LUẬN VĂN: Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử với việc xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay doc - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử với việc xây
dựng con người mới ở nước ta hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, việc tìm hiểu bản chất, vai trò của con người luôn là một vấn đề
trung tâm trong lịch sử tư tưởng nói chung và lịch sử triết học nói riêng, trong đó có triết

con người mới thì giáo dục là phương tiện quan trọng nhất để xây dựng con người mới.
Ở nước ta, Khổng học có lịch sử tồn tại hàng nghìn năm. Là một học thuyết
chính trị - đạo đức, lấy con người làm trung tâm, Khổng học đã đáp ứng được yêu cầu
xây dựng Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền và đã trở thành hệ tư tưởng của
giai cấp phong kiến Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Với vị trí đó, Khổng học đã len lỏi vào
mọi lĩnh vực đời sống xã hội, từ tư tưởng chính trị đến đạo đức, từ kinh tế cho đến văn hoá,
giáo dục biểu hiện tập trung trong nhân cách con người Vì lẽ đó, có thể nói dấu ấn của tư
tưởng Khổng học ở con người Việt Nam là sâu sắc, biểu hiện qua thế giới quan, nhân sinh
quan, phong tục tập quán Ở góc độ nào đó, Khổng học là bộ phận của truyền thống,
thậm chí là một trong những cốt lõi của truyền thống.
Trong những tư tưởng của Khổng học có ảnh hưởng lớn tới con người và xã hội
Việt Nam, thì tư tưởng giáo dục có vị trí rất quan trọng. Giá trị trong tư tưởng giáo dục
của Khổng Tử là ông đã đề cao vai trò của giáo dục và yếu tố đạo đức đối với việc xây
dựng và phát triển con người. Dưới tác động của tư tưởng giáo dục của Khổng học, chế
độ phong kiến ở nước ta đã đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước, góp phần củng cố,
vun trồng đạo lý, gia phong Việt Nam. Mặc dù một số nội dung không còn phù hợp với
điều kiện nước ta hiện nay nhưng tư tưởng giáo dục của Khổng Tử vẫn còn nhiều ý nghĩa
cả về mặt lý luận và thực tiễn đối với việc xây dựng con người mới .
Từ vai trò và thực trạng của con người mới, cũng như những giá trị to lớn trong tư
tưởng giáo dục của Khổng Tử, tôi quyết định chọn đề tài: “Tư tưởng giáo dục của
Khổng Tử với việc xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay” làm luận văn thạc sĩ
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Tư tưởng của Khổng Tử về giáo dục con người, cũng như vấn đề xây dựng con
người mới đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu về tư tưởng giáo dục của Khổng Tử, hiện có một số tác
phẩm như: Khổng học đăng của Sào Nam, Nxb Văn hoá thông tin; Khổng Tử của
Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hoá thông tin; Nhà giáo họ Khổng của Nguyễn Hiến Lê, Nxb
Tp Hồ Chí Minh; hay Khổng Tử của Lý Tường Hải, Nxb Văn Học;… Các công trình này

Sinh đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội, số 1, năm 2003,… Ngoài ra, các công trình nghiên
cứu về xây dựng con người mới có thể kể tới cuốn Về xây dựng con người mới của Nguyễn
Huy Hoan; Về phát triển toàn diện con người trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đạo hoá
của Phạm Minh Hạc;… Tuy nhiên, các công trình trên đây mới chỉ nghiên cứu một cách
khái lược về ý nghĩa của tư tưởng giáo dục của Khổng Tử đối với sự phát triển đất nước nói
chung, hay đi vào từng mảng riêng như văn hoá, giáo dục,… mà chưa đi sâu phân tích ý
nghĩa, giá trị trong tư tưởng giáo dục của Khổng Tử đối với việc xây dựng con người mới ở
nước ta hiện nay.
Như vậy, hiện đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tư tưởng giáo dục của
Khổng Tử, cũng như việc xây dựng con người ở Việt Nam hiện nay. Song, cho đến nay,
còn rất ít những nghiên cứu chuyên sâu, hay trong phạm vi một luận văn thạc sĩ về đề tài
vận dụng tư tưởng giáo dục của Khổng Tử vào việc xây dựng con người, đặc biệt là xây
dựng con người mới ở nước ta hiện nay. Chính vì vậy, đây là nội dung chủ yếu mà tôi tập
trung bàn luận trong luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích của luận văn đi vào làm rõ những nội dung chủ yếu trong tư tưởng giáo
dục của Khổng Tử , từ đó làm rõ ý nghĩa của nó trong việc xây dựng con người mới ở nước
ta hiện nay.
* Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đi vào thực hiện một số nhiệm vụ
sau:
- Trình bày và phân tích có hệ thống những nội dung cơ bản trong tư tưởng giáo
dục của Khổng Tử;

