LUẬN VĂN: Ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo đối với đời sống tinh thần người Chăm Ninh Thuận hiện nay pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo đối với
đời sống tinh thần người Chăm
Ninh Thuận hiện nay
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Người Chăm ở Ninh Thuận có 60345 người (chiếm 11,75% dân số của tỉnh),
cư trú xen kẽ với các dân tộc anh em (Kinh, Hoa, Raglai, K'ho ) ở 22 thôn thuộc 12
xã của 4 huyện thị [13, tr.1]. Đồng bào Chăm Ninh Thuận theo 02 tôn giáo chính là
đạo Bàlamôn và đạo Bàni, một số ít đi theo Công giáo, Tin lành và đạo Ixlam Ngoài
ra đồng bào còn thực hiện nhiều nghi lễ thuộc tín ngưỡng truyền thống của dân tộc.
Trong tín ngưỡng và tôn giáo của đồng bào Chăm có sự đan xen, khó phân
biệt rạch ròi đâu là các nghi lễ thuộc tôn giáo hay tín ngưỡng Chính tín ngưỡng, tôn
giáo đã góp phần trong việc hình thành và phát triển văn hóa Chăm, làm cho văn hóa
Chăm phong phú, đa dạng
Hiện nay, tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm vẫn còn chi phối khá mạnh

vấn đề này - kể cả các luận văn đại học, cao học và luận án tiến sĩ Trong đó, những
công trình nghiên cứu trong nước gần đây liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo Chăm có
thể kể:
* Về sách:
- "Người Chăm ở Thuận Hải", Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
và UBND tỉnh Thuận Hải, Thuận Hải, 1989.
- "Văn hóa Chăm", Viện Khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh 1991, Phan
Xuân Biên làm chủ biên.
- "Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm" của Ngô Văn Doanh, 1998.
- "Lễ hội của người Chăm" của Sakaya, Nxb Văn hóa dân tộc, 2003.
* Về luận án tiến sĩ:
- Phan Văn Dốp, "Tôn giáo của người Chăm ở Việt Nam", Luận án tiến sĩ
Lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
- Phan Quốc Anh, "Nghi lễ vòng đời của người Chăm Bà la môn ở Ninh
Thuận", Luận án tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội, 2004.
- Nguyễn Đức Toàn, "ảnh hưởng tôn giáo đối với tín ngưỡng của người Chăm ở
Việt Nam”, Luận án tiến sĩ lịch sử, Thành phố Hồ Chí Minh, 2002.

- Vương Hoàng Trù-“Tín ngưỡng dân gian của người Chăm ở Ninh Thuận và
Bình Thuận”, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Hà Nội, 2002.
- Đề tài cấp tỉnh của Ban Dân vận tỉnh ủy Ninh Thuận, "Tín ngưỡng, tôn giáo
của người Chăm ở Ninh Thuận - Thực trạng và giải pháp", Phan Rang, 2000.
Ngoài ra còn có nhiều bài viết về tín ngưỡng tôn giáo Chăm đăng rải rác ở các
Tạp chí Dân tộc học, Nghiên cứu tôn giáo, Nghiên cứu Đông Nam á của Ngô Văn
Doanh, Thành Phần, Bá Trung Phụ, Văn Món, Phan Văn Dốp, Phú Văn Hẳn
Những nghiên cứu trên đây đã góp phần rất quan trọng trong quá trình nghiên
cứu văn hóa Chăm nói chung và tín ngưỡng tôn giáo người Chăm nói riêng và những
công trình trên đã đạt được những thành công nhất định.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu thực trạng và sự ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn
giáo ngời Chăm đối với đời sống vật chất và tinh thần của người Chăm ở Ninh Thuận

Nhiệm vụ:
Tìm hiểu một số nét về điều kiện kinh tế-xã hội vùng đồng bào Chăm tỉnh
Ninh Thuận có ảnh hưởng đến tín ngưỡng, tôn giáo của người Chăm Ninh Thuận.
Tìm hiểu nội dung cơ bản, những diễn biến và những đặc điểm, tình hình tín
ngưỡng, tôn giáo, qua đó tìm ra nét đặc trưng của tín ngưỡng, tôn giáo người Chăm
Ninh Thuận hiện nay.
Nêu lên thực trạng ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn giáo người Chăm đối với đời
sống tinh thần của đồng bào Chăm hiện nay và đề ra một số giải pháp để khắc phục những
ảnh hưởng tiêu cực và phát huy những yếu tố tích cực.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề tôn giáo, dân
tộc.
Luận văn sử dụng thành quả các công trình nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng
người Chăm trong thời gian qua và các tư liệu báo cáo của các ngành trong tỉnh và
những tư liệu thực tế trong quá trình công tác gần 15 năm ở địa phương.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để xem xét tín ngưỡng tôn giáo Chăm trong
quá trình vận động và mối quan hệ của nó với đời sống xã hội của người Chăm.

