TIỂU LUẬN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ xưa đến nay, con người luôn là vấn đề cốt lõi, vấn đề thiết yếu
của lịch
sử tư tưởng nói chung và của triết học nói riêng. Việc nghiên cứu tư tưởng
về
con người trong lịch sử để tìm ra những hạn chế và giá trị tích cực, từ đó
góp
phần vào việc xây dựng con người hiện tại và tương lai.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta, Đảng ta xác định con người là
một
trong những nhân tố quyết định hàng đầu tới sự phát triển của đất nước.
Con
người mới mà hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta đang quyết tâm xây dựng
là con
người phát triển toàn diện về mọi mặt: thể chất, trí tuệ, đạo đức,…Quán
triệt tư
tưởng trên, Nhà nước và nhân dân ta đã tập trung huy động toàn bộ lực
lượng xã
hội tham gia vào nhiệm vụ xây dựng con người mới, trong đó có việc tiếp
thu
các giá trị truyền thống tốt đẹp và tinh hoa văn hóa nhân loại. Một trong
những
tư tưởng quý báu trong kho tàng nhân loại, thấm đẫm truyền thống
phương
Đông, có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành con người Việt Nam thời
phong kiến chính là tư tưởng giáo dục của Khổng Tử.
Khổng học là một học thuyết chính trị- xã hội luôn lấy đức làm
trọng, là
công cụ quản lý xã hội của giai cấp thống trị Trung Quốc. Với rất nhiều
dục của Khổng Tử với việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay” làm
tiểu luận của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ của tiểu luận
* Mục đích Tiểu luận là làm rõ tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, đồng
thời làm rõ ý nghĩa của nó trong việc xây dựng con người mới ở nước ta.
* Để thực hiện được mục đích trên, Tiểu luận thực hiện một số nhiệm vụ:
Trình bày và phân tích có hệ thống nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục của
Khổng Tử; Nêu ý nghĩa giáo dục tư tưởng của Khổng Tử với việc xây dựng con
người ở nước ta hiện nay.
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Trong Tiểu luận này, tôi chỉ đề cập đến tư tưởng giáo dục của Khổng Tử; vai
trò của những tư tưởng này trong việc xây dựng con người mới ở nước ta.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Tiểu luận thực hiện trên cơ sở các tác phẩm của Khổng Tử; một số tác
phẩm và và công trình nghiên cứu tiêu biểu về Khổng Tử; nhiều công trình nghiên
cứu về xây dựng con người mới ở nước ta. Tuận văn dựa trên quan điểm chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về con người và về chiến lược xây dựng và phát triển con người
- Tiểu luận dựa vào phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời
sử dụng các phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích và tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp thống kê…
6. Đóng góp mới về khoa học của Tiểu luận
- Luận văn trình bày tương đối có hệ thống và đánh giá khách quan những tư
tưởng giáo dục của Khổng Tử, để trên cơ sở đó góp phần làm rõ hơn ý nghĩa của
những tư tưởng này đối với việc xây dựng con người ở nước ta hiện nay.
BÙI HOÀNG THAO
Trang 2
TIỂU LUẬN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA KHỔNG TỬ
hỏi lớn về mặt triết học, chính trị, luân lý đạo đức, pháp luật, quân sự,… đòi hỏi
các nhà tư tưởng phải có những tìm hiểu, nghiên cứu để đưa ra những câu trả
lời, đưa ra những giải pháp giải quyết những vấn đề thực tiễn xã hội lúc bấy giờ.
Thời kỳ này đã xuất hiện hàng loạt các nhà tư tưởng lớn và học thuyết lớn. Nó là
thời kỳ phát triển rực rỡ của triết học Trung Quốc, nhiều nhà nghiên cứu gọi đây
là thời kỳ “bách hoa đề phóng, bách gia tranh minh” (trăm hoa đua nở, trăm nhà
đua tiếng).
BÙI HOÀNG THAO
Trang 3
TIỂU LUẬN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
1.1.2. Quan niệm về bản tính con người của Khổng Tử với việc hình
thành tư tưởng giáo dục của ông.
Cùng với hoàn cảnh Khổng tử- xã hội lúc bấy giờ, một trong những cơ sở
không kém phần quan trọng làm nảy sinh, hình thành và phát triển tư tưởng giáo
dục của Khổng Tử, đó là quan niệm về bản tính con người.
Vấn đề bản tính con người là một vấn đề trung tâm và gây tranh cãi nhiều
nhất trong triết học Trung Quốc cổ đại nói chung cũng như Nho giáo và Khổng
Tử nói riêng. Mạnh Tử cho rằng bản tính con người là thiện. Mạnh Tử viết: “cái
bản tính của người ta vốn thiện, cũng như bản tính của nước là chảy xuống vậy.
