ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHAN THỊ LAN
(Thích Đàm Lan)
Đ
Đ
Ạ
Ạ
O
OĐ
Đ
Ứ
Ứ
C
CP
P
H
Đ
Ờ
Ờ
I
IS
S
Ố
Ố
N
N
G
GĐ
Đ
Ạ
Ạ
O
OĐ
Đ
Ứ
Ứ
C
A
M
MH
H
I
I
Ệ
Ệ
N
NN
N
A
A
Y
Y
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
C
CP
P
H
H
Ậ
Ậ
T
TG
G
I
I
Á
Á
O
OT
T
R
R
O
O
Đ
Đ
Ứ
Ứ
C
CX
X
Ã
ÃH
H
Ộ
Ộ
I
IV
V
I
I
Ệ
Ệ
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 62.22.90 LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Giáo viên hướng dẫn
GS.TS. NGUYỄN HỮU VUI HÀ NỘI – 2010
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu 7
6. Đóng góp của luận văn 7
7. Ý nghĩa của luận văn 7
8. Kết cấu của luận văn 7
Chƣơng 1: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO . 8
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đạo đức Phật giáo là một hệ thống những quan điểm, những giá trị,
chuẩn mực đạo đức nhiều mặt. Đạo đức Phật giáo là đạo đức đại từ, đại bi,
cứu dân, cứu nƣớc, cứu những “ngƣời cùng khổ” Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã hiểu rất thấu đáo những tƣ tƣởng, giá trị đạo đức Phật giáo, Ngƣời viết:
“Đức Phật là đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn. Ngƣời phải hy sinh tranh đấu
diệt lũ ác ma”[16; 5]. Nói đến đạo đức Phật giáo là nói đến những điều tốt
đẹp mà Phật giáo từ khi du nhập vào Việt Nam hơn18 thế kỷ nay, đã đem
hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ
thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp. Buôn lậu và tham nhũng phát
triển….Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ
phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”[5;15-16].
Thực trạng nói trên đang đặt ra yêu cầu cần phải xây dựng nền đạo
đức xã hội mới cho con ngƣời Việt Nam hiện nay. Điều này vừa nằm trong
chiến lƣợc phát triển con ngƣời phục vụ cho sự nghiệp đổi mới đất nƣớc,
vừa góp phần ngăn chặn sự suy thoái của đạo đức xã hội.
Trong quá trình xây dựng đạo đức mới xã hội chủ nghĩa thì việc kế
thừa những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, trong đó có những
đóng góp của các tôn giáo là điều vô cùng cần thiết. Trong Nghị quyết 24,
Đảng ta đã viết: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài. Tín ngƣỡng, tôn
giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có
nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới", "các giáo hội và
tổ chức tôn giáo nào có đƣờng hƣớng hành đạo gắn bó với dân tộc, có tôn
chỉ, mục đích, điều lệ phù hợp với luật pháp Nhà nƣớc, có tổ chức phù hợp
và bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về cả hai mặt đạo, đời thì sẽ đƣợc Nhà
nƣớc xem xét trong từng trƣờng hợp cụ thể để cho phép hoạt động"[xem 9].
Nhƣ vậy, trên tinh thần của Đảng, chúng ta thấy rằng, đạo đức Phật
giáo hiện vẫn còn những giá trị cần tiếp thu, kế thừa để xây dựng đạo đức
xã hội mới cho con ngƣời Việt Nam hiện nay.