Luận văn sử dụng phương pháp điền dã, điều tra xã hội học để tiếp cận trực
tiếp với sinh hoạt trong tín ngưỡng, tôn giáo, tâm lý, tình cảm của đồng bào Chăm và
sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để nêu lên thực trạng và sự ảnh hưởng của
nó đến đời sống tinh thần của đồng bào Chăm Ninh Thuận hiện nay.
6. Những đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn nêu lên được tình hình và đặc điểm của tín
ngưỡng tôn giáo Chăm trong quá trình diễn biến của nó.
Kết quả của luận văn cũng nêu lên vai trò của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống
của người Chăm, thực trạng ảnh hưởng đến đời sống tinh thần người Chăm Ninh Thuận
hiện nay và đưa ra những giải pháp phù hợp.
1.1 Một số điều kiện kinh tế-xã hội ảnh hưởng đến tín ngưỡng, tôn giáo người
Chăm Ninh Thuận hiện nay
1.1.1. Khái quát về người Chăm Ninh Thuận
Người Chăm là một dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có quá trình
lịch sử lâu đời với nền văn hoá phong phú và đa dạng.
Trải qua các thời kỳ lịch sử, hiện nay người Chăm cư trú xen kẽ với các dân tộc
anh em ở một số tỉnh miền Trung và Nam Bộ nước ta như Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận,
Bình Thuận, Đồng Nai, Tây Ninh, TP.HCM, Bình Phước, An Giang với dân số trên 137
ngàn người, trong đó tập trung đông nhất ở tỉnh Ninh Thuận [8, tr.1].
Người Chăm ở Ninh Thuận có 60.345 người (chiếm 11,75% dân số của Tỉnh) [13,
tr.1], sống tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng, xen kẽ với các dân tộc anh em ở 22 thôn
thuộc 12 xã của 04 huyện thị, trong đó, tập trung đông nhất ở huyện Ninh Phước và
huyện Ninh Hải. Kinh tế của đồng bào Chăm chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, trồng lúa
nước là chính. Một số ít trồng thêm cây công nghiệp, cây ăn trái, hoa màu, chăn nuôi gia
súc, gia cầm như trâu, bò, heo, cừu, dê, gà vịt và kinh doanh buôn bán. Có một thôn làm
nghề gốm và một thôn làm nghề dệt thổ cẩm [7, tr.1].
Ngoài tín ngưỡng dân gian truyền thống, hiện nay người Chăm ở Ninh Thuận theo
02 tôn giáo chính: Đạo Bàlamôn (người Chăm ảnh hưởng ấn Độ giáo, còn gọi là Ahier)
và đạo Bàni (người Chăm ảnh hưởng Ixlam, còn gọi là Aval). Ngoài ra còn có một số ít
đi theo đạo Công giáo, Tin Lành và đạo Ixlam chính thống.
Trải qua các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, nhất là trong thời kì kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, dân tộc Chăm luôn đoàn kết với các dân tộc
anh em trong tỉnh, đóng góp sức người sức của cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước. Nhiều cơ sở cách mạng đã hình thành và phát triển trong các làng Chăm
như Hậu Sanh, Như Bình, Vĩnh Thuận, Phước Lập… Nhiều gương sáng trong 02 thời kỳ

kháng chiến có anh hùng liệt sĩ Đổng Dậu, liệt sĩ Phú Như Lập, Tài Đại Thông, Từ Hậu,
Lưu Đặng, Thiên Sanh Sửu…[7, tr.1].