- Làm rõ ý nghĩa của tư tưởng giáo dục của Khổng Tử đối với việc xây dựng con
người mới ở nước ta hiện nay.
4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử và xây dựng con người
mới ở nước ta hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Những nội dung chủ yếu trong nội dung tư tưởng giáo dục
của Khổng Tử và vai trò của nó đối với việc xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay.

sở khách quan quan trọng mà trên đó nó ra đời, tồn tại và phát triển là những điều kiện
kinh tế - xã hội. Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, giữa tư tưởng và
những điều kiện kinh tế - xã hội có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Mỗi học
thuyết luôn nảy sinh trên những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. C.Mác từng viết:
“Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của
dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong
những tư tưởng triết học” [63, tr.156].
Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng giáo dục của Khổng Tử cũng không
phải là một ngoại lệ, nằm ngoài quy luật trên. Do đó, muốn nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng
Khổng Tử chúng ta không thể không đi vào nghiên cứu, tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã
hội, văn hoá, chính trị của thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc - thời đại mà tư tưởng Khổng
Tử nói chung cũng như tư tưởng giáo dục của Khổng Tử nói riêng nảy sinh, hình thành
và phát triển.
Khổng Tử sống trong thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc (770-221T.CN). Đây là thời
kỳ xã hội Trung Quốc đang có những chuyển biến hết sức căn bản và lớn lao. Chế độ
chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông mà đỉnh cao là chế độ “tông pháp” nhà Chu
đang suy tàn, chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành. Trong xã hội Trung Quốc thời kỳ
này diễn ra những biến đổi hết sức sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, tạo
điều kiện cho sự giải phóng tư tưởng của con người thoát khỏi thế giới quan mang tính
chất thần bí, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của tư tưởng triết học.

Thời kỳ Xuân thu được đánh dấu bằng sự kiện Chu Bình Vương dời đô về phía
Đông đến Lạc Ấp (năm 771 T.CN). Về mặt kinh tế, thời kỳ này nền kinh tế Trung Quốc
đang chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt. Sự ra đời của đồ sắt đã tạo ra một
cuộc cách mạng trong công cụ sản xuất. Nó thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc phát triển
nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực. Trong đó nông nghiệp là một ngành kinh tế có truyền
thống lâu đời và giữ vai trò hết sức quan trọng ở Trung Quốc. Với sự xuất hiện của đồ
sắt, đã đem lại cho người Trung Quốc những tiến bộ mới trong cải tiến công cụ sản xuất
và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp.… Chính nhờ vậy, vào thời kỳ này, hệ thống thuỷ lợi đã
trải rộng khắp khu vực Trường Giang; diện tích canh tác được mở rộng; kỹ thuật trồng

