LUẬN VĂN: Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo trong quá trình xây dựng đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo
trong quá trỡnh xõy dựng đạo đức
mới ở Việt Nam hiện nay

Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo không phải từ trên trời rơi xuống, và cũng không phải là một di sản thiên
nhiên vốn có, mà là một sản phẩm do con người sáng tạo ra. Tuy nhiên, tôn giáo không đồng
hành với con người. Tôn giáo là phạm trù lịch sử. Tôn giáo vốn là một hiện tượng xã hội
phức tạp và hiện nay là một trong những vấn đề nhạy cảm ở nhiều dân tộc, quốc gia. Việt
nam là một quốc gia đa tôn giáo. Có những tôn giáo du nhập vào Việt Nam từ những thế kỷ

học Việt Nam ấn hành năm 1995.
Cuốn "Giải thoát tri kiến" của Jkrishnamutri, An Tiêm, Sài Gòn xuất bản 1973.
Cuốn sách này đã nêu bật đạo đức Phật giáo là phương tiện quan trọng để thực hiện con
đường giải thoát theo quan điểm của Phật giáo.
+ Khuynh hướng nghiên cứu đạo đức Phật giáo nhìn từ góc độ triết học. Đã có
một số công trình đáng lưu ý. Đó là cuốn "Lịch sử triết học ấn Độ" của hòa thượng
Thích Mãn Giác, Ban tu thư, đại học Vạn Hạnh 1997. Cuốn "Góp phần tìm hiểu tư
tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông" của Nguyễn Hùng Hậu, nhà xuất bản khoa
học xã hội, Hà Nội 1996. Cuốn "Triết học về Tánh không" của Tuệ Sĩ, An Tiêm, Sài
Gòn xuất bản 1970. Cuốn "Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo" của hòa thượng Thích
Mật Thể, Viện triết lý và triết học thế giới Từ những cuốn sách này ta có thể chắt lọc
ra những ý tưởng nghiên cứu đạo đức Phật giáo dưới góc độ triết học.
+ Bên cạnh các khuynh hướng trên còn có khuynh hướng nghiên cứu đạo đức
Phật giáo dưới góc độ văn hóa cũng đáng chú ý. Chẳng hạn như cuốn "Những nét văn
hóa của đạo Phật" của hòa thượng Thích Phụng Sơn, nhà xuất bản thành phố Hồ Chí
Minh 1995. Cuốn "Cơ sở văn hóa Việt Nam" của giáo sư Trần Ngọc Thêm, Đại học
Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh 1996 Ngoài ra gần đây còn có một số luận án cũng
nghiên cứu về đạo đức Phật giáo như "Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó với đời
sống tinh thần của người Việt Nam".

Nếu như đạo đức Phật giáo được nghiên cứu tương đối nhiều dưới các góc độ
khác nhau thì ngược lại đạo đức của các tôn giáo khác chưa có nhiều công trình nghiên
cứu.
+ Gần đây có các luận án tiến sĩ triết học nghiên cứu về đạo đức của Công giáo
như "Góp phần tìm hiểu tư tưởng đạo đức trong Kinh thánh" của Trương Như Vương,
"Sự thống nhất giữa Kính Chúa " và "yêu nước" trong "lịch sử tư tưởng Việt Nam thời
cận đại"; "Vận dụng quan điểm khoa học về tôn giáo trong công tác đối với Thiên chúa
giáo hiện nay ở Việt Nam" của Nguyễn Văn Long Bên cạnh các luận án tiến sĩ này
cũng phải nói tới các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đạo đức công giáo như: "Khía cạnh nhân văn
của giáo lý Thiên chúa và công tác xây dựng nếp sống mới ở vùng đồng bào Thiên chúa giáo";

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và tư tưởng của Đảng ta về tôn giáo, đạo đức để phân tích những vấn đề đặt ra.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chú ý sử dụng tổng hợp các nguyên tắc phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời chú trọng sử dụng các
phương pháp cụ thể như: Phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích, tổng
hợp và so sánh v.v
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
+ Trên cơ sở phân tích đạo đức của các tôn giáo, bước đầu luận văn nêu lên một
số đặc trưng của đạo đức tôn giáo và góp phần làm rõ một số nét tương đồng và khác
biệt giữa đạo đức tôn giáo và đạo đức mới.