thiện đời sống của nhân dân…”.
Về văn hoá dân tộc, Chỉ thị 121 nêu rõ: “Coi trọng các di sản văn hoá dân tộc, sưu
tầm, khai thác, chọn lọc và nâng cao vốn văn hoá dân tộc Chăm, đáp ứng yêu cầu, tình
cảm của đồng bào Chăm và làm phong phú kho tàng văn hoá Việt Nam…”.
Chỉ thị đã yêu cầu “Các cấp ủy đảng cần làm tốt một số nhiệm vụ như tuyên
truyền giáo dục chính trị tư tưởng cho mọi tầng lớp nhân dân về chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước, tạo mọi điều kiện để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống của đồng
bào, phát triển văn hoá, giáo dục, y tế và xã hội; củng cố v xây dựng cơ sở đảng, chính
quyền và các đoàn thể quần chúng”.
Ngày từ khi Chỉ thị 121 ra đời, để thực hiện tinh thần của Chỉ thị, tỉnh Thuận Hải
(Ninh Thuận và Bình Thuận) đã tổ chức Hội nghị triển khai cho tất cả các cấp ủy đảng,
chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể trong tỉnh.
Sau gần 10 năm triển khai và thực hiện Chỉ thị, đến năm 1990, dưới sự chỉ đạo
trực tiếp của Ban Bí thư (khóa VI), Tỉnh ủy và ủy ban nhân dân tỉnh Thuận Hải đã tổ
chức Hội nghị tổng kết việc triển khai và thực hiện Chỉ thị 121 tại tỉnh Thuận Hải. Đến
tham dự Hội nghị, ngoài lãnh đạo Trung ương và Tỉnh còn có đông đảo cán bộ, đảng viên
người Chăm, đại diện các chức sắc, nhân sĩ, trí thức Chăm tiêu biểu có uy tín…Hội nghị
đã đánh giá những việc đã làm được, những mặt còn tồn tại, nguyên nhân, bài học kinh
nghiệm và đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho thời gian tiếp theo…
Sau Hội nghị tổng kết 10 năm việc triển khai và thực hiện Chỉ thị 121, Ban Bí thư
Trung ương Đảng (khoá VI) đã ra Thông tri số 03-TT/TW về công tác đối với đồng bào
Chăm, Thông tri đã đánh giá đúng thực trạng vùng đồng bào Chăm từ khi có Chỉ thị 121 và
yêu cầu các cấp ủy đảng cần tập trung làm tốt các vấn đề về kinh tế, đời sống, văn hoá, xã
hội, an ninh chính trị ở các vùng Chăm…
Năm 1992, tỉnh Thuận Hải tách ra thành 02 tỉnh: tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận.
Ngay sau khi chia tách tỉnh, lãnh đạo tỉnh Ninh Thuận đã mở Hội nghị triển khai ngay
Thông tri 03 cho các cấp ủy đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể trong tỉnh. Bởi
vì Ninh Thuận là tỉnh có đồng bào Chăm sinh sống đông nhất, chiếm gần 50% dân số

đồng bào Chăm trong cả nước nên việc triển khai, thực hiện Thông tri 03 là vô cùng quan

chợ; 100% số xã được công nhận xoá mù chữ và phổ cấp giáo dục tiểu học [30, tr.2].
Trường trung học Pô Klong (cũ) được đổi tên thành Trường PTTH Dân tộc nội trú của
tỉnh, được xây dựng thêm khang trang hơn. Trung tâm văn hoá Chăm được phục hồi và
từng bước đi vào hoạt động; Ban biên soạn chữ Chăm được duy trì và nâng cao về chất
lượng; số học sinh, sinh viên, giáo viên, bác sĩ và cán bộ, đảng viên ngày càng nhiều; các
Tháp Pô Klong Girai, Tháp Pô Rômê, Tháp Hoà Lai được Nhà nước trùng tu; chữ viết
của dân tộc được nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy rộng rãi cho học sinh cấp I ở các
làng Chăm; tệ mê tín dị đoan được đẩy lùi. Bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân
tộc được phục hồi, phát huy và phát triển. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín
ngưỡng, tôn giáo được Nhà nước quan tâm tạo điều kiện để đáp ứng nguyện vọng chính
đáng của đồng bào. Một số lễ nghi trong tín ngưỡng, tôn giáo không còn phù hợp với đời
sống mới đã được xoá bỏ…
Từ những thành quả đã đạt được ở các vùng Chăm, đã làm cho đồng bào phấn khởi, từ đó
càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, ở vùng Chăm Ninh Thuận hiện nay vẫn
còn tồn tại một số vấn đề cần được tiếp tục quan tâm giải quyết đó là nền kinh tế trong
vùng đồng bào Chăm có chuyển đổi, có phát triển nhưng còn rất chậm; đời sống của
đồng bào có được nâng lên so với trước nhưng nhìn chung vẫn còn thấp; trong tín
ngưỡng, tôn giáo vẫn còn nhiều nghi lễ rườm rà, kéo dài thời gian, tốn kém tiền bạc, ảnh
hưởng đến sức khoẻ và hoạt động sản xuất của người dân; trong nội bộ một tôn giáo
thường xảy ra tình trạng tranh chấp chức sư cả, không thống nhất ngày tháng, nhiều tín
đồ từ bỏ tôn giáo truyền thống đi theo các tôn giáo khác như: Công giáo, Tin Lành,
Ixlam…làm xáo trộn rất lớn đến đời sống sinh hoạt của cộng đồng. Một số mâu thuẫn xuất
phát từ đời sống sinh hoạt hàng ngày ở các vùng đồng bào các dân tộc sống xen kẽ thường
có nguy cơ lan rộng, kéo nhiều người tham gia; vẫn còn tồn tại tư tưởng dân tộc lớn và dân
tộc hẹp hòi. Lực lượng cốt cán trong vùng Chăm còn rất mỏng, chưa phát huy hết vai trò,
nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong quá trình giải quyết các vụ việc ở vùng Chăm, chúng ta
chưa tranh thủ vai trò của các vị chức sắc, nhân sĩ, trí thức Chăm tiêu biểu, trong khi đó, ở
vùng Chăm Ninh Thuận hiện nay, vai trò của các vị này có ảnh hưởng rất quan trọng [10,
tr.8].