Trong sách Chu lễ có viết về sự phát triển của các ngành thủ công nghiệp rằng: “thợ mộc
chiếm bảy phần, thợ kim khí chiếm sáu phần, thợ thuộc da chiếm năm phần, thợ nhuộm
chiếm năm phần, thợ nề chiếm hai phần…”. Về mặt kinh tế, sự phát triển đa dạng của
nhiều ngành nghề thủ công nghiệp đã có ý nghĩa tích cực trong việc giải phóng sức lao
động, góp phần phá vỡ nền kinh tế thuần nông, nâng cao đời sống của nhân dân Trung
Quốc thời cổ đại, nhưng về mặt chính trị, mặc dù số thợ thủ công nghiệp đông nhưng do
trình độ còn thấp nên họ chưa có ảnh hưởng lớn trong xã hội.
Cùng với nông nghiệp và thủ công nghiệp, đồ sắt ra đời và trở nên phổ biến còn
tạo cơ sở cho thương nghiệp phát triển hơn trước, hoạt động giao lưu buôn bán diễn ra sôi
động. Tiền tệ đã xuất hiện. Do nhờ buôn bán mà giàu có, trong xã hội hình thành một lớp
thương nhân ngày càng có thế lực như Huyền Cao nước Trịnh, Tử Cống (vốn là học trò
Khổng Tử)… Tầng lớp này thường kết giao với các bậc chư hầu, công khanh đại phu, tìm
cách leo lên giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ, gây nhiều ảnh hưởng đối với chính
trị đương thời. Tuy nhiên, do tình trạng xã hội rối ren, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn
chư hầu cát cứ, phương tiện giao thông thô sơ, đường sá đi lại khó khăn, do đó việc kinh
doanh không phải ai cũng làm được mà chỉ những người nào có quen biết, kết giao với
quan lại, người có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm thì mới làm được. Hơn nữa, trong
quan niệm của người Trung Quốc luôn xem thường, khinh rẻ nghề buôn bán, coi đó là
nghề rẻ mạt nhất với tư duy “nông bản, thương mạt”, “trọng nông, ức thương”. Chính vì
thế, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời kỳ này chưa thực sự phát triển. Nhưng sự hình

thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp
mới - tiền thân của một bộ phận giai cấp địa chủ sau này.
Về chính trị, những biến đổi về mặt kinh tế tất yếu dẫn đến những biến đổi về mặt
chính trị trong thời Xuân thu. Nếu như trong thời Tây Chu chế độ tông pháp, “phong hầu,
kiến địa” vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị, rằng buộc về
huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được sự hưng thịnh trong một thời
gian dài, thì đến thời Xuân thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu
mối các quan hệ kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử và các nước chư hầu trở nên lỏng
lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được duy trì như trước.

nơi đã nổi lên các cuộc khởi nghĩa nông dân và nô lệ. Đẩy mâu thuẫn xã hội thời Xuân
thu lên đến đỉnh cao, đưa chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc đi nhanh đến suy tàn và
cáo chung.
Thời Chiến quốc, bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, như sự xuất hiện của
nhiều trung tâm luyện sắt lớn ở Hàm Đan nước Triệu, Đường Khê nước Hàn, Lâm Truy
nước Tề… kéo theo sự phát triển của nghề thủ công như nghề làm đồ gốm, nghề trồng
dâu nuôi tằm, dệt lụa, … tiền tệ bằng kim loại ra đời, thương nghiệp cũng vì thế mà hưng
thịnh thì về mặt chính trị, chiến tranh vẫn xảy ra liên miên, với quy mô lớn hơn và tàn
khốc hơn. Mạnh Tử viết: “đánh nhau tranh thành, giết người thây chết đầy thành; đánh
nhau giành đất, giết người thây chết đầy đồng” [70, tr.405-406]. Sự phát triển của kinh tế
hàng hoá và chiến tranh liên miên làm cho chế độ công xã nông thôn nhanh chóng tan rã.
Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất dần dần trở thành quan hệ thống trị. Việc mua
bán ruộng đất được tự do và sự phổ biến của chế độ tư hữu đã mở đường cho sự tập trung
ruộng đất một số ít lãnh chúa, còn đa số nông dân nghèo mất hết ruộng đất phải đi làm tá
điền. Chế độ bóc lột bằng phát canh thu tô xuất hiện. Trong lòng xã hội đã xuất hiện
những yếu tố của quan hệ sản xuất mới đó là chế độ phong kiến quận huyện. Mâu thuẫn
giai cấp đã ngày càng gay gắt hơn, đẩy xã hội tới nguy cơ tan rã nghiêm trọng, đưa chế
độ tông pháp nhà Chu và chế độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc đi nhanh vào hồi kết. Với
việc Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc đã đặt dấu chấm hết cho sự tồn tại của nhà