+ Luận văn góp phần làm rõ ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo đức tôn
giáo đối với quá trình xây dựng đạo đức mới ở Việt Nam hiện nay.
+ Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn
chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức tôn giáo trong xây dựng đạo đức mới ở Việt Nam
hiện nay.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
+ Về mặt lý luận:
Luận văn góp phần làm sáng tỏ tinh thần nghị quyết 24 của Bộ Chính trị ban
hành ngày 16.10.1990: "Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây
dựng xã hội mới".
+ Về mặt thực tiễn:
- Luận văn góp phần vào việc tìm ra những biện pháp thực hiện nhiệm vụ của
nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) về
chính sách văn hóa đối với tôn giáo: "Khuyến khích ý tưởng công bằng, bác ái, hướng
thiện trong tôn giáo, đồng thời tuyên truyền, giáo dục khắc phục mê tín dị đoan ".
- Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu cho việc tham khảo, nghiên cứu và học

34
1.3.1. Một số nét tương đồng 34
1.3.2. Một số nét khác biệt 41

Chương 2
ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo
đối với đạo đức mới - Thực trạng và giải pháp
47

2.1. Thực trạng những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của đạo
đức tôn giáo với đạo đức mới
47
2.1.1. ảnh hưởng về nhận thức 47
2.1.2. ảnh hưởng trong hành vi 51
2.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn
chế mặt tiêu cực của đạo đức tôn giáo với xây dựng đạo đức
mới ở Việt Nam hiện nay
57
2.2.1. Các quan điểm chỉ đạo 57
2.2.2. Nhóm giải pháp về nhận thức, cơ chế chính sách 64
2.2.3. Nhóm giải pháp về tổ chức quần chúng hoạt động thực tiễn 68
2.2.4. Nhóm giải pháp về văn hóa tinh thần 72
2.2.5. Nhóm giải pháp về cán bộ làm công tác tôn giáo 74
Kết luận
77
Danh mục tài liệu tham khảo
79 .

nhân dân ta là xây dựng một xã hội, trong đó các quan hệ đạo đức giữa con người phải
trong sáng, tương thân, tương ái, xã hội công bằng và bình yên, mọi người được bình
đẳng ấm no, tự do, hạnh phúc, tiến bộ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải từ trên trời rơi
xuống, và cũng không nảy sinh từ một mảnh đất trống trải, khô cằn. Đạo đức cách mạng
chỉ có thể ra đời trên cơ sở của nền đạo đức truyền thống, là sự nối tiếp và phát huy đạo
đức truyền thống lên một tầm cao mới. Theo tinh thần đó, việc xây dựng nền đạo đức
mới phải đi từ lịch sử tới hiện tại, từ truyền thống tới cách tân. Truyền thống tuy sinh
thành trong lịch sử nhưng lại là một thành phần quan trọng trong tích hợp, trong hạt
nhân văn hóa của xã hội hiện thực. Vì vậy, việc xây dựng đạo đức mới không thể là sự
đoạn tuyệt với lịch sử. Thái độ khoa học là cần kế thừa có phê phán, chắt lọc lấy những
tinh hoa hợp lý trong di sản truyền thống để phục vụ cho cuộc sống hôm nay. Vì vậy
việc xây dựng nền đạo đức mới vừa phải kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc, vừa phải chắt lọc những tinh hoa có thể có ở các dạng đạo đức khác, mà trong
đó có đạo đức tôn giáo.
1.1. Một số nét đặc trưng của đạo đức tôn giáo
1.1.1. Hướng con người tới khát vọng hạnh phúc
Phạm trù "Hạnh phúc" là một trong những phạm trù cơ bản của đạo đức học.
Qua các thời đại lịch sử, con người luôn luôn khát khao, mơ ước tìm kiếm hạnh phúc.
Mọi cố gắng của con người đều đi đến thực hiện lý tưởng tối cao của mình, đó là hạnh
phúc cho cá nhân, cho gia đình, cho dân tộc, cho xã hội. Hạnh phúc có tính lịch sử cụ
thể, vì mỗi thời đại lịch sử, mỗi một con người trong những hoàn cảnh khác nhau, có
quan niệm về hạnh phúc khác nhau. Vì vậy, trong lịch sử loài người đã tồn tại nhiều
quan niệm hạnh phúc khác nhau. Có người cho rằng, hạnh phúc là sự thỏa mãn và đáp
ứng những nhu cầu cụ thể, đó là điều kiện sống, địa vị xã hội, điều kiện tham gia công
tác, học tập của mỗi người. Người lao động quan niệm về hạnh phúc khác với quan
niệm của giai cấp thống trị bóc lột. Người ở các lứa tuổi, các vùng khác nhau, có những
quan niệm hạnh phúc khác nhau.