cộng đồng, tín ngưỡng liên quan đến tộc họ, gia đình và các cá nhân, tín ngưỡng liên

quan đến nông nghiệp… Các tín ngưỡng này vẫn còn chi phối khá sâu sắc trong đời sống
của đồng bào Chăm-nhất là vĩnh vực đời sống tinh thần.
1.2.1. Khái niệm về tín ngưỡng
Đến nay, chưa có một định nghĩa nào tương đối hoàn chỉnh về khái niệm này.
Để có khái niệm về tín ngưỡng, cần đặt trong mối quan hệ với niềm tin.
Theo GSTS Phạm Ngọc Quang thì “Niềm tin là một mối quan hệ (giữa người và
người, giữa người và lực lượng siêu nhiên, giữa người và vật). Nó ít nhất bao gồm: người
tin, đối tượng được tin. Đối tượng được tin có thể rất đa dạng: là những con người cụ thể;
những vật thể được coi như là cần có sức mạnh giúp đỡ hoặc làm hại con người; những
con người được người đời gán cho sức mạnh siêu nhiên…” và “Niềm tin mà con người
theo đuổi có nhiều loại khác nhau: có niềm tin khoa học, niềm tin tiền khoa học và niềm
tin phi khoa học. Tín ngưỡng là một trong những số niềm tin tiền khoa học, phi khoa học
đó…” [42, tr.9].
Như vậy “Niềm tin là điểm xuất phát của mọi tín ngưỡng. Lòng tin, sự ngưỡng
vọng của con người vào một lực lượng siêu nhiên nào đó, một lực lượng siêu thực, hư ảo,
vô hình là nội hàm cơ bản của tín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng dân gian.Đối với người
có tín ngưỡng, lực lượng siêu nhiên đó là có thật, đang tác động vào cuộc sống của họ.
Để thuận lợi trong cuộc sống, tránh mọi tai ương, họ tôn thờ, sùng bái lực lượng siêu
nhiên ấy” và “Lòng tin ở một lực lượng siêu nhiên, sự sợ hãi sẽ bị trừng phạt hay hi vọng
sẽ được che chở, niềm tin rằng mình sẽ được giải thoát khỏi mọi tai ương, trắc trở… là
hạt nhân ban đầu của tín ngưỡng [48, tr.10].
Bàn về vấn đề tín ngưỡng hay niềm tin tôn giáo, GS Đặng Nghiêm Vạn viết: “ở
nước ta, thuật ngữ tín ngưỡng có thể có 02 nghĩa, khi ta nói tự do tín ngưỡng, người
ngoại quốc có thể hiểu đó là niềm tin nói chung hay niềm tin tôn giáo. Nếu hiểu tín
ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo; Nếu hiểu là niềm tin tôn giáo thì tín
ngưỡng tôn giáo chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo” [58, tr.76]. Tuy
nhiên, chúng ta “cần phân biệt niềm tin tôn giáo (tín ngưỡng) với niềm tin trần tục. Trước
hết trong tín ngưỡng phải có yếu tố thiêng liên quan đến một thế giới vô hình, đến những

