ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
■ ■ ■
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
« ■ ■ •
NGUYỄN QUỐC ĐOÀN
THUYẾT ĐỨC TRỊ CỦA KHổNG TỬ VÀ ẢNH HƯỞNG
CỦA NÓ ĐỐI VỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ XÃ HỘI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SỸ TRIÊT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẨN: TS. Đỗ MINH CƯƠNG
Cơ QUAN CÔNG TÁC: VIỆN KHOA HỌC Tổ €HỨC. BAN-TQ CHỨC ĩítUNG
ĐAI HOC QUỐC GIA HÀ NÔI
UƠNG TRUNG TÁM THÒNG TIN THƯ VIỀN
V- u/ýq
HÀ NỘI - 2006
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài Tr. 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Tr. 1
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Tr.2
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của luận vãn Tr.4
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Tr.5
6. Những đóng góp mới của luận văn Tr.5
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Tr.5
8. Kết cấu của luận văn Tr.5
PHẦN NỘI DUNG Tr.6
CHƯƠNG 1: MỘT s ố NỘI DUNG ĐỨC TRỊ c ơ BẢN CỦA KHổNG TỬ Tr.6
1.1. Hoàn cảnh và điều kiện ra đời của thuyết Đức trị. Tr.6
1.2. Cuộc đời và sự nghiệp của Khổng Tử - tác giả của Thuyết Đức trị. Tr.8
lao của xã hội, Đức trị Nho giáo không còn độc tôn là một công cụ cai trị, quản
lý xã hội, song nó vẫn chứa đựng một số hạt nhân hợp lý và giá trị bền vững cần
được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tế.
Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và năng lực quản lý của Nhà nước
đối với xã hội là một vấn đề quan trọng và cấp bách của nước ta trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã nêu: “Cải cách tổ
chức và hoạt động của Nhà nước gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới
nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Xây dựng bộ máy
nhà nước tinh gọn; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức đáng và đang
viên trong các cơ quan nhà nước”. [14, 132]
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đang rất chú ý tới việc đổi mới phưtmg thức
lãnh đạo, quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này. Quá
trình ấy đòi hỏi cần tiến hành thường xuyên, lâu dài, cần tiếp cận ở nhiều phương
điện khác nhau trong đó một vấn đề rất quan trọng là cần tổng kết thực tiễn quá
trình lãnh đạo, quản lý xã hội ở nước ta trong lịch sử - từ đó tìm ra yếu tố tích
cực để phát huy, khắc phục những hạn chế, rút ra bài học kinh nghiệm cho CÔQ2
tác lãnh đạo, quản lý hiện nay. Lịch sử và văn hoá truyền thống Việt Nam nói
1
ehung, lĩnh vực quản lý xã hội nói riêng, chịu ảnh hưởng rất sâu nặns tư tưởng
của Khổng Tử và Nho học; từ vấn đề quản lý gia đình đến tổ chức đời sống cộng
đồng làng xã, các tổ chức xã hội khác đều mang những dấu ấn, chịu những ảnh
hưởng nhất định của tư tưởng và lý luận Đức Trị, cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực
của nó.
Vì vậy nghiên cứu đề tài “Thuyết Đức trị của Khổng Tử và ảnh hưởng
của nó đối với phương thức quản lý xã hội ở Việt Nam hiện nay” là xuất phát
từ tính cấp bách của lý luận và thực tiễn nước ta. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài
này làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Từ thời kỳ Đổi mới đến nay Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị
đạo đức xã hội. Dưới góc độ chính trị, thuyết Đức trị được coi như một phương
thức cai trị đất nước, một công cụ thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà
nước, nó thường được dùng với nshĩa để phân biệt với mặt đối lập của nó là
thuyết Pháp trị. về những cách tiếp cận này thì đã có rất nhiều côns trình khoa
học dưới dạng các sách chuyên khảo, giáo trình đạo đức học và chính trị học
giảng dạy trong các học viện, các trường đại học hav những bài viết đã được xã
hội hóa. ở đây luận văn không đi vào phân tích, nshiên cứu thuyết Đức trị dưới
những góc độ chuyên biệt trên, mà chỉ tập truns đi vào phân tích, nghiên cứu
thuyết Đức trị từ góc độ Triết học liên quan tới vấn đề quản lý xã hội, khai thác
những tư tưởng, nguyên tắc, phương pháp quản lý xã hội của thuyết Đức trị. Từ
đó khảo sát sự ảnh hưởng của nó ở Việt Nam, phán tích, bình luận những ảnh
hưởng tích cực cũng như tiêu cực để tìm ra lời giải thích về vấn đề này cho công
việc quản lý xã hội ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
Mục đích của Luận văn là làm rõ những nội dung cơ bản của thuyết Đức
trị và ảnh hưởng của nó trong việc quản lý xã hội ở nước ta trong lịch sử và hiện
nay, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy giá trị tích cực, hạn
ọ
J
I
chế tiêu cực của học thuyết này đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý xã hội của
nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Để đạt được mục đích trên Luận văn có các nhiệm vụ chính:
- Tìm hiểu hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của thuyết Đức trị của
Khổng Tử.
