Mở Đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ lâu và thực sự t tởng Phật giáo đã trở
thành một góc trong đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam. Từ đó có thể nói
rằng, bên cạnh hình ảnh "cây đa, bến nớc, sân đình" thì hình ảnh mái chùa
cũng là biểu tợng thân thơng, thấm sâu vào tiềm thức và trở thành một trong
những giá trị văn hóa của con ngời Việt Nam. Đó là nét chung nhất cho sự ảnh
hởng của Phật giáo đối với dân tộc Việt Nam, mà chủ yếu là dân tộc Kinh. Khi
chọn đề tài này chúng tôi xuất phát từ ba lý do cơ bản nh sau:
Thứ nhất, xuất phát từ thực tiễn của đạo đức. Trong những năm gần
đây, nớc ta xây dựng nền kinh tế thị trờng, định hớng xã hội chủ nghĩa thì bên
cạnh những thành tựu đã đạt đợc, nền kinh tế thị trờng cũng bộc lộ những hiện
tợng đáng lo ngại về lối sống và đạo đức. Điều này đã đợc các nghị quyết của
Đảng chỉ ra. Thực ra, kinh tế thị trờng là sản phẩm của nhân loại, nhng hiện nay
ở nớc ta, mặt tiêu cực của nó gắn với chủ nghĩa t bản đang là một hiện trạng
đáng lo ngại. Đó là cha nói đến sự ảnh hởng của đạo đức phong kiến trong một
số không ít cán bộ lãnh đạo và quản lý của chúng ta đang là vấn đề đáng phải
quan tâm.
Tiếp theo là trong sự nghiệp đào tạo con ngời, việc giáo dục đạo đức cho
thế hệ trẻ hiện nay chiếm một vị trí rất quan trọng. Nó không những chỉ ở mặt
chiến lợc mà còn nhằm mục tiêu trớc mắt là ngăn chặn sự thoái hóa, sa đọa về
lối sống, đạo đức, trớc sự tác động của nền kinh tế thị trờng cùng với những mặt
tiêu cực của văn hóa ngoại lai. Mục tiêu về công tác giáo dục của Đảng và Nhà
nớc ta là đào tạo ra những con ngời có tầm trí tuệ cao, thể chất cờng tráng, đời
sống tinh thần và đạo đức trong sáng, giàu bản lĩnh và thực sự có ý thức trách
nhiệm công dân. Để đạt đợc mục tiêu đó thì ngoài các nhiệm vụ khác, chúng ta
cũng phải coi lại những giá trị đạo đức truyền thống, tìm ra những thành tố nào
1
có thể góp phần cho việc giảng dạy đạo đức trong nhà trờng, đi đôi với việc giáo
dục đạo đức và lối sống cho toàn xã hội. Đó cũng là một vấn đề cần đặt ra và
phải giải quyết.
năm, theo chúng tôi còn có những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
vào những năm của thế kỷ XX và hiện nay. Những công trình này sẽ đợc liệt kê
cụ thể trong phần danh mục tài liệu tham khảo, ở đây chỉ xin điểm qua một số
tài liệu đáng lu ý:
Cuốn "ảnh hởng của các hệ t tởng và tôn giáo đối với con ngời Việt
Nam hiện nay" do Giáo s Nguyễn Tài Th chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1997. Phần viết về Phật giáo, các tác giả đã tập trung vào các khái
niệm từ, bi, hỉ, xả cùng các giá trị t tởng của Phật giáo với t tởng của con ngời
Việt Nam. Cuốn "Đạo đức học Phật giáo" do Hòa thợng Tiến sĩ Thích Minh
Châu giới thiệu và Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành năm 1995 là
những bài tham luận của nhiều tác giả. Nội dung cuốn sách này, các tác giả đã
nêu những cơ sở và nhiều phạm trù đạo đức Phật giáo, phân tích để cắt nghĩa
rõ thêm nội dung của chúng nh giới, hạnh, nguyện, thiện, ác v.v... Cuốn "Việt
Nam văn minh sử lợc khảo" của Giáo s Lê Văn Siêu, Bộ Giáo dục, Trung tâm
học liệu Sài Gòn 1972. Nội dung cuốn sách khi bàn về lịch sử văn minh Việt
Nam, tác giả đã chứng minh những đặc điểm của Phật giáo để tạo cho tôn giáo
này xâm nhập một cách dễ dàng vào Việt Nam. Cuốn "Có một nền đạo lý Việt
Nam" của Giáo s Nguyễn Phan Quang, Nxb TP. Hồ Chí Minh 1996. Trong
cuốn sách này, tác giả đã cho ngời đọc thấy sự hòa nhập của đạo đức Phật giáo
trong đạo lý dân gian Việt Nam. Cuốn "Đại cơng triết học Phật giáo Việt
Nam", tập 1 của Phó Giáo s Tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 2002. Phần khai thác ở nội dung cuốn sách là tác giả đã khái quát
những nét cơ bản về quá trình du nhập cũng nh ảnh hởng của Phật giáo với
3
dân tộc Việt Nam v.v... Ngoài những công trình nghiên cứu có tính chất
chuyên đề thì đạo đức Phật giáo còn đợc bàn xen kẽ, rải rác trong các tác
phẩm văn học, mỹ học, sử học và tôn giáo học v.v...