Chu và chế độ chiếm hữu nô lệ, và mở ra một chế độ mới ở Trung Quốc - chế độ phong
kiến.
Chính trong thời đại lịch sử đầy biến động của thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc đã
đặt ra cho các nhà tư tưởng những dấu hỏi lớn về mặt triết học, chính trị, luân lý đạo đức,
pháp luật, quân sự,… đòi hỏi các nhà tư tưởng phải có những tìm hiểu, nghiên cứu để đưa
ra những câu trả lời, đưa ra những giải pháp giải quyết những vấn đề thực tiễn xã hội lúc
bấy giờ. Vì vậy, trong thời kỳ này đã xuất hiện hàng loạt các nhà tư tưởng lớn và học
thuyết lớn. Có thể nói, đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của triết học Trung Quốc, nhiều
nhà nghiên cứu gọi đây là thời kỳ “bách hoa đề phóng, bách gia tranh minh” (trăm hoa
đua nở, trăm nhà đua tiếng). Giáo sư Nguyễn Tài Thư đã nhận xét: “Có một thời kỳ lịch sử

cũng có tính thiện. Tính thiện là cái vốn có trong tâm con người, là thuộc tính tự nhiên
của con người, cũng như thuộc tính tự nhiên của nước là chảy xuống chỗ trũng. Mạnh Tử
viết:
Cái bản tính của người ta vốn thiện, cũng như bản tính của nước là chảy
xuống vậy. Không một người nào sinh ra mà tự nhiên bất thiện; cũng như thế,
không một thứ nước nào mà không chảy xuống thấp (Nhân tính chi thiện dã,
du thuỷ chi tựu hạ dã. Nhân vô hữu bất thiện, thuỷ vô hữu bất hạ) [71, tr.144-
145].
Ông còn cho rằng, biểu hiện của tính thiện ở con người trong xã hội là bốn đức
tính: nhân, lễ, nghĩa, trí. Chính vì vậy, Mạnh Tử luôn hướng mục tiêu giáo dục cho con
người bốn đức tính thiện đó. Ngược lại với Mạnh Tử, Tuân Tử lại khẳng định, bản tính
con người là ác. Theo Tuân Tử, cái tham lam, ích kỷ; cái gian ác, đố kỵ; cái dâm loạn là
thuộc về bản năng vốn có của con người. Tuân Tử viết:
Tính của người ta vốn ác, nó mà hoá thiện được là do công của người ta.
Tính con người sinh ra vốn hiếu lợi, thuận theo tính đó thì thành ra tranh đoạt
lẫn nhau mà sự từ nhượng không có, sinh ra đố kỵ, thuận theo tính đó thì thành
ra tàn tặc mà lòng trung tín không có, sinh ra là có lòng muốn của tai mắt, có
lòng thích về thanh sắc, thuận theo tính đó thì thành ra dâm loạn mà lễ nghĩa,
văn lý không có. Như thế thì theo cái tính của người ta, thuận cái tính của

người ta, tất sinh ra tranh đoạt, phạm vào cái phận (tức quyền lợi của nhau),
làm loạn cái lý mà mắc cái tội tàn bạo [90, tr.113].
Tính ác có ở tất cả mọi người chứ không của riêng ai, từ người thường dân đến bậc
quân vương như Vua Nghiêu, Vua Thuấn đều có bản tính ác ngay từ khi lọt lòng mẹ. Tuy
nhiên, Tuân Tử vẫn khẳng định tính ác là cái tự nhiên, bẩm sinh ở mọi người nhưng không
phải là cái nhất thành bất biến, mà con người có thể chuyển ác thành thiện nhờ vào hoàn
cảnh và giáo dục. Ông nói: “Tính là cái ta không thể làm ra, nhưng mà có thể cải hoá” [90,
tr.53]. Chính vì vậy, Tuân Tử đã ra sức kêu gọi mọi người nỗ lực học tập nhằm gạt bỏ cái ác,
hướng đến cái thiện. Ông cũng đề xuất phép trị nước là giáo hoá dân, trong đó kết hợp giữa
lễ giáo và hình phạt nhằm khắc chế tính ác, hướng thiện cho con người.