- Xem xét ảnh hưởng của thuyết Đức trị đối với việc quản lý xã hội ở nước
ta trong lịch sử và hiện đại, cả mặt tích cực lẫn tiêu cực.
- Đề xuất một số giải pháp chung nhằm phát huy giá trị tích cực của Đức
trị Nho giáo đối với quản lý xã hội ở nước ta hiện nay.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn cũng góp phần làm rõ ảnh hưởng của thuyết Đức trị, cả mặt tích
cực và tiêu cực, đối với phương thức quản lý xã hội ở nước ta hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Những kết quả nghiên cứu của Luận văn đóng góp cho nhận thức sâu hơn,
đầy đủ hơn về ảnh hưởng của Khổng Tử và Nho học đối với xã hội và quản lý xã
hội Việt Nam.
Luận văn có thể sử dụng làm một tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và
giảng dạy các chuyên đề, môn học có liên quan đến tư tưởng của Khổng Tử.
Những đề xuất, giải pháp của luận văn là những kiến giải có cơ sở khoa
học góp phần vào việc quản lý gia đình, quản lý xã hội một cách có hiệu quả
hơn.
8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội
dung của Luận văn được chia thành 2 chương, 5 tiết.
5
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ NỘI DUNG ĐỨC TRỊ c ơ BẢN CỦA KHổNG TỬ
1.1. Hoàn cảnh và điều kiện ra đời của thuyết Đức trị
Trung Quốc là đất nước rộng lớn, có nền văn hoá và lịch sử lâu đời. Trước
đời Hạ, dân tộc Trung Hoa ở vào giai đoạn xã hội cộng sản nguyên thuỷ. Ó đó
mọi người sống không có bóc lột, không có giai cấp, cùng lao động, cùng hưởng
thụ. Họ bầu ra những người tù trưởng để gánh vác công việc chung.
Bước sang thời Hạ (khoảng thế kỷ XXI- XVI TCN), chế độ chiếm hữu nô
lệ (theo kiểu phương Đông) được xây dựng, các tư tưởng quản lý bắt đầu hình
thành từ thời này chỉ bàn tới quyền lực và cách thức cai trị của các hoàng đế,
quân vương đối với thiên hạ và thần dân của họ. Giai cấp chủ nô đã đề ra các
chính sách để phục vụ cho giai cấp của mình, bắt mọi nô lệ phải tuân theo. Thành
hào được xây dựng, hình thành quân đội, đất nước bắt đầu phân chia theo địa
vực, xây dựng cơ cấu nhà nước. Các đời vua thời kỳ này sử dụng mọi hình phạt
tư hữu.
Về mặt chính trị, giai cấp quý tộc nhà Chu bị mất đất, mất dân, địa vị kinh
tế ngày càng sa sút, và đương nhiên địa vị chính trị, ngôi Thiên tử của nhà Chu
chỉ còn là hình thức. Sự phân biệt sang - hèn dựa trên tiêu chuẩn huyết thống của
chế độ thị tộc tỏ ra không còn phù hợp nữa mà đòi hỏi phải dựa trên cơ sở tài sản.
Các nước chư hầu nhà Chu không chịu phục tùng vương mệnh nữa, không chịu
cống nạp, mang quân thôn tính lẫn nhau, tự xưng là Bá; chiến tranh xảy ra liên
miên, từ hàng nghìn nước thời Tày Chu, đến thời Xuân Thu chỉ còn hơn trăm
nước lớn và sang thời Chiến Quốc chỉ còn lại bảy nước lớn là: Sở, Hàn, Nguỵ,
Triệu, Yên, Tề, Tần. Chế độ chính trị mục nát, chiến tranh liên miên, trật tự xã
hội hỗn loạn xô đẩy quần chúng nhân dân vào cảnh đói nghèo, ly tán, áp bức
Hậu quả của những biến động kinh tế đã dẫn đến sự đa dạng trong kết cấu giai
7
tầng của xã hội. Nhiều giai tầng mới xuất hiện; mới cũ đan xen và mâu thuẫn
ngày càng gay gắt [63, 25]. Vì vậy, mọi người luôn khát khao cuộc sống bình
yên, hạnh phúc trong một đất nước hoà bình.