Nhận xét chung thì tất cả những công trình nghiên cứu mà chúng tôi
có dịp tham khảo đều mang tính nghiêm túc và rất đáng trân trọng. ở khía
cạnh này hay khía cạnh khác, các tác giả đã đề cập những vấn đề cần thiết để
gắng đa ra một số thành tố mới. Chúng tôi khái quát nội dung nghiên cứu để
xây dựng chúng theo hệ thống riêng của mình. Từ đó, lý giải về sự ràng buộc
lẫn nhau giữa các phạm trù giáo lý với các phạm trù đạo đức Phật giáo. Bên
cạnh đó, một số quan niệm, một số phạm trù đạo đức Phật giáo cũng cần phải
bàn thêm. Góp phần tìm ra nguyên nhân, đặc điểm của sự dung hợp và ảnh h-
ởng lẫn nhau giữa đạo đức Phật giáo với đạo đức Việt Nam từ quá khứ đến hiện
đại.
Khái quát vai trò của đạo đức Phật giáo trong việc dung hợp, tham gia
giáo dục lối sống và đạo đức hiện nay. Qua đó, kiến nghị những giải pháp để
đạo đức Phật giáo phát huy u điểm, khắc phục hạn chế trong việc ảnh hởng đến
đời sống đạo đức của xã hội ta hiện nay.
6. ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả của luận án góp phần dùng làm tài liệu tham khảo trong việc
nghiên cứu và giảng dạy môn Đạo đức học. Luận án cũng có thể dùng làm tài
liệu tham khảo trong việc giảng dạy các môn học nh: Lịch sử triết học phơng
Đông; Lịch sử t tởng phơng Đông và Việt Nam.
7. Giới hạn đề tài
5
Phạm vi của luận án là từ góc độ triết học Mác - Lênin để nghiên cứu
một hệ thống đạo đức của một tôn giáo cụ thể, du nhập và ảnh hởng đến một
nền đạo đức của một dân tộc cụ thể. Từ đó, tuy nội dung luận án có sử dụng các
t liệu, luận cứ, luận chứng cho việc chuyển tải ý tởng hoặc so sánh để làm nổi
bật những vấn đề nghiên cứu, nhng trọng tâm của đề tài là tuân thủ theo tên gọi
của nó.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận án gồm 3 chơng, 6 tiết.
6
Chơng 1
Đạo Đức Phật Giáo
khó chịu đựng ấy là khổ. Nh vậy, cái khổ ở góc độ này nó thờng tỷ lệ thuận với
sự hiểu biết. Khác với một số tôn giáo, khi nói về cái khổ Phật không coi đó là
tội lỗi mà cho rằng, do chúng sinh từ mê lầm (vô minh) mà ra. Phật quan niệm
cái khổ nhất của con ngời và chúng sinh là vô minh và bao giờ diệt hết vô minh
là hết khổ. Đơng thời, để chống lại quan niệm của Bà-la-môn giáo cho con ngời
khổ vì đầy tội lỗi nên phải tắm nớc sông để rửa tội, Phật khẳng định:
Tắm gội nớc sông không rửa đợc tội lỗi. Nếu mà nớc có thần
lực để rửa sạch tội ác thì những con cá sấu sát nhân kia phải lên
Thiên đàng hết. Nớc không có phép màu tẩy rửa chúng ta... Trong
trắng là ngời trung ngôn và chính trực [23, tr. 12-13].