3
Vì vậy, nghiên cứu “Đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức xã
hội Việt Nam hiện nay” nhằm làm sáng tỏ những giá trị tích cực, khắc
phục tồn tại của đạo đức Phật giáo trong quá trình xây dựng đạo đức xã hội
chủ nghĩa hiện nay là cần thiết và hữu ích.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về đạo đức Phật giáo và tác động của đạo đức Phật giáo
trong đời sống xã hội trong lịch sử và hiện tại ở Việt Nam hiện nay đã có
là hệ tƣ tƣởng, đã đóng góp những giá trị đạo đức cho lịch sử tƣ tƣởng Việt
Nam nhƣ “Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại” của Trần Văn Giàu; “Có
một nền đạo lý ở Việt Nam” của Nguyễn Phan Quang,
Đặc biệt, công trình “Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người”
của Thích Minh Châu đã đề cập đến những giá trị nhân đạo, nhân bản trong
đạo đức Phật giáo. Theo ông, khi con ngƣời đƣợc dƣỡng dục trong nền đạo
đức Phật giáo, họ sẽ đƣợc an trú trong niềm hạnh phúc và an lạc. Thích
Thanh Từ với “Phật giáo với dân tộc”, Nxb.Thành hội Phật giáo Thành
phố Hồ Chí Minh, Năm 1995, đã phân tích những nét chính trong đạo đức
Phật giáo, những giới luật cụ thể cho Phật tử xuất gia và tại gia, về những
đóng góp của Phật giáo cho lịch sử dân tộc trên các phƣơng diện chính trị,
tƣ tƣởng, văn hóa nghệ thuật và các giá trị đạo đức Phật giáo với tuổi trẻ
Việt nam hiện nay.
Hoặc nhƣ, “Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo
đức của xã hội Việt Nam hiện nay”, của Tạ Chí Hồng, Luận án Tiến sĩ Triết
học, Hà Nội, năm 2004, đã phân tích một cách khá hệ thống về đạo đức Phật
giáo và đƣa ra một số nhận định khách quan về ảnh hƣởng tích cực cũng nhƣ
một số hạn chế của đạo đức Phật giáo đối với con ngƣời Việt Nam hiện đại.
Tuy nhiên sự phân tích và nhận định của tác giả mới chỉ dừng ở mức khái
quát chung, phản ánh đƣợc ảnh hƣởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống
đạo đức xã hội Việt Nam trong giai đoạn trƣớc năm 2004.
Ngoài ra, trên một số Tạp chí nghiên cứu mà điển hình là Tạp chí
Triết học, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Phật học…
5
cũng có một số bài đề cập tới vấn đề đạo đức Phật giáo trong đời sống xã
hội Việt Nam, chẳng hạn nhƣ bài: “Ảnh hƣởng của đạo đức Phật giáo với
việc xây dựng đạo đức của chúng ta hiện nay” của Lê Hữu Tuấn, Tạp chí
Nghiên cứu Phật học, số 5, năm 1999; Thích Gia Quang với “vài nét về
đạo Phật với nền giáo dục đạo đức xã hội”, Tạp chí Nghiên cứu Phật học,
chuẩn mực của đạo đức Phật giáo và xem xét tầm ảnh hƣởng của chúng
đến đời sống đạo đức xã hội Việt Nam, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần
chung tay cùng với cộng đồng, xây dựng đƣợc một nền đạo đức toàn diện,
nhân văn, nhân bản sâu sắc của dân tộc Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận mác xít về tôn giáo
luận văn phân tích và làm sáng tỏ ảnh hƣởng của đạo đức Phật giáo trong
đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích trên, luận văn có
nhiệm vụ.
Thứ nhất: Khái quát chung một số nội dung cơ bản về đạo đức
Phật giáo.
Thứ hai: Phân tích, đánh giá một số ảnh hƣởng cơ bản của đạo đức
Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội
Việt Nam hiện nay
4.1. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn phân tích, đánh giá ảnh hƣởng
của đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay trên một số
lĩnh vực cơ bản, cụ thể nhƣ đạo đức Phật giáo với tính cách, lối sống của
ngƣời Việt Nam, đạo đức Phật giáo với nhân cách của ngƣời Việt Nam
hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hƣởng
tích cực và hạn chế ảnh hƣởng tiêu cực của đạo đức Phật giáo trong đời
sống xã hội Việt Nam hiện nay.