Không một người nào sinh ra mà tự nhiên bất thiện; cũng như thế, không một
thứ nước nào mà không chảy xuống thấp”. Ông cho rằng biểu hiện của tính thiện
ở con người trong xã hội là: nhân, lễ, nghĩa, trí.
Ngược lại với Mạnh Tử, Tuân Tử khẳng định bản tính con người là ác.
Theo Tuân Tử, cái tham lam, ích kỷ; cái gian ác, đố kỵ; cái dâm lọan là thuộc về
bản năng vốn có của con người. Ông đề xuất phép trị nước là giáo hóa dân, kết
hợp giữa lễ giáo và hình phạt nhằm khắc chế tính ác, hướng thiện cho con
người.
Đối lập với cả Mạnh Tử và Tuân Tử, Cáo Tử cho rằng: “cái tính tự nhiên
của con người chẳng phải thiện, cũng chẳng phải bất thiện”. Theo ông, tính ban
đầu nguyên thủy của con người là một cái gì đó thuần phác, mộc mạc, không
nghĩa để giữ bản tính thiện của mình, xa rời cái ác, cái bất nhân, hiểu được cái
đạo và trở về với đạo thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn.
1.2. Nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
Khổng Tử rất coi trọng giáo dục. Ông khẳng định, ai cũng cần phải được
giáo dục: Vua cũng cần phải học để làm vua, dân cũng cần phải học để làm dân.
Nếu không được giáo dục thì dù có giỏi đến đâu dần dần cũng sẽ bị ngu muội.
Tuy còn nhiều hạn chế nhưng có thể nói Khổng Tử là người đầu tiên đã
xây dựng được một hệ thống tư tưởng giáo dục khá hoàn chỉnh cả về mục đích,
đối tượng, nội dung và phương pháp. Thể hiện một tầm nhìn chiến lược và sâu
sắc, để lại cho loài người nhiều kinh nghiệm quý báu về giáo dục.
1.2.1. Mục đích và đối tượng giáo dục của Khổng Tử
1.2.1.1. Mục đích giáo dục
Mục đích giáo dục của Khổng Tử là đào tạo cho xã hội đương thời mẫu
người “lý tưởng”. Mục đích giáo dục của Khổng Tử không đơn thuần chỉ là đào
tạo ra những người có tri thức mà cao hơn nữa, ông đào tạo ra người có đủ đức,
đủ tài để tham gia gánh vác công việc quốc gia, bình ổn xã hội.
Đối với bậc dân thường, Khổng Tử dạy cho họ đạo làm người như tam
cương, ngũ thường, nhân, lễ, hiếu, nghĩa,... với mục đích để họ hiểu được đạo lý,
sống đúng với đạo lý, từ đó biết nghe lời, phục tùng mệnh lệnh của nhà cầm
quyền. Còn đối với bậc quân tử, Khổng Tử giáo dục họ để họ biết cách cai trị và
quản lý xã hội. Trong những mục đích cụ thể đó, theo Khổng Tử, mục đích cao
nhất của giáo dục là học để làm chính trị. Do đó, mục đích chính của Khổng Tử
là giáo dục người quân tử.
Tư tưởng học để làm chính sự, làm quan để biến xã hội từ “loạn thành trị”
của Khổng Tử được học trò rất thấm nhuần. Tử Lộ, một học trò của ông cho
rằng: người có học, có tài đức mà không ra làm quan, không hợp đạo nghĩa.
Người quân tử ra làm quan để thi hành cái nghĩa lớn trung quân ái quốc mà thôi,
chứ không phải mưu cầu phú quý. Tử Hạ, một học trò khác của Khổng Tử, cho
rằng: học ra làm quan là một quá trình học đạo và hành đạo bổ sung cho nhau.
Người đã làm quan thì cũng cần phải học thêm, còn người học thì nên làm quan.
Nhân vốn là một phạm trù đạo đức của quý tộc chủ nô thời Ân, Thương,
bao gồm nhiều nội dung như việc tuân theo ông cha, yêu con người, làm lợi cho
đất nước, che chở cho dân,…nhưng những nội dung đó chưa trở thành một hệ
thống chặt chẽ mà là những nội dung riêng rẽ. Khổng Tử đã kế thừa tư tưởng
Nhân của người trước, đồng thời bổ sung cho Nhân những nội dung mới, biến
nó trở thành một hệ thống chặt chẽ, rộng lớn bao trùm tất thảy các phạm trì khác
như Trung thứ, Trí, Dũng, Nghĩa, Hiếu đễ, Khoan thứ,… và chứa đựng toàn bộ
tư tưởng của ông về đạo trị nước an dân, đạo làm người.