Từ mục đích diệt vô minh, Phật giáo đa ra và triển khai các phẩm phơng
tiện xuyên suốt từ tinh thần giáo lý đến quan điểm đạo đức. Dĩ nhiên, ngoài
những chuẩn mực sơ khai thì đạo đức của một học thuyết nào cũng đợc rút ra từ
kết quả giáo lý của học thuyết ấy. Từ đó, trớc hết có thể rút ra vài điểm cơ bản
làm cơ sở cho đạo đức của Phật giáo.
Thứ nhất, Phật giáo đặt trọng tâm vào con ngời. Con ngời ở đây là con
ngời hoặc chúng sinh cụ thể, chứ không phải con ngời hoặc chúng nói chung.
Về vấn đề này, trong nhiều bài giảng của đức Phật, Ngài thờng sử dụng phơng
pháp đối thoại trực tiếp, khích lệ và chỉ rõ những khiếm khuyết cũng nh trách
nhiệm của mỗi ngời một cách trực tiếp. Chẳng hạn, khi Phật trả lời câu hỏi của
thôn trởng Asibandhakaputta về việc có cầu khẩn cho ngời làm ác vãng sinh lên
cõi Ch thiên đợc không, qua tỷ dụ của việc cầu khẩn cho một tảng đá lớn nổi
lên mặt nớc, Ngài kết luận:
8
Cũng vậy, này thôn trởng. Ngời nào sát sanh, lấy của không
cho, sống theo tà hạnh trong các ái dục, nói láo, nói hai lỡi, nói lời
độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi quần
chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dơng, chấp tay đi
cùng khắp, nói rằng: "mong rằng ngời ấy sau khi thân hoại mạng
chung, đợc sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này". Nhng ngời ấy
ànanda, là những vị tối thợng trong hàng Tỷ kheo của Ta, nếu những
vị ấy tha thiết học hỏi [38, tr. 240-241].
Nhất quán với quan điểm trên, những lời dạy cuối cùng của đức Phật đã
thể hiện rõ: "Ta cũng nh vị lơng y biết bịnh mách thuốc, uống hay không chẳng
phải lỗi của y s; lại cũng nh kẻ hớng đạo giỏi, chỉ ngời đờng tốt nghe mà không
đi chẳng phải lỗi tại kẻ chỉ đờng" [99, tr. 400].
Tất cả những lời chỉ giáo nh trên, việc xác định đặt trọng tâm vào con
con ngời trong đạo đức Phật giáo đã rõ ràng. Xác định việc đặt trọng tâm vào
chính con ngời hay chúng sinh cụ thể, giáo lý Nhân quả và thuyết Nghiệp báo
của Phật giáo xác định rõ con ngời là chủ nhân, là kẻ thừa tự của nghiệp. Do
vậy, nếu cái khổ phát sinh từ đó, thì cũng từ đó để phát sinh việc dập tắt khổ
đau hay là từ đó để phát sinh hạnh phúc.
Thứ hai, cơ sở trực tiếp của đạo đức Phật giáo là thuyết Nghiệp báo.
Đây là luật Nhân quả của đạo Phật đợc học thuyết này triển khai, áp dụng để
nghiên cứu sâu vào lĩnh vực của đời sống của con ngời.
Đáng tiếc là các sách nghiên cứu và phổ biến về Phật giáo hiện nay cha
có sự thống nhất về khái niệm "nghiệp" (Karma), trong khi nghiệp là một tiêu
chí rất quan trọng để lý giải các chuẩn mực đạo đức cũng nh hành vi đạo đức
của Phật giáo. Qua nghiên cứu và so sánh quan niệm của các học giả để thâu
tóm thì nên hiểu nghiệp là thế này: Nghiệp là một khái niệm thuộc về đời sống
10
của con ngời nói riêng và chúng sinh nói chung, dùng để chỉ cái vừa ở bên
trong, vừa ở bên cạnh của hành động, là nhân chứng giống nh hình với bóng
của hành động, đi theo hành động để trở thành kết quả của hành động.