Mặc dù kinh tế, chính trị suy đồi song điểm đặc biệt của văn hoá, xã hội
thời kỳ này là tồn tại một không khí học thuật dân chủ, trí thức và nhân tài được
coi trọng; các vương công, đại thần đều mong thu hút, sử dụng được nhiều “quàn
sư”, những người có tài về văn, võ để giúp mình mở rộng thế lực và lãnh thổ.
Chính trong thời đại lịch sử đặc biệt này, các tư tưởng triết học, chính trị,
đạo đức, mỹ học w đã nảy sinh, phát triển phong phú và vô cùng rực rỡ. Với tư
cách là hình thái ý thức xã hội thì đây chính là tấm gương phản chiếu những biến
động của đời sống xã hội Trung Hoa cổ đại. Lịch sử gọi đây là thời kỳ “Bách gia
chư tử”, “Bách gia tranh minh”. Mục đích cuối cùng của các tư tưởng này là tìm
ra những phương thuốc hữu hiệu nhất để giải quyết nhiệm vụ xã hội - “tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ”; phát triển kinh tế, ổn định chính trị, thiết lập lại trật tự xã
hội, đảm bảo đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc. Một trong những tư tưởng nổi
bật trong số các tư tưởng khi đó, thậm chí ảnh hưởng đến suốt chiều dài lịch sử
Trung Hoa là Thuyết Đức trị của Khổng Tử.
trường dạy học, đi chu du các nơi trong nước để tuyên truyền tư tưởng lý thuyết
của mình nhằm phục vụ mục đích trên.
Năm 19 tuổi, Khổng Tử lấy vợ và sinh con trai tên Lý, tự Bá Ngư. Thời
gian này Khổng Tử đã từng coi gia súc và giữ kho cho họ Quý Thị. Vài ba năm
sau ông bắt đầu dạy học. Năm 34 tuổi, nhờ sự giúp đỡ của Nam Cung Quát - học
trò cũ của Khổng Tử - ông được Lỗ Chiêu Công cho sang Lạc Dương ở Chu đế
khảo lễ nghi, thư tịch, sau đó ông sang Tề học nhạc thiều.
Năm 36 tuổi Khổng Tử về Lỗ tiếp tục dạy học.
Năm 50 tuổi, Khổng Tử giữ chức Đại tư khấu. Trong vòng mấy nãm làm
quan Khổng Tử đã thể hiện tài chính trị nổi trội. Ở tất cả các mặt nội chính,
ngoại giao, giáo hóa lễ nhạc, chế độ hành chính, có thể nói là “nước Lỗ đại trị.
9
chư hầu nể phục”. Đáng tiếc là cơ hội không được kéo dài, chán ngán cuộc sống
vô luân trorig thâm cung mà ông được chứng kiến, Khổng Tử từ quan, bỏ nước
Lỗ sang nước Vệ mong tìm được minh chủ nhưng ý nguyện của ông không
thành, dù đã bôn ba nhiều nước.
Năm 65 tuổi, Khổng Tử trở lại nước Lỗ. Ông san Thi, Thơ; định Lễ, Nhạc;
khảo Dịch; viết Xuân Thu và tiếp tục dạy học. Học trò của ông, theo sử ký Tư Mã
Thiên có tới 3 ngàn người, trong đó có 72 người hiền tài. Có thể nói rằng Khổng
Tử đã làm một công việc vẽ mắt cho con “Thần long” văn hoá Trung Hoa.
[58, 53]
Sau khi Khổng Tử mất, học thuyết của ông được cả xã hội Trung Quốc
công nhận. Bắt đầu từ đời Hán, Khổng học đã trở thành một thứ tôn giáo mới -
Khổng giáo - trở thành một thứ đạo cai trị chính thống của xã hội suốt hơn 2
nghìn năm ở Trung Quốc. Bản thân Khổng Tử không chỉ đã được các vua chúa
Trung Hoa phong thánh mà còn được UNESCO phong tặng là “danh nhân văn
hoá thế giới”.