7
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên cơ sở vận dụng lý luận mác xít về tôn giáo học, bản
chất, chức năng của tôn giáo trong đời sống xã hội để phân tích, đánh giá
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
1.1. Cơ sở lý luận của Phật giáo về đạo đức
1.1.1. Tư tưởng đạo đức trong nhân sinh quan Phật giáo
Đạo Phật ra đời trong điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội, tiền đề nhận
thức tƣ tƣởng Ấn Độ rất phức tạp. Khoảng thế kỷ VI-TCN đã xuất hiện nhà
nƣớc chiếm hữu nô lệ với chế độ phân chia đẳng cấp khắc nghiệt, có 4
đẳng cấp chính là: Bà la môn (Brhmanes); Sát-đế-ly (Kastryas); Phệ-xá
(Vaisyas); Thủ-đà-la (Suddra); Và 4 trào lƣu tƣ tƣởng là: Bà-la-môn giáo
chính thống; Trào lƣu tín ngƣỡng tập tục; Trào lƣu triết học; Trào lƣu phản
Phệ-đà.
Ngƣời sáng lập ra đạo Phật là Đức Thích Ca Mâu Ni (hình 1) - “đấng
giác ngộ”, Phật Thích Ca (Siddhattha, sinh khoảng năm 544 TCN(
1
)) kế
thừa các tƣ tƣởng truyền thống của Ấn Độ về các vấn đề triết lý cao siêu
nhƣ: Tự ngã (Atman), bản thể tối cao (Brahama), con đƣờng giải thoát
(Moksha), luân hồi (Sanusara), nghiệp (Karma)… trong Thánh Kinh
Vedda, Upanishad, trong triết học đạo Jaina, Lokayata. Song, ông là ngƣời
đầu tiên phủ nhận thần thánh, và đi tìm sự giải thoát ở ngay chính bản thân
con ngƣời. Ông tránh những vấn đề quá trừu tƣợng và siêu hình để đi sâu
vào các vấn đề đạo đức nhân sinh.
Các tƣ tƣởng triết học của Đức Thích Ca về cơ bản là giải thích căn
nguyên của mọi nỗi khổ đau và vạch ra con đƣờng giải thoát chúng sinh.
Trong học thuyết cốt lõi "Tứ diệu đế" và "Thập nhị nhân duyên", Đức Phật
Thích Ca cho rằng cuộc đời là một bể khổ vô tận, nỗi khổ đó nằm ngay
trong con ngƣời. Vì không nhận thức đƣợc sự biến đổi vô thƣờng, vô định
của vạn vật theo luật nhân quả, không nhận thức đƣợc cái "tôi" có mà
Phật xác định rằng đau khổ do vô minh sinh ra. Vô minh (Avidya) ở
đây đƣợc ví nhƣ một trạng thái ngủ mê của cá nhân và tập thể. Phật đòi hỏi
phải quay về với mình và về với cái minh (Vidya) của Phật giáo để chống
lại với vô minh. Cái minh của Phật giáo là cái biết. Biết là làm cho con
ngƣời ta giác ngộ, đổi hẳn tính tình. Biết của Phật là trạng thái hòa đồng
giữa chủ thể với khách thể trên cơ sở tự khoan dung và hành xác.
10
Đau khổ, vô thƣờng, vô ngã (Dukha, encca, Anatta) là đặc tính của tất
cả các sự vật, trong đó cái ngã, cái tôi, cái tự tính, là hình ảnh xác đáng của
sự vật. Tất cả sự sống chết đều phải duy trì bằng nguồn chảy vật chất hay
tinh thần. Đây là định lý mà ý nghĩa của nó tƣơng tự nhƣ lửa mồi bằng nhiên
liệu. Chính với cái ý nghĩa ấy mà thế giới này đang cháy và chúng ta đang bị
đốt cháy. Lửa của ý thức về ngã, về tự kỷ, về sự ngu mê và đau khổ.