Đạo đức học Mác - Lênin quan niệm rằng "Hạnh phúc là một phạm trù cơ bản

đức Phật có thuyết pháp cho ông Cấp - Cô - Độc (Anatha pin di ka), một đại thí chủ
quan trọng nhất khi Phật còn tại thế. Trong đó, đức Phật chia ra bốn loại hạnh phúc:
Hạnh phúc có vật sở hữu là hạnh phúc do mình tạo nên vật sở hữu, bằng sự cố gắng nỗ
lực của chính sức mình; hạnh phúc có tài sản là hạnh phúc mà mình đã tạo nên tài sản
bằng sự nỗ lực cố gắng giống như tạo ra vật sở hữu; hạnh phúc không mang nợ là mình
không nợ ai bất cứ món nợ lớn nhỏ nào cả về vật chất và tinh thần; hạnh phúc không bị
khiển trách là nói về vấn đề tự trọng của con người. Trong bốn loại hạnh phúc đó, thì ba
loại đầu thuộc về kinh tế, vật chất, còn loại thứ tư thuộc về hạnh phúc của tâm hồn, phát
sinh từ một đời sống trong sạch và lương thiện. Theo đức Phật, ba loại hạnh phúc đầu
không bằng một phần mười sáu của hạnh phúc thứ tư, vì đây thuộc về giá trị con người.
Như vậy hạnh phúc trước hết là sự an tâm, sự yên tĩnh của tâm hồn là hạnh phúc lớn
hơn tất cả
Trong đạo đức Công giáo, khi bàn về hạnh phúc, các nhà Thần học Công giáo
đã chia mức độ của hạnh phúc thành hai loại: Hạnh phúc tương đối để chỉ các mức độ
của cảm giác con người về sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể trong cuộc sống ở trần gian
và hạnh phúc tuyệt đối là hạnh phúc hoàn hảo, toàn phúc để chỉ mức độ tuyệt đỉnh, hoàn
mỹ của cảm giác con người về sự thỏa mãn mọi nhu cầu của con người trong cuộc sống
ở Thiên đường.
Hạnh phúc tuyệt đối ở nơi Thiên đường, thường được Kinh thánh diễn tả cho dễ
hiểu bằng nhiều hình ảnh cụ thể như: Thái bình, đời sống vĩnh cửu, niềm vui Chúa ban,
thiên triều vinh hiển, thiên quốc, nơi cực thánh Và trong Tân cước, Thiên đường ấy
còn được gọi bằng cái tên "Nước Đức Chúa Trời". Cũng trong Tân ước, sách khải
huyền của Thánh Giắc đã mô tả về cuộc sống của những con người đã được chọn vào
"Nước Đức Chúa Trời ": "Họ sẽ không còn đói khát nữa, cũng chẳng bị mặt trời và hơi
nóng nung đốt nữa. Vì Chiên Con ở giữa ngai sẽ chăn giữ và hướng dẫn họ đến các suốt
nước sự sống. Đức Chúa Trời sẽ lau sạch tất cả các giọt lệ nơi mắt họ" [54, tr. 485 ].
Người trong "Nước Đức Chúa Trời" sẽ là công dân thiên quốc, mặc áo dài tinh bạch,
đầu đội vòng hoa, tay cầm cành lá kè và ngồi với Chúa để xét xử dân các nước. Nói

chung các sách trong Kinh Thánh đều mô tả cuộc sống nơi Thiên đường là yên hàn, vô