Nhân trong tư tưởng Khổng Tử đó là yêu người. Nhân còn có nghĩa là
Trung thứ. Tức là cái gì mà mình muốn làm thì cũng phải giúp người khác được
như vậy. Nhân còn bao gồm Hiếu đễ. Hiếu đễ là tiêu chuẩn trong gia đình. Hiếu
là tiêu chí của con cái đối với cha mẹ. Đễ là tiêu chí của người em đối với anh
chị và người lớn tuổi. Khổng Tử xem Hiếu đễ là cái gốc của nhân. Đức Nhân là
BÙI HOÀNG THAO
Trang 6
TIỂU LUẬN LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
bậc thang giá trị cao nhất trong thang bậc đạo đức của con người. Theo Khổng
Tử, chỉ có người nhân mới có thể có được cuộc sống an vui lâu dài với lòng
nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên ổn, thanh thản.
Đối với lễ tế, Khổng Tử khẳng định lễ tế rất quan trọng đối với người quân tử,
nếu biết lễ tế thì việc cai trị thiên hạ hết sức dễ dàng, giống như bỏ một vật lên
tay mình: “Người nào biết ý nghĩa của cuộc tế lễ thì tri thiên hạ cũng như coi
bàn tay mình” (Bất tri giã tri kỳ thuyết giả chi ư thiên hạ giã, kỳ như thị chư tư
hồ. Chỉ kỳ chưởng). Do vậy, Khổng Tử dạy học trò phải có sự kính cẩn, nghiêm
túc, cẩn thận trong khi hành lễ. Nội dung quan trọng nhất của Lễ mà Khổng Tử
giáo dục học trò là pháp điển của chế độ phong kiến.
Ngay từ đầu, mục đích của Khổng Tử là biến xã hội từ “loạn thành trị”
cho nên việc giảng dạy Lễ của Khổng Tử cũng không nằm ngoài mục đích chính
trị mà ông theo đuổi. Khổng Tử giáo dục học trò cách thức và biện pháp để có
thể khôi phục và củng cố lễ chế nhà Chu. Khổng Tử là người đã đem lễ tiết nhà
Phương pháp kết hợp học với tập: là phương pháp kết hợp học với việc
tập luyện, thực hành những điều đã học và đem tri thức đã học vận dụng vào
cuộc sống. Ông dạy học trò phải luôn luôn luyện tập và không được quên những
điều đã học được.
Phương pháp học kết hợp với hành: Khổng Tử yêu cầu học trò học phải
gắn với hành, tức là phải vận dụng những kiến thức đã học vào trong cuộc sống.
Tri thức lý luận chỉ mới nếu ra những nguyên tắc định hướng còn thức hành mới
giúp cho người học đạt đạo.
Phương pháp nêu gương: Theo Khổng Tử, nhân cách của người thầy có
sức thuyết phục mạnh mẽ đối với người học, người học nhìn vào tấm gương
người thầy mà tin rằng những điều thầy dạy là chân lý, là những điều tốt đẹp.
Cho nên, để trở thành tấm gương cho học trò thì người thầy phải là người phải
đi trước.
2.2. Những giá trị và hạn chế trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử
Mặc dù tư tưởng giáo dục của Khổng Tử có ảnh hưởng lớn đối với sự
phát triển của Trung Quốc và nhiều nước châu Á khác, những ảnh hưởng đó
không đơn thuần mang tính tích cực mà bên cạnh đó có những hạn chế.
Trước hết về mục đích giáo dục: như đã trình bày ở trên, mục đích giáo
dục bao trùm của Khổng Tử là nhằm đào tạo những con người phù hợp với địa
vị xã hội mà mình có, nghĩa là sống đúng với danh của mình. Nếu tầng lớp
thường dân được giáo dục để biết phục tùng người trên, thì người quân tử được
giáo dục để làm người cai trị. Trong đó, Khổng Tử ưu tiên cho mục đích đào tạo
lớp người cai trị.
Về đối tượng giáo dục: với tư tưởng “hữu giáo vô loài”, có thể nói, Khổng
Tử là người đầu tiên chủ trương “bình dân” trong giáo dục. Ông đã vượt qua
đẳng cấp, danh phận trong xã hội góp phần đưa sự nghiệp giáo dục con người
đến với mọi lớp người ở mọi phạm vi và trình độ. Ông đã phá vỡ đặc quyền của
tầng lớp quan lại, quý tộc làm cho giáo dục mang tính chất phổ cập bình dân.
Tuy nhiên, cũng còn nhiều điểm mâu thuẫn và hạn chế là, dù coi giáo dục
là bình đẳng giữa mọi người nhưng trong giáo dục Khổng Tử lại phân biệt từng