yếu tố âm dương là khá phổ biến. Thể hiện rõ nhất của yếu tố phồn thực trong tín ngưỡng
dân gian của người Chăm là qua việc thực hiện lễ hội Rija Nưgar (lễ hội múa tống ôn đầu

năm). Lễ này được thực hiện trong tháng 1 hàng năm theo lịch Chăm, vào ngày thứ năm và
thứ sáu thượng tuần trăng. ý nghĩa của lễ hội Rija Nưgar là tiễn đưa những điều xấu xa, xui
xẻo của năm cũ, đón nhận những điều tốt đẹp trong năm mới, cầu cho mưa thuận, gió hoà,
mùa màng tươi tốt, dân làng khỏe mạnh, ấm no và hạnh phúc…
Lễ vật dâng cúng trong lễ hội múa Rija Nưgar ngoài gà, dê, còn có 5 mâm cơm,
canh, bánh ngọt, trái cây, trầu, cau, rượu, trứng và lễ vật quan trọng là lửa và nước. Lễ
vật được chia thành 02 phần tượng trưng cho âm và dương, cụ thể: ngày vào buổi chiều
thứ năm-cúng con gà (thuộc âm), ngày ra buổi sáng thứ sáu-kết thúc buổi lễ cúng con dê
(thuộc dương). Thầy cúng lễ gồm có thầy Kaing (thầy bóng), thầy Mưdwơn (thầy vỗ), 02
nghệ nhân đánh trống Ginăng; 01 nghệ nhân thổi kèn Saranai, cùng nhiều thầy cúng lễ
và dân làng phụ lễ. Hệ thống Thần linh trong lễ Rija Nưgar gồm rất nhiều vị Thần như Pô
Tang Hauk (Thần chèo thuyền), Pô Gialau (Thần rừng trầm, rừng quế), Pô Riyak (Thần
sóng biển), Pô Nưgar (Thần mẹ xứ sở), Pô Klong Girai, Pô Rômê, Pô Patau Bin Thôr, Pô
Bhum (Thần ruộng lúa), Thần nước, Thần mặt trời, Thần núi, Thần biển…
Kết thúc lễ hội Rija Nưgar là nghi thức tiễn đưa hình nhân thế mạng, đây là vật
thay thế cho dân làng mang đi những điều xấu xa của năm cũ, những bệnh tật, mất mùa
của năm cũ, đem lại cho con người sức khoẻ, bình an, mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi
tốt trong năm mới… Sau đó hình nhân thế mạng này được tiễn đến tại ngã ba đường hay
tiễn xuống dòng sông
Điểm đặc biệt trong lễ hội múa Rija Nưgar là múa phồn thực (ngoài các nghi thức
bắt buộc thì ở một số địa phương còn có nghi thức này). Lễ múa phồn thực do một người
đàn ông có tầm vóc to khoẻ được dân làng bầu chọn và bà bóng (Muk Pajơw) đảm
nhiệm. Trước khi vào lễ, người đàn ông được bầu làm nghi thức mặc y phục và tay cầm
03 cây gỗ tre hình dương vật, dài khoảng 25cm, đầu nhuộm màu đen. Khi vào lễ, thầy
Kadhar kéo đàn Rabap hát lễ về Pô Nưgar (Thần mẹ xứ sở), người đàn ông cầm cây tre
múa nhún nhảy như động tác giao hợp. Sau một hồi múa, thì người đàn ông đó dừng lại.
Ba cây tre đó được người đàn ông chuyển cho bà bóng tiếp tục múa và cuối cùng làm lễ

đồng bào như: lễ cầu đảo (Plao Sah), lễ chặn nguồn nước (Kap lâu Krong), lễ cúng ruộng
(iêu Pô Bhum), lễ chém trâu tế Thần tại núi đá trắng và tại Tháp, lễ hội múa tống ôn đầu
năm (Rija Ngar)…