Luật Nhân quả và thuyết Nghiệp cũng không phải là sản phẩm riêng
của Phật giáo mà là sản phẩm chung của tôn giáo và triết học ấn Độ. Tuy
nhiên, từ quan điểm Trung đạo (Madhya marga), của vô ngã, Phật khái quát để
trình bày chúng có tính hệ thống và đặc biệt chú ý đến "ý nghiệp". Trong giáo
lý nhà Phật, chính ý nghiệp là khởi đầu cho tất cả các nghiệp khác.
Nội dung của nghiệp bao quát rất rộng về cả mặt không gian, thời gian,
chuyển luân hồi trong thời gian dài này, chớ không phải nớc trong
bốn biển lớn [100, tr. 207].
Trong các phẩm "Quả đất", "Sữa", "Cây gậy", "Núi", "Hột cải", "Cát
Sông Hằng"..., Phật đã chỉ ra một cách toàn diện của cái nghiệp và luân hồi do
sự vay trả, cuối cùng Ngài kết luận: "Cho đến nh vậy này các Tỷ kheo là vừa đủ
để các ngơi nhàm chán, là vừa đủ để các ngơi từ bỏ, là vừa đủ để các ngơi giải
thoát đối với tất cả các hành" [100, tr. 208].
Nh vậy, giải thoát cũng có nghĩa là trả nghiệp cũ và không vay thêm
nghiệp mới bắt đầu từ ý nghiệp, khi nào chúng sinh trả hết nghiệp, không "lạc"
vào nghiệp, không "muội" vào nghiệp thì đợc tự do hoàn toàn.
Thuyết Nghiệp cũng bổ sung, cụ thể hóa cho vô thờng, vô ngã trong đời
sống của chúng sinh. T tởng của thuyết Duyên khởi cùng với kinh "Phạm
Võng" (Brahmajala), kinh "Diệu Pháp Liên Hoa" đã chỉ ra rằng, một hành
động dù nhỏ nh thế nào cũng đợc ghi dấu ấn, rung động và ảnh hởng đến toàn
vũ trụ. Do vậy, nếu nh vô thờng, vô ngã tạo cho ngời ta có t tởng sống gấp, chụp
giật, "cờ đến tay thì phất" vì thời cơ hiếm... thì nghiệp báo sẽ kiểm tra hành
động của họ.
12
Xây dựng thuyết Nghiệp, Phật giáo giải thích tất cả những nỗi băn
khoăn của ngời ta ở đời. Đến đây có thể hiểu cái "Ta" của Phật giáo mà cụ thể
con ngời hay chúng sinh riêng biệt thực chất là sản phẩm của hành động hay là
cái nghiệp, nó lang thang trong vòng Lục đạo của luân hồi sinh tử, nó cũng
chẳng có chỗ nào để đi và về cả. Từ việc cho con ngời hay chúng sinh chính là
nghiệp báo đợc thể hiện từ hành, cho nên con ngời của Phật giáo là con ngời
của hành động và điều này khác hẳn với con ngời của nhiều học thuyết khác.
Quan điểm về nghiệp của Phật giáo cũng khác với một số tôn giáo ấn
Độ ở chỗ: họ cho cái nghiệp nh là cái gì đè nặng suốt một đời ngời, nh là một
thứ định mệnh thì Phật giáo chấp nhận nghiệp quá khứ và hiện tại, còn tơng lai
tùy thuộc vào ta. Quan điểm này của Phật giáo xuất phát từ vô ngã, vô lợng t-
ớng, bởi vì nếu sự vật hiện tợng có ngã tớng cứng nhắc thì chúng không thể thay
Nếu sự vật, hiện tợng chỉ có một tớng thì không thể nào sinh ra tớng khác chứ
đừng nói là vô lợng tớng. Ngay cả nhận thức của chúng ta cũng vô tớng nên
chúng ta mới có thể nhớ lại quá khứ và hiểu biết thêm những cái mới. Bản thân
nghiệp cũng vô lợng tớng nên chúng sinh mới tu để chuyển nghiệp. Nh vậy, cái
từ cái vô tự tính ấy nên về đạo đức, ngời ta mới có thể tu để chuyển từ ác thành
thiện, từ vô minh đến giác ngộ.
