Trình bày các biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam trong năm 2008 và tác động của các biện pháp đó đối với nền kinh tế - Pdf 10

Đề tài: Trình bày các giải pháp chính các biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam
trong năm 2008. Các giải pháp đó có tác động (tích cực hay tiêu cực) như thế nào đối
với nền kinh tế ở thời điểm hiện tại? Đánh giá của bạn về tính hiệu quả và kịp thời của
các giải pháp này.
I. LẠM PHÁT LÀ GÌ?
Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền
kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua
của đồng tiền. Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ
của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác.
II. NGUYÊN NHÂN CỦA LẠM PHÁT
Về mặt lý thuyết lạm phát có thể do các nhóm nguyên nhân:
Lạm phát do chính sách: thường xảy ra do những biện pháp tiền tệ mở rộng, phản
ánh thâm hụt thu chi ngân sách lớn và việc tài trợ thâm hụt bằng tiền tệ, thường là cội
rễ của lạm phát cao. Một ví dụ kinh điển đó là những trận siêu lạm phát ở áo và Đức
những năm 20 do mở rộng tiền tệ thái quá.
Lạm phát do chi phí đẩy: xảy ra do tăng chi phí và có thể phát triển ngay cả khi thất
nghiệp và việc sử dụng nguồn lực còn thấp. Vì tiền lương ( tiền công ) thường là chi
phí sản xuất quan trọng nhất, sự gia tăng tiền lương không phù hợp với tăng trưởng
năng suất có thể khơi mào cho quá trình lạm phát. Nhưng lạm phát do chi phí đẩy có
thể không dai dẳng nếu chính sách tiền tệ tác động vào, trong trường hợp đó, tiền
lương tăng dẫn tới thất nghiệp cao hơn thay vì lạm phát cao hơn.
Lạm phát do cầu kéo: xảy ra do tổng cầu vượt trội đẩy mức giá chung lên cao. Sự
thúc đẩy của cầu có thể xuất phát từ những cú sốc bên trong hay bên ngoài nhưng
thường hình thành từ những chính sách thu chi ngân sách hay tiền tệ mở rộng.
Nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam:
a. Nguyên nhân bên ngoài
Cũng như những quốc gia châu á khác, do đồng USD suy yếu trong những năm gần
đây đã tạo ra những cú sốc về tăng giá xăng dầu, giá vàng, giá lương thực thực
phẩm… từ đó tác động xấu đến giá cả ở VN. Giá cả thị trường thế giới liên tục tăng
cao: xăng dầu, sắt thép, phân bón, lúa mì, sợi, bông, chất dẻo, … Đồng thời những mặt
hàng nước ta xuất khẩu (gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, điều…) cũng xuất với giá tăng

4,7 đơn vị đầu tư để tạo ra một đơn vị tăng trưởng), hệ số này là rất cao so với các
nước khác trong khu vực. Tổng cầu tăng, nhưng tổng cung tăng hạn chế nên giá phải
tăng.
- Trong năm 2007, và đầu năm 2008 Nhà nước chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh
theo giá thị trường đối với một số loại hàng hóa, vật tư cơ bản như: điện, xăng dầu,
than,… làm ảnh hưởng đến việc tăng giá các hàng hóa khác.
- Chính sách tiền tệ năm 2007 cũng có những vấn đề cần xem xét, cung tiền (tổng
phương tiện thanh toán) tăng nhanh năm 2005 là 23.4%, năm 2006 là 33.6%, năm
2007 là 53.8%, tổng cộng 3 năm cung tiền M2 tăng 134.2%, trong khi 3 năm GDP chỉ
tăng 25.09%. Chênh lệch giữa cung tiền tăng trong 3 năm qua (134.5%) với tăng
trưởng kinh tế GDP (25.09%) là rất lớn, chắc chắn sẽ đè nặng lên giá cả trong nước, và
cuối năm 2007, đầu năm 2008 nó bộc phát mạnh là do có sự cộng hưởng bởi lạm phát
quốc tế (USD yếu) và thiên tai.
Chuyên gia IMF cho rằng, với chính sách hiện nay, Việt Nam đang nhập khẩu lạm
phát từ bên ngoài.
Tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng tăng cao, năm 2006 là +29.7%, năm
2007 tăng dư nợ cao nhất trong nhiều năm qua 43.7%, một số NHTM tăng trên 70%.
Các NHTM trong thời gian qua đã cung cấp được một lượng vốn lớn cho các doanh
nghiệp trong nền kinh tế để phát triển sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng cao, góp
phần tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng nóng của thị trường
chứng khoán và thị trường bất động sản, các NHTM cũng sẵn lòng cho vay đối với
những nhà đầu cơ trong lĩnh vực này. Nguồn vốn huy động ngắn hạn của ngân hàng
được đổ vào thị trường vốn dài hạn nhiều rủi ro, nếu bong bóng bất động sản có vấn đề
thì rủi ro tín dung là rất lớn. Điều cần lưu ý, một trong những nguyên nhân dư nợ tín
dụng tăng cao trong năm 2007 là do các ngân hàng thương mại tăng vốn điều lệ lên
nhanh + 56% (tăng 33.737 tỷ đồng), cuối năm 2006 tổng vốn điều lệ của tổ chức tín
dụng là 60.419 tỷ đồng, cuối năm 2007 là 94.156 tỷ đồng, thành lập mới nhiều ngân
hàng, làm tăng khả năng cho vay và áp lực trả lãi cổ đông, áp lực tăng giá cổ phiếu
trên thị trường do năm 2006 giá cổ phiếu đã tăng chóng mặt.
- Trong những năm qua, với những thành tựu phát triển kinh tế nổi bật cùng với chính

