ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG THỊ LAN
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐẠO
ĐỨC TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
CHUYÊN NGÀNH: CNDVBC & CNDVLS
MÃ SỐ: 5.01.02
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. NGUYỄN HỮU VUI
HÀ NỘI 2004
10
10
22
51
53
68
102 122
122
141
159
162
165
166 1
lai nhƣ vấn đề ảnh hƣởng của tôn giáo với chính trị hay rộng lớn hơn là ảnh
hƣởng của tôn giáo với văn hoáv.v
Riêng vấn đề xem xét ảnh hƣởng của tôn giáo đối với đạo đức xã hội cũng
đã đƣợc đặt ra và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Có tình hình đó
bởi lẽ, cơ chế kinh tế thị trƣờng hiện nay đã làm nảy sinh, tồn tại và phát triển
nhiều quy phạm đạo đức đi ngƣợc lại tiến bộ xã hội. Trên mức độ nào đó, những
quy phạm đạo đức ấy đang làm xói mòn nền đạo đức xã hội mà lịch sử dân tộc ta
đã phải mất hàng ngàn năm mới có thể hình thành đƣợc.
Có một thời kỳ dài, chúng ta chỉ chú ý và nhấn mạnh đến mặt tiêu cực của
tôn giáo và đạo đức tôn giáo, cho rằng tôn giáo sẽ mất đi cùng với quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Do vậy, ta thƣờng tìm cách phê phán và loại trừ ảnh
hƣởng của nó trong đời sống xã hội. Song, thực tế đã chứng minh rằng, tôn giáo
vẫn còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, và bên cạnh những hạn
chế nhất định, tôn giáo và đạo đức tôn giáo còn có những đóng góp tích cực
trong quá trình xây dựng xã hội mới. Nhận thức đƣợc vai trò của tôn giáo trong
thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng ta từ khi thực hiện công
cuộc đổi mới đã có những quan điểm bổ sung, phát triển đối với tôn giáo và đạo
đức tôn giáo. Trong Nghị quyết 24- NQ/TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị
về công tác tôn giáo trong tình hình mới đã khẳng định rằng, “tín ngưỡng tôn
giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đạo đức tôn giáo có nhiều
điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Tiếp tục quan điểm này, Văn
kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX(2001) của Đảng một lần nữa khẳng
định, “phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo”.
Vì vậy, nghiên cứu ảnh hƣởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong
xã hội Việt Nam hiện nay nhằm tìm kiếm các giải pháp phù hợp để phát huy mặt
tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức tôn giáo trong quá trình xây dựng
3
4
rằng, về cơ bản tôn giáo và đạo đức tôn giáo có vai trò tiêu cực trong đời sống xã
hội, đặc biệt khi nó tham gia vào hệ tƣ tƣởng của giai cấp thống trị phản động.
Cùng với việc chỉ ra những tiêu cực của tôn giáo và đạo đức tôn giáo, các nhà
kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin cũng thừa nhận những tác dụng nhất định
của tôn giáo và những giá trị đạo đức tích cực của nó.
Do tiếp cận tôn giáo dƣới góc độ xã hội học, các học giả tƣ sản hiện đại
cũng đóng góp nhiều công trình về tôn giáo và vai trò của tôn giáo nhƣ
E.Durkheim với tác phẩm Định nghĩa về hiện tượng tôn giáo và tôn giáo, Yves
Lambert với Tháp Babel định nghĩa về tôn giáo. Max Weber với Đạo đức Tin
Lành và tinh thần chủ nghĩa tư bản, Daisaku…Ngoài ra, còn một số nhà nghiên
cứu khác nhƣ A.Toynbee, F. Brondel, Will Duraut…cũng đều rất coi trọng yếu
tố tôn giáo và đạo đức tôn giáo trong tiến trình văn hoá, văn minh nhân loại
v.v… Nhìn chung các học giả tƣ sản hiện đại đã tiếp cận tôn giáo dƣới một góc
độ mới- góc độ xã hội học. Song, bên cạnh đó họ đã vấp phải những hạn chế
không nhỏ đó là đã bỏ qua việc nghiên cứu tôn giáo dƣới góc độ bản thể luận và
nhận thức luận, vì vậy vai trò của tôn giáo đã đƣợc thổi phồng trên thực tế.