thương loài vật, thương tất cả để chấm dứt cái oan nghiệt (tức là chấm dứt sự hận thù,
thù địch nhau mà tranh tranh, đấu đấu không ngừng - Theo Phạm Công Tắc), cứu vớt
quần sinh thoát khỏi vòng địa lạc hoàn toàn. Và đối với đạo Cao Đài thì chính đạo đức
con người là cái thang vô ngần bắc cho con người leo đến phẩm vị tối cao, tối thượng là
ngang bậc "cùng Thầy" hoặc "hơn Thầy" ("Thầy" chỉ Phạm Công Tắc). Vì lẽ đó Cao
Đài khuyên con người nên tu hành, làm đủ phận người, công bằng chính trực để khi hồn
lìa xác thì cứ theo đẳng cấp gần trên mà luân hồi lên mãi. Tuy nhiên, nếu như vậy thì
cũng biết chừng nào mới hiệp hội cùng "Thầy". Vì thế, "Thầy" cho một quyền rộng rãi
hơn cho cả nhân loại càn khôn thế giới biết là: nếu biết ngộ kiếp một đời tu đủ trở về
cùng "Thầy" - giữ trọn con đường tu hành, sẽ sớm trở về "Bạch Ngọc Kinh", nơi mà
đạo Phật gọi là Niết Bàn.
1.1.2. Tính hướng thiện, tránh ác
Tính hướng thiện, tránh ác là một đặc trưng cơ bản của đạo đức các tôn giáo.
Có thể nói, thiện, ác là hai phạm trù có vai trò trọng yếu trong hệ thống đạo đức của mọi
tôn giáo nói chung và đạo đức Phật giáo nói riêng. Trong quan niệm về Thiện, ác, Phật
giáo chú trọng đến phạm trù thiện hơn, bởi với Phật giáo thiện không chỉ là một chuẩn
mực đạo đức, mà còn là một phương tiện thiết thực để giải thoát. Phật giáo quan niệm
thiện là bản chất thường trụ của pháp giới (Phật tính), nên một đồ tể chỉ cần quẳng con
dao, chịu khó tu đạo là có thể đạt thiện tâm, ngược lại là tội ác, phải chịu cảnh trầm
luân, khổ ải. Trong Phật giáo nội dung của thiện, ác được kết tập trong Kinh tạng
nguyên thủy, văn hệ Pa-li, và được duy trì một cách liên tục, nhất quán cho đến nay hầu
như không thay đổi gì mấy, kể cả trong thời kỳ Phật giáo Bộ Phái và Phật giáo Đại
Thừa.
Quan điểm về thiện được trình bày rất rõ ràng, đặc biệt là trong tác phẩm "Kinh
thập thiện". Thiện là "lành, có đạo đức tốt", trái lại là ác, "Kinh thập thiện" có bốn phần
chính:

Phần đầu nói về thế và xuất thế gian. Theo Phật, tất cả sự xấu xa hoặc tốt đẹp ở
cuộc đời và trên bậc Thánh đều là do hành động của thân - miệng - ý tạo nên. Tâm ý tốt,
lời nói và việc làm tốt, giúp ích cho đời ở cả hiện tại và tương lai. Ngược lại tâm ý xấu

Bên cạnh Kinh thập thiện, đạo đức Phật giáo còn định ra "ngũ giới", "bát giới"
để hướng thiện theo những cấp độ khác nhau nhằm giáo dục tín đồ. Trong đó "ngũ giới"
là những giới luật cơ bản nhất. Đó là: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm,
không nói dối, không uống rượu.
Cùng với "Ngũ giới" giáo lý về "tam độc" (tham, sân, si) trong đạo đức Phật
giáo đã phân biệt rành rọt đâu là thiện, đâu là bất thiện mà con người cần theo và cần
tránh, tham là bất thiện, vô tham là thiện, sân là bất thiện, vô sân là thiện. Si là bất thiện,
vô si là thiện. Sát sinh là bất thiện, không sát sinh là thiện. Tà dâm là bất thiện, từ bỏ tà
dâm là thiện. Nói dối, nói ác là bất thiện, từ bỏ nó là thiện, không uống rượu làm tổn hại
sức khỏe dẫn đến mất trí là bất thiện, từ bỏ là thiện
Với đạo cơ đốc, kinh thánh đã xem Thiên Chúa là cái Thiện toàn năng, tức là
xem Thiên Chúa là hình mẫu lý tưởng của cái Thiện mà các tín đồ phải nói theo: "Các
con hãy toàn hảo như Cha các con trên trời là Đấng toàn hảo" [54, tr. 9]. Từ quan niệm
về cái Thiện, Kinh thánh đi đến đề cập về nhân đức, là những hành vi đạo đức tốt ở con
người trong cuộc sống, là biểu hiện cụ thể của cái thiện. Khi con người trở nên bất lực
trong việc chế ngự dục vọng và không làm chủ được mình thì tội lỗi, tật xấu xuất hiện
và nhân đức sẽ lu mờ. Sau khi con người phạm tội (tội tổ tông) - bất tuân luật Chúa thì
cái ác đã xuất hiện và tràn lan trên trái đất. Cái ác còn có nguồn gốc từ quỷ dữ là địch
thủ của cái thiện, là kẻ thù của Thiên Chúa và của mọi tín đồ Công giáo. Nói cách khác,
cái ác xuất hiện ở trần thế là do sự kết hợp giữa quỷ giữ và các tật xấu trong con người.
Hậu quả của cái ác con người phải gánh chịu, đó là sự trừng phạt bằng đau khổ, chết
chóc, bệnh tật thậm chí giới tự nhiên cũng nổi giận, đất sinh ra gai góc để chống lại
con người Kinh thánh cho rằng con người có bảy tật xấu cơ bản (bảy mối tội đầu):
Kiêu ngạo, dâm ô, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, lười biếng. Đây là nguồn gốc phát