Cái lửa ấy chỉ có thể dùng cái gì trái nghịch với nó để mà dập tắt đi
bằng cách thực hành lối sống đạo đức bình đẳng và lòng khoan dung. Cái
sự tắt lửa ấy sẽ là tịch diệt (nirvana). Niết bàn tự nhiên làm cho ngƣời ta
liên tƣởng đến cái gì mát mẻ, nhƣ J.Nehru đã nói rất khúc triết trong tập
một tác phẩm phát hiện Ấn Độ nổi tiếng của ông.
Việc giải thoát từ trạng thái bị đốt cháy sang trạng thái mát mẻ - phải
chăng là cách giải thoát tiêu cực và yếm thế? Chắc chắn là không. Tiếc thay
trong tiến trình phát triển của nó, học thuyết đạo đức hợp lý ấy, dần dần
đƣợc thuyết giảng bằng những bài tràng giang đại hải, với quá nhiều nghi
thức, quy phạm, quá nhiều thuyết lý siêu hình. Lại thêm trong mỗi nƣớc,
các đặc tính dân tộc đã chi phối đạo Phật và uốn nắn theo tập tục bản địa.
Đây có lẽ là sự phát triển không thể tránh đƣợc của một tôn giáo có tính thế
giới nhƣ đạo Phật. Hậu quả là tƣ tƣởng và đạo đức khoan dung của Phật
giáo nhuốm đẫm màu sắc bi quan, yếm thế cùng tính siêu nhiên.
Bởi vậy, quan niệm về triết lý nhân sinh, ở phƣơng Đông đã kết luận
bản tính tự nhiên của con ngƣời. Ở phƣơng Tây thì kết luận con ngƣời
gắn bó vừa tƣơng tác lẫn nhau từ vô thủy đến vô cùng vô tận), để giải thích
về nguồn gốc, quá trình hình thành con ngƣời, nhân cách và phẩm chất đạo
đức của con ngƣời.
Theo Phật, căn cứ vào những lời thuyết pháp chính thống, vạn vật
hiện hữu trên trần đều bởi nhân duyên cấu tạo chứ không phải ngẫu nhiên
tự hữu. Mỗi vật có hình sắc hoặc nhận thức hành động đều do kết hợp của
ngũ uẩn: sắc, thụ, tƣởng, hành, thức.
12
Sắc (Rupa) là phần hình hài những cái có thể cảm thấy nhờ xúc giác.
Sắc cũng là phần hình thể do tứ đại: địa, thuỷ, hoả, phong tan hợp, cấu kết
cách này, cách khác mà thành. Đó là những yếu tố vật chất căn bản tạo
thành vũ trụ và phần cơ thể con ngƣời.
Thụ (Vedanna) là sự lĩnh hội, sự nạp thụ, cảm xúc khi tiếp xúc với
ngoại giới. Thụ thuộc phạm vi tình cảm yêu, thích, chê, ghét…
“Tại sao ta nói Thụ, hỡi các Tỷ khiêu? Vì ngƣời ta cảm thấy, và cảm
thấy cái gì? Cảm thấy vui thú hoặc đau khổ hay dửng dƣng?”
Tƣởng (Sunna) là tƣởng nhớ, suy nghĩ. Tƣởng thuộc phạm vi trí tuệ,
phân biệt, hiểu biết.
“Tại sao nói là Tƣởng, hỡi các Tỷ khiêu? Vì ngƣời ta tri giác đến.
Ngƣời ta tri giác đến gì? Đến màu xanh, vàng, đỏ, trắng,…”.
Hành (Sankhara) là hành động, tạo tác, tác dụng phối hợp.
“Hành tạo nên sự kết hợp. Sự kết hợp đó tạo nên sắc để sắc thành
sắc, tạo nên Thụ để Thụ trở nên Thụ và tạo nên Tƣởng, Thức cũng thế”.
“Hành là khả năng kết tập cấu tạo các yếu tố khác”.
Thức (Vinama) là sự nhận thức chủ thể.
“Hỡi các Tỷ khiêu, tại sao nói là Thức? Vì ta biết. Biết gì? Biết nếm,
biết cái gì cay đắng ngon ngọt, nhạt hay mặn”.