họ cũng đều khẳng định bản tính con người có thể thay đổi được, “cải biến” được và họ
đều chủ trương giáo hoá con người theo nhiều cách khác nhau.
Như vậy, có rất nhiều triết gia quan tâm đến vấn đề bản tính con người, nhưng có
thể nói, Khổng Tử là người đầu tiên đặt ra vấn đề tìm hiểu bản tính con người. Tuy nhiên,
trong hệ thống tư tưởng của mình, ông lại ít khi đề cập đến vấn đề này. Ngay trong cuốn
Luận ngữ, cuốn sách do học trò chép lại các lời dạy của Khổng Tử, có rất nhiều câu, nhiều
dòng viết về con người nhưng lại rất ít những câu, những dòng trực tiếp bàn về tính của con
người. Tử Cống, một học trò tin cẩn của Khổng Tử đã thắc mắc: “Văn chương Thầy ta thì
chúng ta đều được nghe. Còn về bản tính con người cùng Đạo Trời thì chúng ta chẳng được
nghe Thầy ta dạy” (Phu Tử chi văn chương, khả đắc nhi văn giã. Phu Tử chi ngôn tánh dữ
Thiên đạo, bất khả đắc nhi văn giã) [62, tr.70-71].
Về nguồn gốc của Tính, trong cuốn Trung Dung, Khổng Tử đã giải thích: “Cái mà
mệnh trời phú cho gọi là Tính, noi theo tính là Đạo, tu theo Đạo gọi là Giáo” (Thiên
mệnh chi vị tính, suất tính chi vị đạo, tu đạo chi vị giáo) [18, tr.39]. Như vậy, Tính là cái
có nguồn gốc từ trời, là nguyên lý tự nhiên mà trời phú cho con người và con người bẩm
thụ lấy. Tính là cái bẩm sinh ban đầu, là cái nguyên sơ mà con người có được từ trời.
Theo quan điểm của Khổng Tử, bản tính con người là ngay thật. Ông viết: “nhơn chi
sanh dã trực” [62,tr.92-93], có nghĩa là khi sinh ra con người hoàn toàn ngây thơ, trong

trắng, nguyên sơ, tự nhiên, chưa bị tác động của ngoại cảnh, và các yếu tố xã hội. Đây là
bản tính được bẩm thụ từ trời, cho nên bản tính ấy như nhau, giống nhau ở mọi người.
Và, trong cuộc sống những ai mà sống không ngay thật (tà khúc) mà sống được là do may
mắn mà thôi: “Võng chi sinh dã, hạnh nhi miễn” [62, tr.92-93]. Rõ ràng ở đây Khổng Tử
không nói bản tính con người là thiện hay ác. Có ý kiến cho rằng, khi bàn về bản tính con
người, Khổng Tử chưa nói rõ bản tính con người là thiện hay ác, mà muốn khẳng định rằng,
cái bản tính ban đầu của con người có thể bị biến đổi bởi các điều kiện, yếu tố ngoại cảnh,
bởi ở chính sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của con người.
Khổng Tử còn cho rằng: “người ta tất thảy đều giống nhau, vì ai nấy đều có bản tính
ngay thật; nhưng bởi nhiễm thói quen, nên họ thành ra khác nhau” (Tính tương cận dã, tập
tương viễn dã) [62, tr.268-269]. Khi mới sinh ra mọi người đều có bản tính giống nhau,

ông dành huyết tâm huyết của mình cho việc đào tạo người quân tử. Trần Trọng Kim cho
rằng: “Đã nói rằng đạo của Khổng Tử là đạo người quân tử cốt dạy người ta cho thành
người có đức hạnh hoàn toàn và có nhân phẩm tôn quý, cho nên bao nhiêu những sự dạy
dỗ, học tập của Khổng giáo đều chú cả vào sự gây thành người quân tử” [49, tr.99].
Nhằm mục đích trên, Khổng Tử luôn hướng họ vào mục đích làm người cai trị.
Khổng Tử cho rằng: mục đích của học giả đời xưa là học để có tri thức, để sửa mình, còn
mục đích của học giả đời nay là học để có địa vị và danh phận trong xã hội, tức là học để
làm quan, để dẫn dắt xã hội tới thịnh trị: “Người đời xưa vì mình mà học đạo; người đời
nay vì người mà học đạo” (Cổ chi học giả vị kỷ; kim chi học giả vị nhơn) [62, tr.226-
227]. Tư tưởng “Học chí dĩ dụng”, tức là học để ứng dụng có ích cho quốc gia xã hội,
luôn là mục đích cao nhất của người học. Nếu học mà không ứng dụng được, không thể
đưa tài học để giúp nước thì việc học đó há chẳng vô ích. Ông nói:
Như có ai đã học thuộc hết ba trăm thiên trong kinh thi, được bực quốc -
trưởng trao quyền hành chính cho mình, nhưng cai trị chẳng xuôi; được phái đi sứ
đến các nước ở bốn phương, nhưng tự mình chẳng có tài ứng đối; người ấy dẫu học
nhiều, nhưng có biết dùng tài học của mình chăng? (Tụng thi tam bá, thọ chi dĩ
chính, bất đạt; sứ ư tứ phương, bất năng chuyên đối; tuy đa, diệc hề dĩ vi?) [62,
tr.200-201].