Trong xã hội Phƣơng Đông hiện đại, vấn đề đạo đức tôn giáo và vai trò
của nó trong đời sống xã hội cũng đã đƣợc đƣợc quan tâm nhiên cứu. Các học
giả Nhật bản nhƣ Shinobu Koichi, Okamoto Koji cho rằng, mặc dù tôn giáo có
những hạn chế nhất định nhƣng trong nó có chứa đựng những nội dung nhân đạo
và những nội dung này cần thiết phải đƣợc giáo dục cho quần chúng nhân dân
trong xã hội để quần chúng học tập và định hƣớng vấn đề tâm linh cá nhân.
Các học giả Trung Quốc nhƣ Sun Zhenhua, Lin Zhaorong cũng rất chú ý
đến cái thiện, cái nhân bản trong đạo đức tôn giáo. Lin Zhaorong cho rằng, trong
xã hội hiện đại, với xu thế thế tục hoá, ảnh hƣởng của đạo đức tôn giáo sẽ vƣợt
ra xa ngoài quan hệ giữa các tín đồ và trở thành một bộ phận quan trọng của đạo
hình tôn giáo Việt Nam hiện nay đã qua các số liệu khảo sát xã hội học để phân
tích làm nổi rõ đặc điểm, vai trò và các đặc trƣng cơ bản của tôn giáo ở Việt
Nam hiện nay. TS Nguyễn Hồng Dƣơng qua Nghi lễ và lối sống Công giáo trong
6
văn hoá Việt Nam đã phân tích, chứng minh làm rõ sự hội nhập của văn hoá Kitô
giáo trong nền văn hoá của dân tộc. Hay Nguyễn Đăng Duy trong Phật giáo và
văn hoá Việt Nam cũng đã đề cập đến vai trò của Phật giáo trong đời sống chính
trị, văn hoá, đạo đức của dân tộc Việt Nam.v.v Mặc dù trong những công trình
nói trên, vấn đề đạo đức tôn giáo và vai trò của nó không đƣợc các nhà nghiên
cứu đề cập đến một cách trực tiếp, song trong quá trình phân tích vai trò của tôn
giáo trong đời sống xã hội Việt Nam, vấn đề đạo đức tôn giáo và ảnh hƣởng của
nó đối với đạo đức xã hội cũng đã phần nào đƣợc đề cập đến.
Liên quan đến vấn đề đạo đức tôn giáo và ảnh hƣởng của nó đối với đạo
đức xã hội còn có một số luận án nhƣ: Vai trò xã hội của tôn giáo ở Việt Nam
hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận án PTS Triết học của Hồ
Trọng Hoài 1995, Ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Phật giáo trong đời
sống văn hoá tinh thần ở Việt Nam - Luận án tiến sĩ Triết học của Lê Hữu Tuấn
1999, Đạo Hoà hảo và ảnh hưởng của nó ở đồng bằng sông Cửu Long- Luận án
tiến sĩ Triết học của Nguyễn Hoàng Sa 1999, Góp phần tìm hiểu đạo đức trong
Kinh Thánh- Luận án tiến sĩ Triết học của Trƣơng Nhƣ Vƣơng v.v… Nghiên cứu
tôn giáo và đạo đức tôn giáo, chỉ ra vai trò của nó trong đời sống tinh thần của
dân tộc nói chung, trong đời sống đạo đức nói riêng với mục đích tìm kiếm các
giải pháp để phát huy những nhân tố tích cực của nó trong quá trình xây dựng
nền văn hoá, đạo đức của dân tộc, các tác giả nói trên đã có những đóng góp mới
cho việc nghiên cứu tôn giáo và đạo đức tôn giáo ở Vịêt Nam.
Bên cạnh đó còn có một số công trình trên các tạp chí, kỷ yếu hội thảo về
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1. Mục đích: Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh, luận án phân tích ảnh hƣởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức
trong xã hội Việt Nam hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy mặt
tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức tôn giáo trong quá trình xây dựng nền
đạo đức xã hội mới.