sinh ra các tội và các tật xấu khác. Đối với kinh thánh trong hành trình con người đi tìm
Chúa là phải đi theo con đường Chúa đã vạch ra, phải tuân theo những lời Chúa phán
truyền, noi gương Chúa mà trở nên người thiện. Vì vậy sự hướng thiện trong Kinh
thánh là nằm trong hành trình con người đến với hạnh phúc vĩnh cửu nơi Thiên đường.
Nhưng thái độ hướng thiện của Kinh thánh thời Cựu ước còn mang tính tích cực hơn so

luyện, tu tập không mệt mỏi, có niềm tin vững bền vào sự giải thoát:
"Đạo mầu bát chánh ráng ghi
Thứ nhất chánh kiến việc chi xem mình
Luận bàn chân lý cho minh
Chuyện chi xét đoán xảo - tinh mới là
Thứ nhì chánh mạng vậy mà " [51, tr. 73]
Hoặc: "Thứ năm tinh tấn hội đàm
Sạch trong kỹ lưỡng mà làm mới ngoan
Thứ sáu chánh ngữ liêu toan
Nói năng điều chánh thì an lo gì
Thứ bảy chánh niệm vậy thì
Khi cầu, khi niệm chuyện gì thật tâm
Thứ tám chánh định chớ lầm " [51, tr. 73].
1.1.3. Tính nhẫn nhục, cam chịu
Hầu hết giáo lý của các tôn giáo đều có những điều khuyên răn con người,
khuyên răn các tín đồ phải nhẫn nại, cam chịu. Nếu chỉ giới hạn sự nhẫn nại trong
những hoàn cảnh cần thiết thì lại khác, nhưng sự nhẫn nại trong đạo đức các tôn giáo là

sự nhẫn nại trong mọi hoàn cảnh, không có giới hạn, đến mức nó trở thành nhẫn nhục,
cam chịu.
Trong đạo đức Công giáo, sự nhẫn nhục cam chịu đạt đến đỉnh cao. Điều này
được thể hiện trong quan niệm của Kinh thánh thời Tân ước đối với kẻ thù và đối với kẻ
ác. Những trường hợp bị kẻ ác xúc phạm thân thể và xâm phạm của cải, Kinh thánh vẫn
khuyên tín đồ không được mảy may có hành động chống cự: "Đừng chống cự kẻ ác.
Nếu ai vả má bên phải hãy đưa luôn má bên kia cho họ. Nếu ai muốn kiện con để lấy áo
ngắn, hãy để họ lấy luôn áo dài. Nếu ai bắt con đi một dặm, hãy đi với họ hai dặm" [54, tr.
9].
Thậm chí ngay cả khi trong cơn hoạn nạn, bị bức hại, Kinh thánh Tân ước vẫn
khuyên các tín đồ nên vui mừng hy vọng, không chỉ đừng hành động chống cự mà còn
đừng cả nói lời chống cự (nguyền rủa). Vượt lên trên sức chịu đựng ấy, Kinh thánh còn