Nếu người học chỉ có khư khư ôm lấy cái đạo học ấy mà không đem ra ứng dụng
thực hành thì sao có thể gọi là thực học được. Vì vậy, học đạo để hành đạo là yêu cầu
thiết thân đối với người được giáo dục.
Tư tưởng học để làm chính sự, làm quan để biến xã hội từ “loạn thành trị” của
Khổng Tử được các học trò rất thấm nhuần. Tử Lộ, một học trò của ông cho rằng: người
có học, có tài đức mà không ra làm quan là không hợp đạo nghĩa. Người quân tử ra làm
quan là để thi hành cái nghĩa lớn trung quân ái quốc mà thôi, chứ không phải mưu cầu
phú quý [62, tr.291]. Tử Hạ, một học trò khác của Khổng Tử, cho rằng: học ra làm quan
là một quá trình học đạo và hành đạo bổ sung cho nhau. Người đã làm quan thì cũng cần
phải học thêm, còn người học thì nên làm quan [62, tr.301].
Tuy nhiên, để truyền bá một cách rộng rãi tư tưởng nhân nghĩa của mình, mục

vì vậy, Khổng Tử lấy giáo dục làm phương tiện để làm cho con người trở về bản tính ban
đầu.
Với quan niệm “hữu giáo vô loài”, Khổng Tử đã có đông đảo học trò theo học.
Học trò của ông có đủ các lứa tuổi, tầng lớp, hạng người, bởi ai đến xin học ông đều nhận
dạy. Trong số học trò của ông có không ít người nghèo khó, nhưng ông quan niệm: “Kẻ
nào xin nhập môn, tự mình làm lễ dâng lên một thúc nem; thì chẳng bao giờ ta chê lễ
mọn mà chẳng dạy” (Tự hành thúc tu dĩ thượng, ngô vị thường vô hối yên) [62, tr.100-
101]. Theo Khổng Tử, người ham học hỏi thì dù nghèo khó đến đâu thì ông vẫn tận tình
dạy bảo, tuần tự dẫn dắt từng bước để người học tiến đến chỗ hiểu biết, kể cả những
người kém cỏi, năng lực nhận thức yếu ông vẫn nhận làm học trò và chỉ dạy chu đáo.
Ông nói: “Nếu có kẻ thô bỉ đến hỏi ta, dầu là kẻ tối tăm mờ mịt tới đâu, ta cũng đem hai
bề từ đầu chí đuôi mà dẫn giải cho thật tường tận mới nghe” (Hữu bỉ phu vấn ư ngã,
không không như giã, giã khấu kỳ lưỡng đoan, nhi kiệt yên) [62, tr.134-135].
Thậm chí Khổng Tử còn sẵn sàng dạy cho cả những người ác nghịch, khó dạy.
Chương Thuật nhi - 28 của cuốn Luận ngữ có kể lại câu chuyện: Ở làng Hồ Hương có
anh thanh niên có tiếng ác nghịch, khó có thể giảng dạy điều lành, lẽ phải cho được. Anh

thanh niên ấy đến yết kiến Khổng Tử để xin vào học, các môn đồ của ông có vẻ nghi kỵ
anh ta. Khổng Tử bèn dạy rằng:
Người ta có lòng tinh khiết mà đến với mình, thì mình vì lòng tinh khiết
ấy mà thâu nhận người, chớ mình không bảo lãnh những việc đã qua của
người. Lại nữa, ngày nay người ta đến với mình thì mình thâu nhận, chớ mình
chẳng bảo đảm người khi người thôi ra. Chỉ có thế thôi, cần gì phải nghiêm
khắc thái quá?. - Nhơn khiết kỷ dĩ tấn, dữ kỳ khiết dã, bất bảo kỳ vãng dã; dữ
kỳ tấn dã, bất dữ kỳ thối dã. Dã hà thậm [62, tr.112-113].
Với tư tưởng “hữu giáo vô loài”, Khổng Tử đã thâu nhận một lượng học trò đông
đảo và đa dạng. Trong số các học trò của ông vừa có con em quý tộc như Tử Du, Tử
Tiện, Nam Cung Kinh Thúc,…; lại có cả bình dân gia cảnh bần hàn, xuất thân hèn kém
như Nhan Hồi, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Cầu, Nhiễm Ung,…; vừa có những người buôn
bán như Tử Cống, Tử Trương,…; vừa có con nhà lao động như Tăng Sâm,…; vừa có