3.2. Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích trên luận án có nhiệm vụ:
8
- Phân tích khái niệm và những đặc trƣng cơ bản của đạo đức tôn giáo,
khái quát các quan điểm cơ bản trong lịch sử về vai trò của đạo đức tôn giáo đối
với đạo đức xã hội.
- Phân tích những ảnh hƣởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong
xã hội Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu
cực của đạo đức tôn giáo trong quá trình xây dựng nền đạo đức xã hội mới.
4. Đối tượng và phạm vi của luận án
4.1. Đối tượng: Đối tƣợng của luận án là đạo đức tôn giáo trong sự tác
động đối với đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi: Ảnh hƣởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã
hội Việt Nam hiện nay là một đề tài rất rộng lớn, trong khuôn khổ luận án, tác
giả đi vào phân tích những ảnh hƣởng chủ yếu của đạo đức tôn giáo nói chung
đối với đạo đức trong xã hội giới hạn qua một số tôn giáo lớn ở Việt Nam (Phật
giáo, Công giáo, Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, Hồi giáo, Tin Lành) từ năm 1986
đến nay.
Ảnh hƣởng của đạo đức tôn giáo đối với đạo đức trong xã hội Việt Nam
hiện nay đƣợc thể hiện trên rất nhiều phƣơng diện, qua nhiều yếu tố cấu thành
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy
lý luận về tôn giáo và một số lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn khác, và có thể
góp phần vào cơ sở lý luận cho việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thực tiễn ở
nƣớc ta hiện nay.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình khoa học của tác
giả đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án gồm 3 chƣơng, 7
tiết. 10
Chương 1
VỀ VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO
1.1. Đạo đức tôn giáo - khái niệm và đặc trưng
1.1.1. Về khái niệm “Đạo đức tôn giáo”
Tôn giáo là một hiện tƣợng đã xuất hiện từ rất sớm và còn tồn tại lâu dài
trong lịch sử xã hội loài ngƣời. Trong quá trình tồn tại và phát triển, tôn giáo đã có
tác động tới nhiều mặt của đời sống nhân loại và đạo đức là một trong những lĩnh
vực chịu nhiêù sự tác động đó. Để phân tích những tác động của đạo đức tôn giáo
thông qua tổ chức tôn giáo mà chuyển tải vào tín đồ và in dấu ấn của mình trong
đời sống xã hội.
Với tƣ cách là một hình thái ý thức xã hội, trong quá trình tồn tại và phát
triển của mình tôn giáo còn có sự tác động qua lại với các hình thái ý thức khác
nhƣ triết học, văn hoá nghệ thuật, đạo đức… Do vậy, trong tôn giáo có các quy
phạm, chuẩn mực của đạo đức nhân loại là điều không khó hiểu.
Vì vậy, không thể nói, tôn giáo không có đạo đức riêng, và đạo đức tôn giáo
chỉ là sự vay mƣợn của đạo đức nhân loại.
Nhƣng nếu cho rằng, đạo đức tôn giáo hoàn toàn đối lập với đạo đức trần thế
và trong nó không chứa đựng một yếu tố tiến bộ nào thì cũng là thiếu cơ sở. Theo
quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin, mọi tôn giáo đều do con ngƣời dựa trên
những cơ tầng văn hoá nhất định của mình mà sáng tạo ra. Hơn nữa, trong quá
trình tồn tại và phát triển của mình, một mặt các tôn giáo tự sản sinh ra những giá
trị, mặt khác, nó chịu sự tác động và những ảnh hƣởng mang tính quy định của
văn hoá nhân loại. Chính sự tác động đó đã làm cho một số giá trị văn hoá của đời
12
sống thế tục đƣợc phản ánh vào trong tôn giáo. Bởi vậy, dù ít hay nhiều, các tôn
giáo đều chứa đựng những giá trị văn hoá nhất định. Chúng tôi hoàn toàn tán
thành ý kiến của Giáo sƣ, tiến sĩ Nguyễn Hữu Vui khi cho rằng : “Trong hệ thống
những giá trị chuẩn mực tôn giáo, ngoài những điều khuyên răn cấm đoán tạo
nên nội dung riêng của đạo đức tôn giáo, còn có những điều khuyên răn, cấm
đoán không hề có nội dung tôn giáo, mà là biểu hiện của các mối quan hệ thuần
tuý trần thế”[131, tr46].