nhục mạ một cách hoan hỷ, mà còn coi sự nhẫn nhục cam chịu là một thứ vũ khí để đối
phó với những kẻ xâm phạm đến đời sống của mình, như trong Bồ - tát giới mô tả: "Nếu
là phật tử thì không được đem sự giận dữ đáp lại sự giận dữ, cũng không được nuôi hận thù
đối với những kẻ đã tàn sát cha mẹ, anh em, chú bác của mình. Tóm lại, làm tổn thương
sự sống để trả thù sự sống là điều trái ngược với đức hiếu sinh của đạo Bồ tát" [10, tr.
53]. Theo Phật giáo quan niệm, kẻ thù đích thực từng gây đau thương, thống khổ, bất
tận cho nhân loại chính là tam độc tham, sân, si, chứ không phải là những con người
bằng xương, bằng thịt có những hành vi độc ác. Do tham, sân, si thúc đẩy mà có người
đã biến thành kẻ trộm, kẻ cướp, kẻ giết người, gây đau khổ cho bao người. Do tham,
sân, si mà có những tập đoàn người ngông cuồng thực hiện mộng xâm lăng, đi xâm
chiếm đất đai nước khác Vì thế, Phật giáo cho rằng những người mà ta xem là kẻ thù
kia chẳng qua cũng chỉ là nạn nhân của những hoàn cảnh lịch sử, địa lý, chính trị và đặc
biệt là nạn nhân của tham, sân, si, không nên trả thù họ, hãy nhẫn nhục cam chịu. Nhẫn
nhục, cam chịu cũng là cách thể hiện sự mở rộng tấm lòng khoan dung cho họ, để cảm
hóa họ. Bởi nếu không, dùng oán để trả oán thì oán sẽ chất chồng, khó mà dứt được
dòng vay trả, trả vay bất tận:

"Hận thù diệt hận thù,
Đời này không thể có
Từ bi diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu" [10, tr. 53].
- Đối với đạo hòa Hảo, biết nhẫn nhịn trên mọi phương diện tức là đã biết trau
sửa tâm tính để đạt tâm đức của người hiền - Một mẫu hình lý tưởng trong sự tu nhân
của hòa Hảo. Sự nhẫn nhịn ấy được giáo lý chỉ ra thành một loạt thứ nhẫn. Trong đó:
Nhẫn thứ nhất là nhẫn nhịn trong ứng xử cuộc sống:
"Chữ thứ nhất nhẫn năng xử thế
Là người hiền khó kiếm trên đời" [51, tr. 62].
Nhẫn thứ hai là nhẫn giới trì tâm, nghĩa là răn lòng cẩn thận mọi việc muốn
thành công thì trước hết phải biết nhẫn nhục. Thiếu sự nhẫn thì lòng ắt nóng nảy, hời
hợt, vọng động, không thể tu thân được:

[70, tr. 129]. Song, ngoại trừ trường hợp vợ ngoại tình, lúc đó người chồng muốn ly dị
mới được giáo hội cho phép. Cùng với thời gian, phẩm giá người phụ nữ trong quan hệ
hôn nhân đã được nâng lên bình đẳng với nam giới. Điều này được thể hiện trong sách
Tân ước, với việc làm và lời nói của mình, Chúa Giê-su đã khẳng định rằng phụ nữ
cũng được kính trọng như nam giới. Ngài đã đòi hỏi sự chung thủy tuyệt đối cả từ phía
người chồng lẫn người vợ và bác bỏ quyền li dị không phải chỉ đối với người đàn bà mà
cả đối với người đàn ông: "Ta nói cho các ông rõ: Trừ trường hợp vợ tà dâm, nếu ai ly
dị vợ mà cưới người khác, thì phạm tội ngoại tình" [54, tr. 38].

Trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái, đạo đức Công giáo quy định con cái
phải "Thảo kính cha mẹ", đây là điều răn thứ tư, một trong mười điều răn dạy của Thiên
Chúa, đã được khắc vào bia đá, ban cho Mai-sen, tổ phụ của dân Do Thái. Thảo kính
cha mẹ theo Kinh thánh phải thực hiện đủ bốn việc sau: Nể trọng, tôn kính cha mẹ, cho
dù tuổi tác hay kiến thức (kể cả tài năng hay địa vị) của cha mẹ và con cái chênh lệch
nhau đến mức nào; vâng phục cha mẹ; yêu quý và biết ơn cha mẹ; đùm bọc, giúp đỡ cha
mẹ trong cuộc sống. Kinh thánh còn nêu rõ, nếu không thảo kính cha mẹ sẽ phạm tội
nghịch cùng điều răn thứ tư: "Ai cười nhạo cha và không tuân phục mẹ theo bổn phận,
kẻ ấy sẽ bị quạ tới mổ xác bên bờ suối và chim kền kền xẻ thịt" [70, tr. 123]. Mặt khác
khi đã phạm vào điều răn thứ tư, thì cũng có thể mắc luôn các tội nghịch với các điều
răn khác nữa, khi đó tùy biểu hiện mà con cái có thể mắc tội trọng, tội nhẹ hoặc không
có tội
Đạo đức Công giáo cũng xác định rõ nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái. Cha
mẹ phải nuôi dưỡng và giáo dục con cái cho đến khi "luật Chúa được khắc ghi trong
tâm hồn nó" [70, tr. 123] (tức là đến khi con cái trưởng thành). Mọi hành vi ứng xử
trong gia đình và cộng đồng, cha mẹ phải làm gương cho con cái như Chúa đã từng làm
gương cho con người: Đó là việc làm gương, như Đức Giê-su đã làm cho các môn đệ
của mình noi theo [70, tr. 124].
Vai trò của gia đình và giáo dục gia đình trong đạo đức Phật giáo cũng rất được
chú trọng. Điều này dễ thấy, bởi trong hệ thống đạo đức Phật giáo, có cả một phương
thức xây dựng cuộc sống gia đình với hai mối quan hệ cơ bản: quan hệ giữa cha mẹ và


1.1.5. Tình yêu thương con người, vị tha
Thương yêu con người là một nét phổ biến trong đạo đức các tôn giáo.

- Trong đạo đức Công giáo, tình yêu thương được Kinh thánh nói đến trên cả ba
bình diện: Yêu thương mình, yêu thiên nhiên và yêu thương tha nhân (yêu thương người
khác), trong đó yêu thương tha nhân vẫn là trọng tâm của quan niệm đạo đức về tình
yêu. Kinh thánh cho rằng, con người trước hết phải yêu mến Thiên Chúa rồi yêu thương
đến chính bản thân mình. Đó là tiền đề, là cơ sở để yêu tha nhân được chân thực: "Hãy
yêu mến Thiên Chúa trước hết, rồi đến bản thân ngươi, sau đó hãy yêu thương người
gần mình nhất như chính bản thân mình Bởi vì, nếu ngươi không yêu bản thân mình
thì làm sao ngươi có thể yêu thương người gần mình một cách chân thực" [55, tr. 310].
Cũng như con người, thiên nhiên là tạo vật của Thiên chúa. Vì vậy, yêu Thiên
Chúa thì con người phải yêu thiên nhiên. Tình yêu đó phải được quy định thành nghĩa
vụ chăm sóc thiên nhiên của con người, cho dù thiên nhiên ấy là đất đai, cây trồng hay
muông thú. Yêu chính mình và yêu thiên nhiên, theo Kinh thánh đó đều là lẽ tất nhiên
và được lấy làm thước đo để so sánh với tình yêu tha nhân - Cốt lõi của giới răn bác ái
trong đạo đức Công giáo. Trong Tân ước, tác giả Phúc âm Lu-ca đã đưa ra ngoại diên
của "tha nhân" mà con người phải yêu thương không chỉ là đồng bào trong một nước,
hay tín đồ cùng một tôn giáo mà cả người ngoại kiều và ngoại đạo. Như vậy giới răn
yêu thương của Tân ước là không biên giới, không phân biệt chủng tộc, giai cấp, giới
tính, giàu nghèo, có tội hay không có tội, thậm chí cho cả kẻ thù.
Nét nổi bật của lòng bác ái trong Tân ước là động cơ, hành vi phải không vị lợi.
Thương yêu phải chân thành, hết mình và phải được thể hiện bằng hiệu quả thực sự của
hành động. Cho dù vì nghèo túng hay khốn khó, ta không thể làm được nhiều, song trong
khả năng có thể ta vẫn phải hành động vì đức ái: "Nếu gặp anh chị em nào đó thiếu cơm ăn,
áo mặc, mà có người bảo: "Chúc anh chị em bình an! Cứ mặc cho ấm, ăn cho no nhé!"
Nhưng không cung ứng cho họ nhu cầu thể xác, thì có ích lợi gì?" [54, tr. 445]. "Hỡi các
con bé nhỏ, chúng ta đừng thương yêu chỉ bằng lời nói và nơi chót lưỡi, nhưng hãy yêu
thương thành thật và bằng hành động" [54, tr. 468]. Như vậy, tình yêu thương, bác ái của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status