Thuyết Vô ngã là một nhân tố hết sức quan trọng và chiếm vị trí đặc
biệt trong giáo lý Phật giáo. Bản thân cái "ngã" cũng chỉ là một thứ "nhãn hiệu"
dán lên một sự hiện hữu liên tục mà thôi. Về nhận thức, ngời nào càng vô ngã
bao nhiêu thì càng nhìn thấy cái ngã của ngời khác chính xác bấy nhiêu. Phật
dạy rằng, hành giả nói chung phải luôn nhìn mọi vật, mọi hiện tợng bằng con
mắt vô ngã. Cũng từ cái nhìn vô ngã nh thế hành giả mới có thể quán đợc lẽ
Không của vạn vật để từng bớc diệt khổ, cũng có nghĩa là từng bớc để giải
thoát.
14
Từ ý nghĩa và đặc điểm của vô ngã nh trên nên Phật giáo cho rằng, vô
ngã cũng chính là Niết Bàn vậy. Vô ngã cũng góp phần đặc biệt làm cơ sở lý
luận để Phật giáo xây dựng t tởng đạo đức cùng với việc giải thoát cho con ngời
và chúng sinh nói chung. Bên cạnh đó, triết lý về vô ngã là tiêu chí rất quan
trọng để phân biệt đạo đức Phật giáo với những hệ thống đạo đức khác.
Thứ t, tinh thần của bi, trí, dũng. Trớc hết, xuất phát từ việc diệt vô
minh nên cái "bi" theo tinh thần Phật giáo nó rộng và sáng suốt đến vô lợng, do
đó nó có đặc điểm riêng và càng không phải là bi lụy theo tinh thần của tham ái
chấp ngã. Trên con đờng loại bỏ cái khổ, cái "bi" của Phật giáo gắn liền với trí.
Cái "trí" (trí tuệ - Praijna) của Phật giáo đợc xuất phát từ Chánh kiến, trong này
bao gồm cả Chánh t duy, nói đơn giản là nhìn sự vật, hiện tợng, kể cả bản thân
mình cho rõ và suy nghĩ về chúng cho đúng với tinh thần vô ngã. Do đó, Chánh
kiến là một pháp luôn dẫn đầu các pháp hành. Lấy đó là căn bản thì trên con đ-
ờng diệt khổ, trớc hết hành giả phải nhận rõ thực trạng của cái khổ cùng nguyên
nhân gây ra nó để nhận chân ra con đờng loại bỏ nó. Với ý nghĩa nh vậy nên
tinh thần đạo đức của Phật giáo, chúng cũng liên quan đến những vấn đề sẽ đợc
bàn tiếp theo. Tất cả những vấn đề trên còn đợc Phật giáo đặt trên cơ sở của
giáo lý Duyên khởi (Paticcasamuppâda) và đây là cái đặc trng của Phật giáo.
Thuyết Duyên khởi nói rõ sự tơng quan, tơng duyên của tất cả các hiện tợng
tâm lý và vật lý. Theo Phật, tất cả các pháp đều không có tự tính, do nhân
duyên sinh, hay là "vạn pháp thị nhân duyên". Do vậy, nếu mọi vật, mọi hiện t-
ợng do nhân duyên sinh thì cũng từ nhân duyên mà diệt, cho nên con ngời chỉ
ổn định khi nào thể hiện đợc sự hòa hợp giữa cái bên trong của mình với hoàn
cảnh bên ngoài.
Một vấn đề thiết yếu nữa cần phải đặt ra là cái tâm của con ngời. Nhìn
chung có một chỗ giống nhau về quan điểm làm cơ sở cho đạo đức Phật giáo và
các nền đạo đức khác là ở nhân tính, nó là lơng tâm của con ngời. ở góc độ đạo
đức mà nói, nếu nh biết một hành động tuyệt đối tốt là chuyện rất khó nhng ng-
16
ời ta không thể chối cãi đợc là có những hành động tuyệt đối xấu. Điểm phân
biệt ấy xuất phát từ cái tâm - cái tâm ở đây không phải là "duy tâm" mà là cái
đạo đức, cái lòng trắc ẩn của con ngời, còn cái tâm đợc hình thành nh thế nào
lại là chuyện khác. Do vậy, cái tâm ấy là cái xuất phát cho lời nói và hành động
của từng cá nhân cụ thể và nói bao quát hơn nh
F. Engels đã nhận xét "là không thể tránh đợc là tất cả những cái gì thúc đẩy
con ngời hoạt động đều phải thông qua đầu óc con ngời" [63, tr. 384].