Thực tế cho thấy, trong quan niệm đạo đức của hầu hết các tôn giáo, ngoài
những giá trị đặc thù để bảo vệ niềm tin tôn giáo thiêng liêng còn có những chuẩn
mực cơ bản của đạo đức nhân loại nhƣ hƣớng thiện, tránh ác, kính trọng ngƣời
quy phạm và chuẩn mực về đức tin thần thánh bao giờ cũng có tính bao trùm và
giữ vai trò chủ đạo, còn những quy phạm và chuẩn mực về cách ứng xử của con
ngƣời với con ngƣời, của con ngƣời với tự nhiên thƣờng chỉ đƣợc biểu hiện nhƣ là
sự cụ thể hoá của những quy phạm và chuẩn mực về đức tin thần thánh. Chẳng
hạn, điều răn lớn nhất đối với các tín đồ Ki tô giáo là phải tin vào Chúa. Tin vào
Chúa cũng có nghĩa là phải tin và thực hành các điều răn khác của Chúa nhƣ:
Thảo kính với cha mẹ, không giết ngƣời, không gian dâm, không tham của ngƣời,
không làm chứng dối, không đƣợc ham muốn vợ chồng ngƣời khác v.v…Với tín
đồ Phật giáo, tin vào Phật và tin vào những lời Phật dạy cũng có nghĩa là phải tin
và thực hiện một cách nghiêm túc những lời răn của Phật nhƣ: Không trộm cắp,
không tà dâm, không nói dối, không uống rƣợu say v.v…Giáo lý Hồi giáo cũng
quy định, tôn thờ thánh Alla và thánh Môhamét là nguyên tắc tối thƣợng. Ngoài ra
tín đồ Hồi giáo phải là ngƣời đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chống những sai trái, tìm
kiếm những gì đích thực và từ bỏ những gì gian dối, thân thƣơng với những gì cao
đẹp, lành mạnh và xa rời những gì không đúng đắn, coi chân lý và đạo hạnh là
mục tiêu của con ngƣời, phải quan tâm đến ngƣời già và trẻ nhỏ, chăm sóc ngƣời
ốm đau, yểm trợ ngƣời nghèo và thƣơng cảm ngƣời hoạn nạn v.v…Nhƣ vậy,
trong đạo đức tôn giáo có sự đan xen, hoà quyện giữa cái vô hình và cái hữu hình,
14
cái siêu nhiên và cái trần tục. Điều này tạo nên những nét đặc thù phức tạp rất
riêng của đạo đức tôn giáo.
1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của đạo đức tôn giáo
Mỗi tôn giáo khác nhau đều xây dựng đƣợc cho mình một hệ thống giá trị,
chuẩn mực đạo đức riêng. Không thể phủ nhận đƣợc rằng, trong hệ thống giá trị,
chuẩn mực của các tôn giáo có những điểm khác nhau căn bản tạo nên sắc thái
đặc biệt cho học thuyết đạo đức của từng tôn giáo. Tuy nhiên, bên cạnh đó đạo
cũng là nhằm mục đích hƣớng đến cái siêu nhiên. Bởi họ tin rằng, nếu không
thực hiện đúng các chuẩn mực, quy phạm mà đấng siêu nhiên đã vạch ra họ sẽ bị
trừng phạt, nếu làm đúng họ sẽ đƣợc phần thƣởng ở kiếp sống khác sau khi chết.