làm cho xã hội rối loạn. Để cho xã hội trở lại thanh bình, theo Khổng Tử phải làm cho
con người có “đạo”, hiểu “đạo”, làm theo “đạo”. Đạo mà Khổng Tử nói đến ở đây chính
là Nhân, Lễ và Chính danh định phận.
Nhân vốn là một phạm trù đạo đức của quý tộc chủ nô thời Ân, Thương, bao gồm
nhiều nội dung như việc tuân theo ông cha, yêu con người, làm lợi cho đất nước, che chở
cho dân,… nhưng những nội dung đó chưa trở thành một hệ thống chặt chẽ mà là những
nội dung riêng rẽ. Khổng Tử đã kế thừa tư tưởng Nhân của người trước, đồng thời bổ
sung cho Nhân những nội dung mới, biến nó trở thành một hệ thống chặt chẽ, rộng lớn
bao trùm tất thảy các phạm trù khác như Trung thứ, Trí, Dũng, Nghĩa, Hiếu đễ, Khoan
thứ,… và chứa đựng toàn bộ tư tưởng của ông về đạo trị nước an dân, đạo làm người.
Nhân là phạm trù cốt lõi trong đạo trị nước và đạo làm người của Khổng Tử. Cho
nên, nó được ông đề cập rất nhiều và rất phong phú. Trong cuốn “Luận ngữ” - một tác
phẩm do học trò chép lại những lời dạy của Khổng Tử, có đến 58 chương với 109 lần
Khổng Tử nói đến Nhân nhưng không lần nào giống lần nào. Tuỳ theo từng đối tượng,
từng hoàn cảnh mà Khổng Tử đề cập đến Nhân theo những nghĩa khác nhau. Theo nghĩa

sâu rộng nhất, Nhân là một nguyên tắc đạo đức trong triết học Khổng Tử. Nhân được ông
coi là cái quy định bản tính con người thông qua Lễ, Nghĩa, quy định quan hệ giữa người
và người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội.
Nhân trong tư tưởng Khổng Tử đó là yêu người. Khi Phan Trì hỏi Khổng Tử về
đức nhân, Khổng Tử đáp: Nhân là “yêu người” (Ái nhơn) [62, tr.192-193]. Nếu nhìn toàn
bộ tư tưởng của ông, phải xem nội dung trên là tiêu biểu cho điều Nhân. Nhân là "yêu
người", nhưng người nhân cũng còn phải biết "ghét người". Với Khổng Tử thì chỉ có
người có đức nhân mới biết "yêu người" và "ghét người". Khổng Tử nói: "Duy có bậc
nhân mới thương người và ghét người một cách chính đáng mà thôi” (Duy nhân giả năng
háo nhơn, năng ố nhơn) [62, tr.50-51].
Có người cho rằng, Nhân với nghĩa là “yêu người” là chỉ con người trong giai cấp
thống trị, và yêu người trong tư tưởng Khổng Tử chỉ là yêu người trong giai cấp phong
kiến. Thực ra, khái niệm Nhân mà Khổng Tử dùng ở đây là để đối với "cầm thứ”. Do đó,
đi liền với Nhân là các khái niệm "thiện nhân", "đại nhân", "thành nhân", "nhân nhân",