Nh vậy, có thể nói cái tâm là cơ sở quan trọng nếu nh không phải là cơ sở
quan trọng nhất của đạo đức. Xuất phát từ cái đơn giản vĩ đại ấy, cho nên:
"Chính vì vậy đạo đức không phải là cái gì phức tạp, nó không đòi hỏi một khả
năng đặc biệt nào mà chung quy chỉ là thế này thôi: giành lại cái tâm của mình
- chỉ thế thôi nhng cũng là mênh mông, bao la" [75, tr. 106].
Chính từ cái cơ sở không thể bỏ qua của đạo đức là cái tâm nên Mạnh tử
cho rằng, khi ngời ta mất con gà, con chó thì biết đi tìm kiếm, còn khi mất cái
tâm thì không biết đi tìm kiếm. Vì đạo đức đợc thể hiện rõ ràng trong quan hệ
giao tiếp trực tiếp giữa con ngời và con ngời, giữa con ngời và con vật nên từ đó,
không nói dối (chính xác là dù nói để mà chơi, nói bông đùa thì cũng
không nên nói dối - chúng tôi đính chính) [92, tr. 133].
Nói về việc biết hổ thẹn, ngay trong lời dạy cuối cùng của đức Phật,
Ngài cũng không quên đề cập nó thì cũng đủ thấy nó quan trọng nh thế nào:
Sự hổ thẹn là phục sức đẹp nhất trong mọi thứ phục sức. Nh cái
móc sắt, sự hổ thẹn có năng lực chế ngự mọi thứ phi pháp của con ng-
ời. Thế nên các thầy Tỳ kheo, hãy luôn luôn biết hổ thẹn, sỉ nhục,
đừng bao giờ, dầu chỉ tạm thời mà thôi, đợc phép quên mất đức tính
ấy. Mất hổ thẹn là mất công đức. Có hổ thẹn là có thiện pháp, không
có hổ thẹn thì không khác gì cầm thú [26, tr. 124-125].
18
Tất cả những cơ sở nh trên vừa đóng vai trò là nền tảng, vừa mở đờng
cho hệ thống đạo đức của Phật giáo. Cũng nh nhiều hệ thống đạo đức khác, Phật
giáo xây dựng hệ thống đạo đức nhằm mục tiêu là hạnh phúc cho con ngời. Tuy
nhiên, khác với một số tôn giáo, quan điểm của Phật giáo là xây dựng hạnh
phúc cho con ngời tại cõi đời này, đồng thời hạnh phúc cũng chỉ là phơng tiện
chủ yếu để chúng sinh tự giải thoát. Từ đó, vấn đề cụ thể và đặc điểm của đạo
đức Phật giáo sẽ phải đợc bàn tiếp.
1.1.2. Vai trò của đạo đức Phật giáo trong t tởng Phật giáo
Qua việc nhận xét chung thì có một vấn đề quan trọng cần phải đặt ra
là: dù lý giải về vũ trụ, nhân sinh dài ngắn, cao thấp nh thế nào thì rút cục, các
t tởng tôn giáo và triết học cũng không trốn tránh đợc việc phải trả lời một câu
hỏi lớn và thiết thực của toàn nhân loại. Đó là, con ngời khi chết có phải là chết
hẳn hay không? Đây là một câu hỏi nghiêm túc và nó còn thiết thực hơn cả câu
hỏi con ngời từ đâu đến.