Tín đồ Phật giáo lo làm thiện, từ bi, thực hiện Ngũ giới (không sát sinh,
không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rƣợu), Thập thiện
(không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lời
thêu dệt, không nói hai chiều, không ác khẩu, không tham lam, không thù hận,
không si mê) v.v… với mục đích hoàn thiện bản thân theo yêu cầu của Phật, để
đƣợc giải thoát về thế giới Niết bàn cực lạc. Tín đồ đạo Kitô thực hiện nghiêm
túc mƣời điều răn của Chúa (phải thờ kính Thiên Chúa trên hết mọi sự; không
đƣợc lấy danh Thiên Chúa để làm những việc phàm tục, tầm thƣờng; dành ngày
chủ nhật để thờ phụng Thiên Chúa; thảo kính cha mẹ; không đƣợc giết ngƣời;
không làm sự dâm dục; không đƣợc tham lam lấy của ngƣời khác; không làm
chứng dối, che dấu sự gian dối; không ham muốn vợ (hoặc chồng) ngƣời khác;
không đƣợc ham muốn của cải trái lẽ ), yêu ngƣời, làm việc thiện để mong đạt
đƣợc ân sủng của Chúa, đƣợc đến gần Chúa và đƣợc giải thoát ở nơi Thiên
đƣờng cùng Chúa.v.v…
Nhƣ vậy, từ niềm tin vào cái siêu nhiên, các tôn giáo xây dựng nên hệ
thống đạo đức của mình. Hệ thống đạo đức này chi phối, điều chỉnh hành vi của
tín đồ và hƣớng họ đến với những yêu cầu mà đấng siêu nhiên đã đặt ra.
Thứ hai: Coi trọng giá trị nhân bản: Nhân bản là hằng số muôn đời của
hệ đạo đức bất kể dù ở thời đại nào. Chính vì vậy, đây cũng là một trong những
16
giá trị đƣợc đề cao trong hệ thống đạo đức của các tôn giáo. Giáo sƣ Trần Quốc
Vƣợng đã viết: “Ở trong mỗi tôn giáo lớn đều có hạt nhân triết học, đều có chủ
nghĩa nhân đạo là thành tựu văn hoá lớn nhất của loài người, cái từ bi của Phật,
ngƣời, không nói sai sự thật, không ƣớc muốn ngoại tình, không tham lam.
Yêu ngƣời, thƣơng ngƣời đƣợc các tôn giáo đòi hỏi phải cụ thể hoá bằng
những hành động thiết thực nhằm cứu giúp con ngƣời. Cho kẻ đói ăn, cho kẻ
khát uống, cho kẻ rách rƣới mặc, vui với niềm vui của ngƣời khác, buồn với nỗi
buồn của ngƣời khác, chăm sóc ngƣời ốm đau, bệnh hoạn, đối xử tốt với ngƣời
dƣới, tha cho kẻ làm mất lòng, khuyên can ngƣời lẫm lỗi, bảo ban ngƣời dốt
nát….là yêu cầu mà hệ thống đạo đức của nhiều tôn giáo đặt ra để tín đồ tự hoàn
thiện mình trong tình yêu thƣơng đồng loại.
Phật giáo với phƣơng châm “cứu một mạng người còn hơn xây bảy tháp
phù đồ”, nên Đức Phật luôn kêu gọi tín đồ của mình “hãy du hành vì hạnh phúc
cho quần sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên
và cho loài người”(Tƣơng ƣng 1,128). Trong đạo đức Kitô giáo, đức ái nhất thiết
phải đƣợc thể hiện bằng những việc làm có hiệu quả trong khả năng có thể của
mỗi ngƣời. Chúa Giêsu luôn kêu gọi tín đồ của mình đừng chỉ yêu thƣơng bằng
đầu môi chót lƣỡi “Hỡi các con bé mọn, anh chị em đừng thương yêu nhau bằng
lời nói xuông, bằng miệng lưỡi bên ngoài, nhưng phải thương yêu một cách
thành thực và bằng việc làm”[58, tr2274-2275].
Cũng chính từ việc đề cao tình yêu thƣơng con ngƣời, các tôn giáo không
chấp nhận bất cứ điều gì làm phƣơng hại đến danh dự, sự sống của con ngƣời.
Chính vì vậy, nhiều tôn giáo đã lên tiếng bảo vệ hoà bình, lên án chiến tranh và
những gì làm tổn hại nhân cách, phẩm hạnh của con ngƣời.