Các nghi lễ trên đều rất phong phú, đa dạng và mang tính cộng đồng. Sau đây là
một số nghi lễ là chính:
- Lễ mở cửa Tháp (Pơh băng yang)
Đây là nghi lễ mở đầu cho các nghi lễ cúng tế ở các Đền, Tháp của người Chăm.
Thời gian vào thượng tuần trăng tháng 1 theo lịch Chăm (khoảng tháng 4 dương lịch).
Nghi lễ diễn ra tại Tháp Pô Klong Girai, Tháp Pô Rômê và Đền Pô Nưgar. Mục đích của
lễ này là dâng lễ vật lên các vị Thần ở Đền, Tháp, cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng
tươi tốt, dân làng khoẻ mạnh, ấm no hạnh phúc, người dân được phép khai mương, đắp
đập, chuẩn bị cho việc gieo trồng và sản xuất…
Điều hành lễ mở cửa Tháp là các chức sắc thuộc tôn giáo Bàlamôn như sư cả (Pô
Dhia), các Paseh và các vị chức sắc trong tín ngưỡng như Kadhar (thầy Kòke), bà bóng
(muk Pajơw), ông từ (ong Chamưnei)…
Các Thần linh được người dân khấn cầu cúng tế như Thần mưa, Thần núi, Thần
biển, Thần sông, Thần lửa… và các vị Vua của dân tộc được Thần Thánh hóa như Pô
Nưgar (Thần mẹ xứ sở), Pô Klong Girai, Pô Rômê, Pô Bin Thuôr, các hoàng hậu…
Nghi lễ mở cửa Tháp bao gồm các nghi thức như mở cửa Tháp, tắm tượng Thần,
mặc y phục cho Thần và đại lễ…
Đây là nghi lễ diễn ra hàng năm, có cả chức sắc Chăm Bàlamôn, chức sắc trong
tín ngưỡng và đồng bào Chăm Bàlamôn ở Ninh Thuận tham gia theo từng vùng Tháp.
- Lễ múa tống ôn đầu năm (Rija Nưgar)
Lễ múa tống ôn đầu năm là một nghi lễ rất quan trọng của người Chăm ở Ninh
Thuận (cả Chăm Bàlamôn và Chăm Bàni). Nghi lễ diễn ra vào 02 ngày thứ năm và thứ
sáu tuần đầu thượng tuần trăng tháng 01 hàng năm theo lịch Chăm (khoảng tháng 4
dương lịch) ở tất cả các làng của người Chăm.
ý nghĩa trong lễ múa tống ôn đầu năm là người dân đưa các lễ vật cúng tế cho các
Thần để cầu mong những Thần linh tống khứ điều xấu xa, xui xẻo, bệnh tật, mất mùa…

Thuận (cả Chăm Bàlamôn và Chăm Bàni). Trong đó, người Chăm Bàlamôn thường xem
nghi lễ này như là một ngày tết của dân tộc.
Lễ hội Katê diễn ra vào ngày 1 tháng 7 hàng năm theo lịch Chăm (khoảng tháng
10 dương lịch). Đầu tiên, lễ hội diễn ra tại các Đền Tháp như Tháp Pô Klong Girai, Tháp
Pô Rômê, Đền Pô Nưgar, rồi lễ hội diễn ra ở làng, sau đó là từng hộ gia đình.

Lễ hội Katê có ý nghĩa là tưởng nhớ tổ tiên, ông bà và các vị Vua có công với
nước, mừng kết thúc một mùa thu hoạch và chuẩn bị bước vào vụ mới. Trong ngày lễ
chính (ngày lên Tháp), bà con người Chăm (cả Chăm Bàlamôn và Chăm Bàni) và các dân
tộc anh em lên Tháp rất đông để chứng kiến lễ hội. Sau nghi lễ trên Tháp và ở làng thì
từng gia đình tổ chức lễ như ngày tết, có mời khách đến chung vui, anh em họ hàng thăm
nhau, không khí thật vui nhộn và đoàn kết…
Các chức sắc tham gia hành lễ của lễ hội Katê gồm có các chức sắc thuộc tôn giáo
Bàlamôn như sư cả (Pô Dhia), phó sư cả (Pô Bach), Paseh, các chức sắc thuộc tín ngưỡng
như ông thầy kò ke (ông Kadhar), bà bóng (muk Pajơw), ông từ (ông Chamưnei)…
Lễ vật dâng cúng gồm: 01 con dê, 03 con gà, 05 mâm cơm, canh, 01 mâm cơm
với muối vừng, 03 cỗ bánh gạo, hoa quả. Ngoài ra, còn có trứng, trầu cau, xôi chè…
Lễ hội Katê gồm có các bước như rước y phục của vua từ nơi cất giữ lên Tháp.
Bước này tổ chức rất trọng thể, sau đó là nghi thức mở cửa Tháp, kế tiếp là nghi thức tắm
tượng vua (Thần), nghi thức mặc áo cho tượng vua (Thần) và cuối cùng là đại lễ. Sau
phần đại lễ là phần hội-phần múa hát của các đội văn nghệ ở các thôn hoà cùng với tiếng
trống ghi năng và kèn Saranai, không khí thật vui nhộn.
Sau khi lễ hội kết thúc ở trên Tháp thì lễ hội diễn ra trong phạm vi làng, sau đó là
từng gia đình…
Ngày nay lễ hội Katê là một lễ hội lớn nhất, mang tính cộng đồng rộng rãi và vui
nhộn nhất của người Chăm ở Ninh Thuận. Lễ hội này được đồng bào xem như là một
ngày tết của dân tộc. Hàng năm, cứ đến ngày diễn ra lễ hội thì các ngành, các cấp của
tỉnh quan tâm tổ chức rất chu đáo để đồng bào đón lễ hội vui vẻ, an toàn, tiết kiệm và
đoàn kết. Ngoài ra, các ngành, các cấp thường tổ chức thành nhiều đoàn để đi thăm và
tặng quà cho các Tháp, Đền, gia đình các chức sắc, nhân sĩ, trí thức Chăm tiêu biểu, các