Nhìn chung, có học thuyết trả lời là con ngời (cái "Ta") chết là chết hẳn,
chết thực sự, có học thuyết trả lời là không vì còn linh hồn bất tử. Tùy theo sự trả
lời câu hỏi trên mà các học thuyết có sự giải quyết khác nhau về đạo đức, cũng
nh ý nghĩa đích thực của nhân sinh. Hầu hết các tôn giáo đều công nhận có linh
hồn bất tử và điều này đóng vai trò là sức mạnh để họ dựa vào đó làm cơ sở trong
sẽ đợc bàn cụ thể. Giới của Phật giáo trớc hết là giới cấm, giới luật là những
điều răn mà Phật tử tại gia hoặc Phật tử xuất gia phải theo. Phật tử tại gia (Ưu
bà tắc-Upasaka, nam; Ưu bà di-Upasika, nữ), Phật tử xuất gia (Khất sĩ, Tỷ
kheo-Bikhsu còn gọi là Tăng, nam tu sĩ; Bhiksuni, Tỷ kheo ni, Ni, nữ tu sĩ). Do
vậy, tùy theo thứ bậc tu hành, nhất là các Phật tử xuất gia mà có quy định riêng
về Giới luật (Biệt giải thoát-Patimokkha). Theo nguyên tắc, vị nào càng tiến tu
thì Giới luật dành cho càng nhiều, Giới luật dành cho nữ nhiều hơn nam, bởi vì
nữ giới có vai trò và đặc điểm riêng. Các vị tu đến một mức nào đó thì buông bỏ
20
các giới, vì việc giữ giới đã trở thành thói quen và vô t nh mặt trời mọc, đó cũng
là bờ mép của sự giải thoát tối thợng. Từ đó, chữ giới thờng có hai nghĩa: giới là
giới điều đạo đức (phơng diện đạo đức) và giới là phong cách c xử (vừa phơng
diện đạo đức, vừa phơng diện tu tập). Vì hai ý nghĩa ấy nên Phật cho rằng phải
lấy Giới luật làm thầy, dù bản thân Ngài có trụ ở đời này cũng vậy thôi.
Về sự hình thành Giới luật của Phật giáo thì tơng truyền khoảng 8
đến 12 năm sau khi Phật thành đạo và chuyển pháp luân
(P-Dhammacakkappavattana), lúc này cha có Giới luật gì, bởi vì: "Chúng đều
thanh tịnh, cha sinh ra việc hữu lậu (việc ô nghiễm). Cùng chúng Tăng vô sự
(thanh tịnh) lợc nói giới kinh" [39, tr. 65].
Về sau, Tăng đoàn càng đông và nhất là nữ giới đợc phép xuất gia, cho
nên việc quản lý một tổ chức (Tăng già - Sangha) nh thế cần phải có Giới luật.
Đơng thời, giới của Phật giáo đợc đức Phật đặt ra từ thực tế của cuộc sống và
việc tu hành. Chẳng hạn, giới cấm đào đất, đốn chặt cây, cắt cỏ (vì đợc coi là
phá hoại làng mạc của quỷ thần) có nói: "Nếu vị Tỳ kheo tự tay đào đất, hoặc
dạy ngời khác đào, phạm Ba Dật Đề... Nếu vị Tỳ kheo phá hoại làng mạc của
quỷ thần phạm Ba Dật Đề" [39, tr. 416-419].
Hai giới trên đợc đức Phật đặt ra khi các vị Tăng tự tay đào đất và chặt
cây, cắt cỏ để liên quan đến việc sát hại, phá hoại nơi trú ngụ, phá hoại đời sống
của chúng sinh và bị chê cời. Tuy nhiên, hai điều luật trên cũng xét minh bạch
trong các trờng hợp nào thì đợc phép đào đất, chặt cây và cắt cỏ. Xét từ thực tế
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tăng thợng tuệ học? ở đây,
này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo rõ biết: "Đây là khổ... " nh thật rõ biết:
"Đây là con đờng đa đến khổ diệt". Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tăng
thợng tuệ học.
Những pháp này, này các Tỷ-kheo là ba môn học giới [29, tr. 426-427].
22
Nói về mối quan hệ khăng khít, cũng nh diệu dụng của việc tu đồng thời
cả ba môn học trên, Phật đã giảng:
Đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ. Định tu cùng Giới sẽ đa
đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ tu cùng tu với Định sẽ đa đến quả vị
lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đa đến giải thoát hoàn toàn
các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu
[46, tr. 80 B].
Trong "Bát Chánh đạo" thì Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng
thuộc về giới; Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định thuộc về định;
Chánh kiến, Chánh t duy thuộc về tuệ. Theo đúng thứ tự của lộ trình tiến hóa
tinh thần thì giới, định, tuệ là ba giai đoạn trên con đờng dẫn tới Niết Bàn
(Nirvâna), chúng đóng vai trò là những "sự" tối thợng, chứ không phải là "lý".