Vì vậy ta có thể cắt nghĩa bốn yếu tố trên là sự hiểu biết khách quan,
còn Thức chỉ thị ý thức lĩnh hội chủ quan.
luân hồi. Theo Phật, đời là tràn ngập đau thƣơng và mong muốn cứu độ
chúng sinh khỏi vòng trầm luân. Đó là chủ trƣơng chính yếu của Phật: Đạo
diệt khổ tức là chính đạo, ngoài ra không còn đạo nào khác nữa.
14
Phật chỉ chú trọng đến tự giác và giác tha giải thoát con ngƣời, Phật
không đi sâu vào vấn đề siêu hình học, giải đáp cái gì vƣớng vào vòng luân
hồi, nếu thân tâm con ngƣời đều là hƣ ảo, và cái gì dƣợc tịch diệt nhập Niết
bàn. Phật cũng không giải thích nguyên khởi tại sao luân hồi, vật thể đầu
tiên của vũ trụ là gì?
Sau này các môn đệ của Phật đã đề cập đến nguồn gốc đầu tiên của vạn
vật là chân nhƣ, thực thể căn bản của vũ trụ trong chân nhƣ (Chân: thực thể:
Nhƣ: cố định, thƣờng trụ, sáng suốt, viên mãn, yên tịnh, bất biến, thƣờng trụ),
nhƣng bị cái duyên Vô Minh (1) quấy động làm lu mờ. “Vô minh là si ám, là
phiền não chƣớng, phiền não hoặc, ảo vọng, mông muội, nó làm cho thực là
giả, giả là thực, điên đảo quanh quẩn”. Chân nhƣ đang ở thể tịch biến sang
động, có động là có biến hoá, tan hợp. Do đó, vũ trụ và vạn vật hiện hữu. Ta
có thể ví Chân Nhƣ là nƣớc biển, bị vô minh là gió làm dao động sinh sóng,
sóng là vạn tƣợng, vũ trụ, hết gió là nƣớc lại yên lặng.
Vô minh làm xáo trộn, hoạt động, kết tập thành Hành (2). Hành tạo tác
sinh biến hoá, kết thành cái nghiệp, làm duyên cho Thức (3). Hành động đƣa
đến ý thức cá thể. Thức là “tâm sở” phân biệt khách thể và chủ thể, nhận biết
bản ngã. Thức là đầu mối gây khổ vì nghiệp do Hành tạo nên lôi kéo vào vòng
hiện hữu mang lấy sắc, phần hình hài tứ đại (địa, thuỷ, hoả, phong) và Danh
(thụ, tƣởng, hành, thức). Danh sắc (4) phối hợp đúc thành một cá thể sinh tồn,
không cố định chìm trong biến hoá của vũ trụ. Cá thể kết cấu vô thƣờng vì
phân danh sắc yếu tố cấu tạo là không. Nhƣng cá thể phải tiếp xúc với ngoại
giới tƣơng đối hiện hữu nên có Lục nhập (5). Lục nhập cũng gọi là Lục xứ
(mắt, tai, mũi, lƣỡi, thân, ý) ghi nhận cảm giác bằng Xúc (6). Nhờ Lục nhập
giao tiếp với ngoại giới, ta lĩnh hội những cảm giác và xúc cảm yêu ghét… dó
Nhƣ Lai Chân nhƣ
16
Cho nên Kinh Pali có viết:
“Do Vô minh, sinh Hành; do duyên Hành, sinh Thức; do duyên
Thức, sinh Danh - Sắc; do duyên Danh - Sắc, sinh Lục Nhập; do duyên Lục
Nhập, sinh Xúc; do duyên Xúc, sinh Thọ; do duyên Thọ, sinh Ái; do duyên
Ái, sinh Thủ; do duyên Thủ, sinh Hữu; do duyên Hữu, sinh Sinh; do duyên
Sinh, sinh Lão Tử; do duyên Lão Tử sinh sầu-bi-khổ-ƣu-não. Nhƣ vậy là sự
sinh khởi của toàn bộ khổ uẩn này”[14;111].