thuật-đặc biệt là công tác thủy lợi nên lễ này không còn thực hiện nữa.
- Lễ chặn đầu nguồn nước tại các con sông (ngak yang pakap halâu Krong
(Kraung))
Lễ chặn đầu nguồn nước được tiến hành vào hạ tuần trăng tháng 8 hàng năm theo
lịch Chăm (khoảng tháng 11 dương lịch), thời gian mà đồng bằng miền trung sắp sửa có
những trận lũ lụt lớn.

Tham gia lễ chặn nguồn nước có cả chức sắc Bàlamôn và chức sắc Bàni, chức sắc
thuộc tín ngưỡng và cộng đồng Chăm Bàlamôn và Bàni ở Ninh Thuận.
Nếu như lễ cầu đảo được tiến hành tại nơi cuối nguồn của các con sông (nơi các
con sông đổ ra biển) thì lễ chặn nguồn nước được tổ chức tại nơi đầu nguồn của các con
sông.
ý nghĩa của lễ chặn nguồn nước là đồng bào Chăm tạ ơn các Thần linh đã ban
mưa xuống cho người dân sản xuất, đồng thời cầu xin các vị Thần linh phù hộ đừng cho
mưa và nước đổ xuống nữa để khỏi gây ra lũ lụt, tạo điều kiện cho dân làng thu hoạch và
chuẩn bị vào sản xuất vụ mới…
Ngày nay, lễ này không còn thực hiện nữa.
- Lễ chém trâu tế Thần tại núi Đá Trắng (ngak Kabau pak chơk yang Patau)
Lễ chém trâu tế Thần tại núi Đá Trắng được tổ chức 7 năm một lần vào tháng 7
theo lịch Chăm (khoảng tháng 10 dương lịch). Lễ được tổ chức tại núi Đá trắng (thôn
Như Bình-xã Phước Thái-Huyện Ninh Phước).
Lễ này gắn liền với nhiều truyền thuyết liên quan đến con “Trăn Tinh”. ý nghĩa
của lễ là dân làng cúng tế để con “Trăn Tinh” khỏi quậy phá mùa màng và cuộc sống của
con người. Lễ này do ông cai quản ruộng đất (ông Riya Hamu), ông cai đập (ông Binưk),
ông thầy vỗ (ông Kadhar), bà bóng (Muk Pajơw) hành lễ cùng với bà con dân làng ở thôn
Như Bình-Lễ vật gồm một con trâu trắng, gà, bánh trái…
Trước năm 1975, lễ này thực hiện thường xuyên 7 năm một lần, đến năm 1983 lễ
này còn thực hiện. Từ 1983 đến nay lễ này không còn thực hiện nữa. Điều này có thể
hiểu rằng, nhiều nghi lễ không phù hợp với đời sống mới sẽ phai dần một khi kinh tế và
đời sống của đồng bào phát triển cao hơn.