Sự sống của con ngƣời, theo quan niệm của các tôn giáo, đƣợc bắt đầu
ngay từ phút đầu tiên hình thành mầm mống trong lòng mẹ. Việc phá thai, cấy
thai, hay việc chấm dứt sự sống sớm…là những hành động đƣợc coi là trái lẽ
phải, không hợp đạo đức. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi chính giáo hội các
tôn giáo là những ngƣời lên án mạnh mẽ nhất chủ trƣơng toàn cầu hoá, chủ
18
phải luôn giữ cho tâm mình đƣợc lặng nhƣ đất, không tham lam, oán giận. Trƣớc
những tình huống khó khăn con ngƣời càng cần thiết phải giữ cho đƣợc chữ nhẫn
và giữ đƣợc chữ nhẫn là con ngƣời đã chiến thắng đƣợc bản thân mình. Ai thực
hành đƣợc chữ nhẫn, ngƣời đó đƣợc mệnh danh là bậc đại nhân có sức mạnh.
Phật kêu gọi tín đồ của mình hãy biết đón nhận những lời nhục mạ một cách
hoan hỷ nhƣ uống nƣớc cam lồ, ai không thể tiếp nhận những lời nhục mạ một
cách hoan hỷ nhƣ uống nƣớc cam lồ, ngƣời ấy không đƣợc ca ngợi là bậc
thƣợng nhân có trí [61].
Cam chịu, nhẫn nhịn trong Phật giáo còn đƣợc coi là một thứ vũ khí để
con ngƣời tự vệ, đối phó với cái ác. Bởi Phật giáo quan niệm, kẻ thù của con
ngƣời không phải là những con ngƣời bằng xƣơng, bằng thịt đang gây đau khổ
và chết chóc cho con ngƣời, mà suy đến cùng kẻ thù của con ngƣời chính là
tham, sân, si. Tham, sân, si đã thúc đẩy con ngƣời đến những hành vi ác độc. Vì
vậy, tiêu diệt cái ác không phải bằng hành động lấy ác báo ác, mà phải cam chịu,
nhẫn nhịn, mở rộng tấm lòng khoan dung, tha thứ để cảm hoá nó. Bởi vì Phật
giáo quan niệm “Lấy oán báo oán, oán sẽ chất chồng, lấy đức báo oán, oán sẽ
tiêu tan”
Sự cam chịu, nhẫn nhục trong hệ thống đạo đức tôn giáo đạt đến đỉnh
điểm trong đạo đức Kitô giáo. Kinh Thánh Tân ƣớc kêu gọi tín đồ “hãy thương
yêu kẻ thù địch của anh em, hãy làm ơn cho kẻ ghét anh em”[58, tr1903]. Ngay
cả khi cái ác xâm phạm thân thể con ngƣời, Kinh Thánh vẫn khuyên tín đồ của
mình hãy cam chịu, nhẫn nhục và không nên ngăn cản cái ác, không nên nói lời
nguyền rủa, thậm trí “ Ai vả má bên này, anh em hãy giơ má bên kia cho họ nữa.
Và ai cướp áo ngoài của anh em, thì đừng cản họ lấy áo trong nữa”[58, tr1903]
Hơn thế nữa, Kinh Thánh còn khuyên tín đồ của mình, hãy chúc phúc
cho kẻ hại mình và kiên nhẫn cầu nguyện Chúa “Hãy chúc phúc cho kẻ nguyền
rủa anh em và hãy cầu nguyện cho các kẻ vu vạ cho anh em”[58, tr1903]. Hãy
mỗi ngƣời tự giải thoát. Thiện là bản chất thƣờng trụ của pháp giới (có ở trong
mỗi ngƣời). Do vậy, mỗi ngƣời chỉ cần chịu khó tu đạo là có thể đạt đƣợc tâm
21
thiện.
Trong đạo đức Phật giáo có rất nhiều nguyên tắc, chuẩn mực hƣớng con
ngƣời tới điều thiện, tránh xa cái ác. Ngũ giới (không sát sinh, không trộm cắp,
không tà dâm, không nói dối, không uống rƣợu), Lục độ (Bố thí, trì giới, tinh
tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ), Bát chính đạo (chính kiến, chính tƣ duy,
chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính
định).v.v… là những chuẩn mực hƣớng con ngƣời đến cái thiện theo những cấp
độ khác nhau.