Nếu hành giả tu đến chỗ viên dung, cũng có nghĩa là vô lợng của chúng thì
đắc quả Phật. Điều này, đơng thời Phật đã chỉ rõ: "Này các Tỷ kheo, có bốn sự
tối thợng này. Thế nào là bốn? Giới tối thợng, Định tối thợng, Tuệ tối thợng,
Giải thoát tối thợng. Này các Tỷ kheo, có bốn tối thợng này" [29, tr. 703].
Từ lẽ của "sự" tối thợng ấy, khi tóm tắt hơn, Phật đã chỉ ra sự kiểm
nghiệm kết quả của việc tu hành, Ngài nói: "Không có trí tuệ thì không có
Thiền định, không có Thiền định thì không có trí tuệ. Ngời nào gộp đủ Thiền
định và trí tuệ thì gần đến Niết Bàn" [49, tr. 15].
Nh vậy, giới là cái nền quan trọng đầu tiên cho ngời tu hành trên con đ-
ờng giải thoát, nó cũng đóng vai trò là cái "bè" để hành giả vợt qua biển khổ.
Bên cạnh đó, giới còn có vai trò để giữ cho đạo Phật tồn tại lâu dài và theo đúng
tôn chỉ. Từ ý nghĩa đó của việc giữ giới nên trong lời dạy cuối cùng, Phật đã căn
điều về họa phúc, mà quan trọng nhất là cái "chế" ấy thuộc về tâm hay ý chứ
không phải là thân hoặc khẩu.
24
Nội dung của Chế Ngũ giới bao gồm 5 điều: Không sát sinh; Không nói
dối; Không trộm cắp; Không tà dâm; Không uống rợu.
Không sát sinh: Là không giết hại sinh vật mà trớc hết là không giết ng-
ời, cho nên đợc phớc an vui, thờng sống lâu và từ bi. Chúng sinh trong quan
niệm của Phật giáo là không kể đến các loài thực vật, nhng Phật khuyên mọi
ngời phải dùng chúng vừa đủ, đi đôi với việc có ý thức bảo vệ chúng. Đơng thời,
t tởng bất sát của Phật giáo và những học phái gần Phật giáo là để chống lại
những lễ nghi giết ngời, giết vật tế tự thần linh của Bà-la-môn giáo cũng nh
những cuộc chiến tranh tàn khốc lúc bấy giờ.
Không nói dối: Nói chung là không nói những lời không trung thực,
những lời ác khẩu, gây chia rẽ và những lời vô nghĩa hay nói cách khác là
không đợc lộng ngôn, xảo ngôn và vọng ngôn. Từ đó nên đợc phớc là đợc mọi
ngời tín nhiệm, tâm hồn thanh thản, đời sau tớng lỡi viên mãn (có thể hiểu là
không câm ngọng). Nh vậy, nói dối là một điều vi phạm vào đạo đức và cái giá
trớc tiên ngời nói dối phải trả là thế này: họ không đợc mọi ngời tin kể cả khi
anh ta nói thật. ở dây có một điều cần bàn thêm là, theo Phật, lời nói là khẩu
nghiệp, cho nên ngay nói những lời vô nghĩa, vô duyên cũng mắc nghiệp ác. Từ
lẽ đó Phật bảo rằng, khi không cần nói thì tốt hơn hết là im lặng.
Không trộm cắp, cớp giật: Nói chung là không lấy cái vật sở hữu mà
ngời khác không cho, hoặc là không trộm cắp, cớp giật của công, cho nên đợc
phớc là không hồi hộp, lo sợ, trực tâm sáng láng.
Không tà dâm: Phật tử tại gia thì không đợc tà dâm, còn Phật tử xuất
gia thì không đợc dâm dục. Nếu giữ đợc giới này thì đợc mọi ngời kính trọng và
gần đức thanh tịnh của ch Phật.
Không uống rợu: Giới này hiện nay đợc Phật giáo mở rộng ra là không
đợc ăn, uống, hút, hít các chất làm say xỉn để náo loạn tâm trí. Đơng thời Phật
cũng khuyên mọi ngời là không đợc ăn uống "rợu men rợu nấu". Giữ đợc giới