Tuy nhiên, có một số nghi lễ không còn phù hợp với đời sống hiện tại, tốn kém tiền bạc
của người dân, đã không còn tồn tại nữa…
Mặc dù vậy, tín ngưỡng của người Chăm là nền tảng của các tôn giáo khi các tôn
giáo này du nhập vào người Chăm như ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo… Trong đó, đặc
biệt nhất là ấn Độ giáo. Thể hiện rõ nhất là hiện nay trong tín ngưỡng, tôn giáo Chăm có
sự đan xen, khó phân biệt rạch ròi. Có nhiều nghi lễ đồng thời là của tín ngưỡng, đồng
thời là của tôn giáo như lễ hội Katê, lễ hội Chabur….Hoặc có một số nghi lễ mà ở đó có
sự tham gia đầy đủ các chức sắc thuộc tín ngưỡng và chức sắc các tôn giáo như lễ cầu

đảo, lễ chặn nguồn nước, lễ hội Katê…Như vậy có thể khẳng định rằng tín ngưỡng của
người Chăm là cơ sở, là nền tảng cho các nghi lễ của tôn giáo sau này.
1.3. Tôn giáo của người Chăm ở Ninh Thuận
1.3.1. Khái niệm về tôn giáo
Bàn về tôn giáo là bàn về một lĩnh vực khá rộng, đa dạng và phức tạp. Từ trước
đến nay đã có nhiều quan điểm bàn về vấn đề tôn giáo. Theo ông Đặng Nghiêm Vạn thì
“Tôn giáo là một thực thể khách quan của loài người, nhưng là một thực thể có nhiều biểu
hiện rất phức tạp cả về nội dung cũng như về hình thức. Tính đa dạng của tôn giáo phản ánh
tính đa dạng của văn hoá mà tôn giáo là một bộ phận văn hoá tinh thần (Spirituel) hay phi vật
thể” [58, tr.48] và theo ông “nội dung bản chất của bất kỳ tôn giáo nào cũng cự tuyệt với
những điều ác, xấu, cũng mong vươn đến cái tuyệt đối, cái chân, thiện, mỹ… Nên ở bất
kỳ tôn giáo nào, trong nội dung cũng bao hàm cuộc đấu tranh giữa hai yếu tố tốt và xấu
nhằm duy trì niềm tin và ước mơ của cộng đồng, của cá nhân. Điều đó được phản ánh
trong nội dung của từng hình thái tôn giáo hay tổng thể tôn giáo của một cộng đồng, tùy
theo tính chất của tôn giáo là độc Thần, đa Thần hày phiếm Thần. Nội dung đó được thể
hiện bằng những nghi thức, những kiêng cữ, những hành vi tẩy uế đảm bảo sự trong sạch,
tính thiện theo quan niệm của từng cộng đồng và từng cá nhân trong cộng đồng tôn giáo”
[58, tr.48-49].
Tóm lại “đã nói đến tôn giáo dù nghĩa rộng hay nghĩa hẹp đều phải đụng chạm
đến vấn đề 02 thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống
và thế giới sau khi chết, thế giới của các vật thể vô hình” [58, tr.69].

việc thờ cúng các vị Thần.
Người Chăm Bàlamôn ngoài việc thờ các vị Thần của tự nhiên như Thần núi,
Thần mưa, Thần gió… và các vị vua có công với nước, thì họ còn tôn thờ 03 vị Thần của
ấn Độ giáo như Thần Brahma, Thần Shiva, Thần Vishnu, trong đó phổ biến nhất là Thần
Shiva.
Ngày nay, văn hoá ấn Độ vẫn còn ảnh hưởng và chi phối khá mạnh mẽ đến toàn
bộ đời sống của cộng đồng người Chăm ở Ninh Thuận, trong đó, rõ nhất là Chăm
Bàlamôn (Chăm ảnh hưởng ấn Độ giáo, còn gọi là Ahier).
1.3.2.1. Đặc điểm về hệ thống các Thần và các cơ sở tế lễ

Trích đoạn ảnh hưởng của tín ngưỡng, tơn giáo Chăm đến nghệ thuật của người Chăm ở Ninh Thuận hiện nay ảnh hưởng của tín ngưỡng, tơn giáo Chăm đến cách suy nghĩ của người Chăm Ninh Thuận hiện nay Quan tâm phát triển đảng viên, lực lượng cốt cán trong vùng đồng bào Chăm Quy hoạch, đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ Chăm và giải quyết việc làm cho Tăng cường cơng tác quản lý Nhà nước về tơn giáo, dân tộc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status