‘‘Nhƣng từ sự tan biến và chấm dứt hoàn toàn Vô minh, Hành
chấm dứt; từ sự chấm dứt của Hành, Thức diệt, do Thức diệt mà Danh sắc
diệt,… do Sinh diệt mà Lão-tử-sầu-bi-khổ-ƣu não diệt. Nhƣ vậy là sự đoạn
diệt toàn bộ khổ uẩn này”[14;119].
Thập Nhị nhân duyên là một triết lý đặc thù riêng của Phật
giáo, có thể nói đó là một chân lý bất tận của thời gian và không gian, nó
gửi một thông điệp nhân bản rõ nét cho toàn thể nhân loại, đó là: Trong bản
thân mỗi con ngƣời luôn tồn tại những mặt tốt, xấu. Vì vậy, đối với mỗi
ngƣời phải luôn tự rèn luyện, trau dồi phẩm chất đạo đức của mình, hoàn
thiện và phát triển nhân cách. Hãy diệt trừ cái xấu ngay từ gốc, hãy làm
những điều tốt, điều thiện, tạo điều kiện cho cái thiện, cái đẹp đƣợc sinh ra,
điều này đƣợc thể hiện rõ nét qua lời giải thích về Thập Nhị nhân duyên
nhau”[52;135].
Khác với quan niệm đạo đức học mác xít cho rằng thiện và ác là kết
quả phản ánh những điều kiện kinh tế xã hội và phụ thuộc vào vị trí của
một giai cấp nhất định. Phật giáo cho rằng Thiện và ác gắn với Nghiệp của
mỗi con ngƣời. Thiện và ác là nguyên nhân tạo ra Nghiệp nhƣng cũng đồng
thời là kết quả của Nghiệp.
Quá trình hình thành đạo đức và nhân cách của con ngƣời đều do các
duyên sinh mà ra. Các duyên sinh ra các Pháp, có pháp thiện và có pháp ác.
Các duyên sinh ra pháp nên bản thân con ngƣời là vô ngã. Con ngƣời cũng
18
là một hiện hữu “duyên - sinh” nên cũng là vô ngã. Theo quan niệm của
Phật giáo thì con ngƣời và thế giới chỉ là tổng thể nƣơng tựa vào nhau của
Ngũ uẩn (Sắc, Thụ, Tƣởng, Hành, Thức), hay tứ đại (Địa, Thủy, Hỏa,
Phong). Ngũ uẩn là con ngƣời và Ngũ uẩn cũng là thế giới. Thế giới này
cũng là thế giới của những nhân duyên. Tại sao gọi là Nhân Duyên? Vì hết
thảy mọi sự vật hiện tƣợng kể cả con ngƣời đều nhờ các nhân tố nƣơng vào
nhau (Duyên) mà tạo thành (Sinh) (nhƣ phần trên đã trình bày). Con ngƣời
Thiện hay ác là đều do các nhân duyên mà hợp thành. Con ngƣời hoàn
toàn có thể làm chủ những hành vi thiện, ác của mình và tự mình có thể cải
hóa chính bản thân mình. Kinh Địa Tạng có viết: "Nếu gặp thiện lợi, phần
nhiều là thoái tấm lòng tu trƣớc, mà gặp ác duyên thì càng thêm ác, những
ngƣời ấy ví nhƣ đi vào bùn lầy, lại đội đá nặng, càng thêm nặng, thêm
khốn, mà chân càng ngập xuống tận bùn đen. Ví bằng gặp thiện tri thức đội
bớt cho, hoặc đội đỡ cả cho"[26;110]. Nhƣ trên đã phân tích, theo Phật giáo
thì bản chất con ngƣời vốn là Thiện, bởi mọi con ngƣời khi sinh ra đều có
sẵn trong mình "Phật tính". Trong kinh "Bồ tát giới" có viết: "Phật tính ở
đây vừa có nghĩa là bản thể vừa có nghĩa khả năng: bản thể là Phật, và khả
năng làm Phật, gọi là Phật tính. Bản thể và khả năng ấy chính là thân tâm
chúng ta đây. Nhƣ vậy, vì chúng sinh có "Phật tính", nên thân là thân chúng
việc làm của hôm nay. Suy rộng ra, việc nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân
mỗi ngƣời trƣớc cuộc sống thể hiện trong Thập nhị nhân duyên là rất rõ.