khiến được người” (Cung tắc bất vũ; khoan tắc đắc chúng; tín tắc nhơn nhậm yên; mẫn
tắc hữu công; huệ tắc túc dĩ sử nhơn) [62, tr.272-273]. Theo Nguyễn Hiến Lê, năm đức
trên nếu xem xét kỹ thì có thể thấy: cung, mẫn, tín là kỷ dục lập, kỷ dục đạt; còn khoan,
tín, mẫn, huệ là lập nhân, đạt nhân. Vậy nhân tuy có nhiều phương diện, phạm vi rộng,
nhưng không ngoài nội dung “kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” [55,
tr.197-198].
Ngoài ra, Nhân còn bao gồm Hiếu đễ. Hiếu đễ là tiêu chuẩn trong gia đình. Hiếu
là tiêu chí của con cái đối với cha mẹ. Đễ là tiêu chí của người em đối với anh chị và
người lớn tuổi. Khổng Tử xem Hiếu đễ là cái gốc của nhân. Ông cho rằng, người mà biết
giữ gìn nết hiếu, nết đễ, tức là biết nắm lấy cái gốc của nhân. Người có nhân là người biết
kính yêu cha mẹ và người lớn trong nhà, có như vậy mới biết yêu thương người ngoài.
Người cầm quyền muốn trị nước an dân thì cần phải có hiếu đễ.
Chính vì vậy, Khổng Tử yêu cầu rất chặt chẽ về Hiếu đễ. Những người biết đem
hết sức mình thờ phụng cha mẹ, liều thân phục vụ vua, chân tình với bằng hữu đó là

những người có học. Đối với cha mẹ, Khổng Tử yêu cầu không chỉ chăm sóc cha mẹ có
hiếu đễ, mà đồng thời phải có lòng thành kính. Trả lời Tử Du về đạo hiếu, Khổng Tử nói:
Đời nay, hễ thấy ai nuôi được cha mẹ thì người ta khen là người có hiếu.
Nhưng những thứ như chó, ngựa thì người ta cũng nuôi được vậy. Cho nên nuôi
cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật đâu) (kim chi hiếu giả, thị
vị năng dưỡng. Chí ư khuyển mã, giai năng hữu dưỡng. Bất kính hà dĩ biệt hồ?)
[62, tr.18-19].
Khổng Tử cũng đã mắng Tể Dư là người bất nhân vì bất hiếu, muốn rút thời gian
để tang cha mẹ từ ba năm xuống còn một năm [62, tr.280-281].
Khổng Tử cũng khuyên mọi người phải thờ phụng cha mẹ một cách sáng suốt, khôn
khéo nhưng phải cung kính. Không phải cha mẹ nói gì cũng nghe dù cha mẹ đúng hay sai.
Người có hiếu phải biết phân biệt những điều đúng của cha mẹ mà tuân theo, những điều
chưa đúng của cha mẹ mà can gián. Ông nói: “làm con thờ cha mẹ, như thấy cha mẹ lỗi lầm
thì nên can gián một cách dịu ngọt. Như thấy ý tứ cha mẹ chẳng thuận theo lời khuyên của
mình, thì mình vẫn một lòng cung kính và chẳng trái nghịch. Như cha mẹ giận mà khiến

quyết chí, chất phác, thật thà, ít ăn ít nói thì gần với nhân” (Cương, nghị, mộc, nột cận
nhân) [62, tr. 212-213].
Theo Khổng Tử, chỉ có người nhân mới có thể có được cuộc sống an vui lâu dài
với lòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên ổn, thanh thản.
Do vậy, theo ông, "bậc quân tử không bao giờ lìa bỏ điều nhân, dẫu chỉ trong một bữa ăn.
Người quân tử không bao giờ ở sai điều nhân, dẫu trong lúc vội vàng, khi ngả nghiêng
cũng vẫn theo điều nhân - Quân tử khử nhân, ố hồ thành danh?” (Quân tử vô chung thực
chi gian vi nhân. Tháo thứ tất ư thị, điên bái tất ư thị) [62, tr.52-53].
Nhân là một phạm trù cốt lõi trong triết học Khổng Tử. Nó có quan hệ chặt chẽ
với các phạm trù đạo đức khác để làm nên một hệ thống triết lý nhất quán, chặt chẽ và do
vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trù đạo đức trong triết học Khổng Tử như
những vòng tròn đồng tâm thì Nhân là tâm điểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong
bản tính con người, còn xung quanh có Trí, Dũng, Lễ…

Trích đoạn SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA VIỆC KẾ THỪA CÁC GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY Tư tưởng giáo dục của Khổng Tử việc giáo dục đạo đức cho con người mớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status