sách tiền tệ chặt chẽ. Một trong những mục tiêu của nhóm giải pháp này, theo Nghị
quyết, để giảm dần lãi suất huy động theo hướng thực hiện chính sách lãi suất thực
dương. Các hoạt động của ngân hàng thương mại về huy động, cho vay, tín dụng cần
được giám sát chặt chẽ, đảm bảo đúng quy định.
Thắt chặt tiền tệ là 1 hướng trong chính sách tiền tệ nhằm giảm lượng cung tiền trong
lưu thông. Khi lượng cung tiền vượt quá lượng cầu tiền sẽ dẫn đến lạm phát, do đó
mục tiêu chính của thắt chặt tiền tệ nhằm giảm mức lạm phát.
Mặt trái của việc thắt chặt tiền tệ:
-Khởi phát và đẩy mạnh cuộc đua tăng lãi suất. Quyết định rút tiền ra khỏi lưu thông
bằng tín phiếu sẽ tiếp thêm năng lượng cho cuộc đua tăng lãi suất của ngân hàng.
Nhiều người đem tiền đi gửi ngân hàng vì lãi suất tiền gửi tăng.Tuy nhiên lãi suất đầu
ra cũng không đứng yên, doanh nghiệp sẽ chuyển hết phần chi phí tăng thêm vào giá
bán làm cho giá cả tăng và mục tiêu giảm lạm phát bằng thắt chặt tiền tệ không thể
thực hiện được
-Tạo áp lực lên tăng trưởng và việc làm.
-Trở ngại cho thu hút vốn gián tiếp
Các quy đinh thắt chặt tiền tệ sẽ tạo ra cảm giác cho nhà đầu tư là nhà nước đang hi
sinh các thị trường vốn và thị trường chứng khoán để chống lạm phát. Điều nay có khả
năng sẽ làm xói mòn hơn nữa niềm tin của nhà đầu tư .
-Đồng tiền lên giá:
Áp lực tăng giá đồng tiền sẽ gây áp lực cho xuất khẩu. Hậu quả chung là làm cho xuất
khẩu bị giảm sút mạnh và hàng xuất khẩu bị giảm sức cạnh tranh.
Thứ hai, Chính phủ sẽ điều chỉnh chính sách tài khóa theo hướng kiểm soát chặt chẽ,
nâng cao hiệu quả chi tiêu công gồm tăng thu ngân sách vượt dự toán, giảm chi phí
hành chính.
Các hạng mục đầu tư sẽ được rà soát chặt chẽ. Cắt bỏ công trình đầu tư kém hiệu quả,
tập trung vốn cho những công trình sắp hoàn thành. Bộ Tài chính sẽ đảm trách việc rà
soát, đề xuất biện pháp chấn chỉnh hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước,
tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn. Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính
thực hiện sơ kết mô hình tập đoàn kinh tế trong quý IV năm 2008.

nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam. Một biện pháp có thể xem xét là áp dụng mức thuế
vừa phải để tránh trốn thuế, đồng thời đánh thuế kinh doanh nội địa đối với loại hàng
này dẫn đến tăng thu ngân sách hỗ trợ sản xuát trong nước.
Giám sát chặt chẽ tín dụng thương mại, vay nợ nước ngoài để nhập khẩu hàng hóa; các
khoản tín dụng phi chính thức, cho vay mua hàng trả chậm để hạn chế các kênh nhập
khẩu hàng tiêu dùng
Việc nới lỏng tỷ giá hối đoái cần được cân nhắc thận trọng, tránh để VND tăng giá quá
mức
Để hỗ trợ xuất khẩu Chính phủ thực hiện nhiều biện pháp:
- NHNN đảm bảo đủ vốn và mua hết ngoại tệ cho các doanh nghiệp làm hàng
xuất khẩu, xử lý ngay các ách tắc về tín dụng xuất khẩu cho từng trường hợp cụ
thể.
- Tăng cường hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại đối với hàng xuất khẩu.
- Cải cách thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động xuất khẩu để giảm chi phí
cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu
Việt Nam.
- Mở rộng thị trường mới.
- Kiểm soát xuất khẩu gạo ở mức 3,5-4 triệu tấn. Tháng 3/2008 Chính phủ cấm
ký thêm các hợp đồng xuất khẩu gạo tới tháng 6 để đảm bảo nguồn cung trên thị
trường nội địa, giữ vững an ninh lương thực và kiềm chế sự tăng giá quá mức
của nhóm hàng này.
- Nâng thuế xuất khẩu than, dầu thô nhằm hạn chế xuất khẩu và đảm bảo nhiên
liệu cho nhà máy điện cũng như các nhà máy lọc dầu tương lai.
Thứ năm, Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng,
nhất là nhiên liệu và năng lượng. Các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các
khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông. Từ đó, giải pháp triệt để thực
hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng được triển khai thành công.
Hiện nay tình trạng lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng diễn ra khá phổ biến ở các cơ
quan đơn vị. Tiềm năng tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng là rất lớn. Bối cảnh quốc
tế và trong nước đã làm rõ những yếu kém của nền kinh tế và trong cơ cấu của nền

vào sự phát triển kinh tế, ổn định thị trường, bảo đảm an sinh xã hội, nhất là kiểm soát
đối với các mặt hàng thiết yếu.
Tuy vậy, tình hình buôn lậu vẫn diễn biến phức tạp, từng lực lượng trên từng địa bàn
còn hạn chế trong việc đề xuất những giải pháp kịp thời có hiệu quả với Ban chỉ đạo
127 tỉnh, UBND tỉnh; sự phối hợp giữa các ngành chức năng với nhau, với UBND các
huyện, thành phố còn chưa thật chặt chẽ, có lúc có nơi còn mang tính cục bộ của từng
lực lượng nên hiệu quả công tác chưa cao; chế độ thông tin, báo cáo còn chậm, chưa
thật kịp thời; một số văn bản của Chính phủ, của các Bộ, Ngành liên quan đã cũ, có
những điểm không còn phù hợp hoặc không rõ ràng nhưng chưa có sự điều chỉnh bổ
sung kịp thời... Nhất là vào dịp tết Nguyên Đán lợi dụng sức mua tăng vọt, thị trường
hàng hóa nhộn nhịp đi cùng với sự sôi động hơn về hoạt động thương mại thì các hoạt
động liên quan đến buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại trên địa bàn cả nước sẽ
có chiều hướng gia tăng.
Mặc dù mạng lưới cơ quan quản lý, kiểm soát an ninh thị trường khá đa dạng, có mặt
ở tất cả các địa phương nhưng rõ ràng cách kiểm tra, kiểm soát nhiều khi vẫn nặng
tính hành chính khiến vấn nạn hàng giả, hàng lậu vẫn luôn nhức nhối.
Phương thức, thủ đoạn của hành vi buôn lậu ngày càng tinh vi và sử dụng các phương
tiện kỹ thuật hiện đại. Thậm chí, các đối tượng được trang bị máy thông tin liên lạc để
theo dõi lực lượng chức năng và điều hành buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa
qua biên giới. Điều này gây khó khăn và là một thách thức rất lớn đối với lực lượng
kiểm tra, kiểm soát.
Tại các cảng nội địa và một số bến bãi có địa hình phức tạp, khó quan sát, hàng hóa
thẩm lậu thường được tập kết với số lượng lớn và vận chuyển đi Trung Quốc hoặc
dùng bộ hồ sơ lưu thông nội địa để hợp thức hóa khi có lực lượng kiểm soát, đưa tàu
gần đến lãnh hải quốc tế rồi rẽ đi xuất lậu. Nổi bật trên các tuyến Biển là tình trạng vận
chuyển hàng lậu hoạt động về ban đêm và sử dụng tàu công suất lớn. Khi bị phát hiện,
bắt giữ, các đối tượng sẵn sàng vứt hàng xuống biển.
Đặc biệt, một số đối tượng nước ngoài còn lợi dụng phương thức vận chuyển hàng hóa
bằng container và thông qua các hình thức chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất, thậm chí
hàng gửi kho ngoại quan cũng có hành vi vận chuyển hàng cấm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status