đến gia tăng khối tiền, đồng thời

Kết luận chương I:

Chương I cho thấy cho đến nay lạm phát vẫn là một đề tài được
tranh luận sôi nổi, hầu như các nhà kinh tế đều đồng ý khi lạm phát xảy ra
sẽ kéo theo tình trạng leo thang của giá cả, do vậy để đo lường lạm phát
người ta sử dụng các chỉ số giá trong đó thông dụng nhất là CPI. Lạm phát
tác động xấu hay tốt đối với nền kinh tế còn tùy thuộc vào mức độ của nó,
khi nhắc đến lạm phát người ta đều hình dung đến những hậu quả mà nó
để lại cho nền kinh tế, vì vậy các quốc gia có lạm phát đều tìm cách kiểm
soát lạm phát. Dựa trên hai nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát là cầu
kéo và chi phí đẩy mà các quốc gia đưa ra các giải pháp tác động vào tổng
cầu và tác động vào cung cùng với một hệ thống đồng bộ các giải pháp
khác.
Nhà nước bên cạnh vai trò là bộ máy quyền lực tối cao còn đảm nhiệm vai
trò quản lý kinh tế, nền kinh tế được kế hoạch hoá tập trung ở mức cao độ.
Trong lónh vực giao thông phân phối, từ năm 1976 đến năm 1980,
Chính phủ Việt Nam thực thi chính sách kiềm chế giá cả, cơ chế đó làm
chỉ số giá cả ở thò trường có tổ chức tăng không nhiều, nhưng chỉ số giá cả
ở thò trường tự do lại tăng khá cao, do vậy lạm phát ở Việt Nam trong giai
đoạn này là lạm phát“ngầm”. Do việc phát hành tiền bù đắp thiếu hụt
ngân sách liên tục với số lượng ngày càng lớn nhằm bù lỗ, bù giá và thực
hiện các dự án phát triển sau chiến tranh dã làm cho chỉ số giá tăng cao.

25Bảng 2.1 : Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1976 – 1980 (năm trước bằng 100%)
Năm Thò trường xã hội Thò trường có tổ
chức
Thò trường tự
do
1976 121,9 99,1 150,3
1977 118,6 101,0 138,0
1978 120,9 104,3 139,0
1979 125,2 103,3 140,0
1980 169,6 109,8 143,8
Nguồn: Ban vật giá Chính phủ(nay nhập vào cục quản lý giá thuộc Bộ
tài chính) Bảng 2.2: Mức tăng GDP và TNQD thời kỳ 1977 – 1980 ( %)
Năm Mức tăng GDP Mức tăng TNQD
1977 4,4 2,8


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status