Đặc biệt, cái thiện đƣợc trình bày rất rõ ràng trong kinh Thập thiện của
Phật giáo. Kinh Thập thiện đã chỉ ra rằng, thiện là lành, là có đạo đức tốt, trái lại
là ác. Và mƣời điều thiện mà Kinh Thập thiện đƣa ra là, không sát sinh, không
trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói lời thêu dệt, không nói hai
chiều, không ác khẩu, không tham lam, không thù hận, không si mê.
Theo Phật, có cái thiện trong tâm, cái thiện nơi lời nói và cái thiện ở việc
làm. Trong đó, cái thiện trong tâm có vai trò quan trọng, bởi vì, xuất phát từ
thiện tâm mà có cái thiện trong lời nói và cái thiện trong hành động. Tâm ý tốt,
lời nói tốt và việc làm tốt sẽ đem lại lợi ích cho con ngƣời cả trong hiện tại và
tƣơng lai, bởi Phật quan niệm, con ngƣời của hiện tại là thành quả hành thiện của
con ngƣời quá khứ và là nhân của con ngƣời trong tƣơng lai.
Phật cho rằng, cái thiện thể hiện qua thân, miệng, ý. Thân không đƣợc
giết hại sinh vật, không trộm cắp, tà dâm; miệng không nói châm chọc, không
thêm bớt và không nói lời độc ác; ý không tham, sân, si.
Ai thực hành đƣợc mƣời điều thiện nói trên sẽ không còn ích kỷ mà vị
chấp nhận vô điều kiện những lời răn dạy của Chúa. Đức cậy nghĩa là hy vọng
nhờ sự trợ giúp của Thiên Chúa mà đạt hạnh phúc vĩnh cửu nơi Thiên đƣờng.
Đức mến là lòng kính yêu Thiên Chúa bằng tất cả tấm lòng, sức lực, linh hồn.
Cái ác, theo quan niệm của Kinh Thánh, đã xuất hiện trên trái đất từ khi
con ngƣời ăn trái cấm, phạm tội tổ tông. Nguồn gốc của cái ác là do quỷ dữ kết
hợp với những tật xấu của con ngƣời. Kinh Thánh cho rằng, con ngƣời có bẩy tật
23
xấu dễ dẫn đến cái ác là kiêu ngạo, hà tiện, dâm ô, hờn giận, mê ăn uống, ghen
ghét, lƣời biếng. Cái ác đem lại những hậu quả xấu cho con ngƣời và xã hội đó là
sự đau khổ, chết chóc, bệnh tật…Do vậy, Kinh Thánh khuyên con ngƣời hãy
luôn tránh xa điều ác, hƣớng đến điều thiện để trở về trinh nguyên theo tiếng gọi
thiêng liêng của Chúa. Kinh Thánh cũng khuyên con ngƣời trong mọi trƣờng
hợp phải lấy thiện báo ác, lấy ơn trả oán.
Nhƣ vậy, có thể thấy, hƣớng thiện, tránh ác là một trong những đặc trƣng
cơ bản của đạo đức tôn giáo. Nhƣng cái thiện của đạo đức tôn giáo là cái thiện
trừu tƣợng đƣợc hình thành bằng cách thoả hiệp với cái ác, nhẫn nhục chịu đựng
trƣớc cái ác. Bởi vậy, mục đích giải thoát và cứu vớt của tôn giáo không thể thực
hiện đƣợc trong một xã hội có sự đối lập gay gắt về lợi ích kinh tế giữa các giai
cấp.
Thứ năm: Đặt trọng tâm vào việc tu dưỡng đạo đức cá nhân. Trong
nền đạo đức xã hội chủ nghĩa, đạo đức cá nhân và đạo đức xã hội luôn gắn kết
với nhau, biểu hiện qua nhau và vì nhau, đƣợc xác định bằng những chuẩn mực
rõ ràng. Con ngƣời cá nhân, cá thể phải luôn gắn với con ngƣời tập thể, đạo đức
cá nhân luôn phải gắn với ý thức đạo đức làm chủ tập thể, với chủ nghĩa yêu
nƣớc, gắn với ý thức quốc gia dân tộc. Nhƣng trong đạo đức tôn giáo, về cơ bản
thƣờng ít hoặc không đề cập trực tiếp đến đạo đức xã hội, mà chỉ chú trọng và