Và, đó thực sự là điều hết sức cần thiết đối với mỗi thế hệ, dẫu rằng họ có
tin theo Phật hay không tin theo Phật.
Xuất phát từ ý tƣởng đạo đức cao cả, mong muốn con ngƣời trong xã
hội có một cuộc sống tốt đẹp, luôn phấn đấu theo điều lành, điều thiện,
tránh điều ác, Phật giáo đƣa ra quan niệm về nhân quả báo ứng, kiếp,
nghiệp ngƣời. Theo quan niệm của nhà Phật, mọi hoạt động của con ngƣời
từ thân, khẩu, ý đều để lại một kết quả nhất định, trong đó nhân có trƣớc,
20
quả có sau, quả phụ thuộc vào nhân và nhân nào quả ấy. Tùy thuộc vào
việc con ngƣời gieo nhân nhƣ thế nào mà họ nhận lại đƣợc quả tƣơng ứng.
Nhà Phật gọi đó là Nghiệp báo.
Quan niệm về nghiệp, kiếp ngƣời trong Phật giáo có ý nghĩa giáo
dục, răn dạy con ngƣời trong cuộc sống phải luôn có ý thức giữ gìn phẩm
chất đạo đức, “tu nhân tích đức” thì mới mong chuộc đƣợc những lỗi lầm
của “kiếp trƣớc” và có đƣợc một cuộc sống tốt đẹp ở “kiếp sau”.
Đối với kiếp ngƣời, Phật giáo cũng có khá nhiều quan niệm khác
nhau, nhƣng những quan niệm này không hề đối nghịch nhau mà chỉ khác
nhau trong một vài chừng mực nhất định. Điểm chung cho tất cả là ở chỗ,
quan niệm nào cũng đều cho rằng, mỗi kiếp hay thân luôn có mối quan hệ
chặt chẽ với kiếp hay thân trƣớc đó và sau đó.
Kiếp trƣớc có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến số phận của kiếp hiện tại,
kiếp hiện tại cũng có ảnh hƣởng mạnh mẽ đến số phận của kiếp sau, cứ thế
kéo dài mãi mãi. Kinh Địa Tạng viết: "Cứ các nghiệp ác của chúng sinh ấy
đã làm ra, tính phần cảm quá đọa đƣờng ác"[26;111]. Tính quy luật của
kiếp trƣớc khiến cho mọi cố gắng làm thay đổi số phận của kiếp hiện tại trở
nên rất khó khăn. Nhà Phật có xu hƣớng khuyên con ngƣời đừng quá đau
khổ với số phận đang có của mình, sống “thiểu dục tri túc” và tốt nhất hãy
hãy lên đƣờng thuyết pháp vì hạnh phúc, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng
thƣơng tƣởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chƣ thiên và loài
ngƣời”. Điều đó dƣờng nhƣ khuyên chúng ta hãy biết sống cho tốt, phù hợp
với đạo lý của dân tộc Việt Nam.
Đạo Phật với những tƣ tƣởng mang đậm sắc thái của từ bi, trí tuệ đã
giúp cho nhân loại sống an lạc, hòa bình và hạnh phúc. Trên tiến trình đó,
ngọn gió từ bi đã mang tinh thần hòa hợp, nhẫn nại, bình đẳng, vị tha,…
thổi vào đời sống văn hóa sinh hoạt, phong tục, tập quán của Việt Nam nói
riêng và của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới nói chung.