1.3. Nội dung cơ bản của thuyết Đức trị:
1.3.1. Quan điểm của Khổng Tử về Trời, Người và Đạo cai trị - quản
lý
Các phẩm chất, đức tính của con người lý tưởng - quân tử - bao gồm:
a. Nhân:
Nhân là gì? Khồng Tử định nghĩa: “nhân là yêu người”. Nhân là giúp đỡ
người khác thành công: “Người nhân, mình muốn thành công thì cũng giúp người
khác thành công. Biết từ bụng ta suy ra bụng người, đó là phương pháp thực hành
của người Nhân” [31, VI. 28]
Trong các phạm trù lý luận cơ bản của Khổng Tử như nhân, lễ, trí, dũng
thì nhân là quan trọng nhất. Nguyễn Hiến Lê có một nhận xét như sau: “Nhân
vừa là tu thân, vừa là ái nhân, vừa là xử lý, vừa là tiếp vật”. Nó là trung tâm của
đạo đức theo Khổng Tử, từ đó mà phát ra các đức khác, và các đức khác tụ cả về
nó. Phùng Hữu Lan gọi nó là “toàn đức” [32, 91].
11
Iran irọng Kim thì cho rằng: “Nhân là cái gốc lớn của sự sinh hoá trong
trời đất. Thế gian nhờ đó mà còn lễ nghĩa, nhờ đó mà phát hiện ra. Cho nén
Khổng Tử lấy nhân làm tông chỉ duy nhất trong tông giáo, chính trị và học thuật
của thiên hạ” [27]
Như vậy, Nhân vừa là nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý (trong
quan hệ nhà quản lý và đối tượng bị quản lý), vừa là đạo đức và hành vi của các
chủ thể quản lý.
b.Lễ:
Như trên đã nói, nhân là một phạm trù quan trọng nhất, cho nên ỏ' đây
Nhân và Lễ, thì Nhân có thể đạt được qua Lễ, Lễ là hình thức biểu hiện của
Nhân. - “Khắc kỷ phục Lễ vi nhân”. Thiếu Nhân thì Lễ chỉ là hình thức giả dối:
“Người không có đức Nhân thì Lễ mà làm gì” [31, XII. 1]
c. Trí:
Trí trước hết là “biết người”. Có hiểu biết sáng suốt mới biết cách giúp
người mà không làm hại cho người, cho minh: “Trí giả lợi nhân” [31, VI. 2]
Trí có lợi cho nhân, cho nên khi Khổng Tử nói đến người nhân - quán tử,
bao giờ cũng chú trọng tới khả năng hiểu người, dùng nsười của họ.
Phải sáng suốt mới biết yêu người đána yêu, shét người đáng 2hét.
và nhân dân lao độn2.
Khổng Tử quan niệm về Nsười có nhiều loại, ổn2 coi CO' sỏ' của sự phân
tầng xã hội không phải là quyền lực hay tài sản mà là theo đức hạnh và lài năn"
của họ: quán tử, tiểu nhân, thiện nhân (naười bình thưò'112), và tột cùng là thánh
nhân. Khổng Tử trước tiên muốn lấy tình huốns đức hạnh làm tiêu chuẩn, vạch
một giói tuyến giữa naười có đức và người khỏne có đức. đó là sự khác biệt "ilia
người quân lử và tiểu nhãn. Thực ra, nói là liếu nhãn là người mà khôn” làm điều
nhân; gọi là quán lử là người mà ihiên tính nội lại có sự lự *JÌUC, lập chí làm diều
nhân và có hành động nhân nghĩa.
* Về các hạng người khác nhau trong xã hội - sự phân tâìig xã hội dựa
trên các tiêu chuẩn đạo đức.
13
Khổng Tử không nhìn nhận con người một cách chung chung, giống nhau
mà thấy rõ sự khác nhau giữa họ về địa vị, quyền lực, của cải, học vấn, tư cách
Chính sự khác biệt về các tiêu chí đó đã chia xã hội thành những tầng lớp mà ông
gọi là “loại người” khác nhau. Quản lý xã hội cần nhận thức rõ sự khác nhau về
đổi tượng để có phương pháp phù hợp vẫn trên cơ sở nguyên tắc chung là đức trị.
- Quân tử và tiểu nhân.
Một là, về mục đích sống, động cơ hành động: quân tử vì nghĩa, tiểu nhân
vì lợi. Điều này có nghĩa là: hành vi của quân tử chủ yếu là phải hợp với Nhân
đạo cùng những hành vi đã thành khuôn phép. Tiểu nhân khi thấy lợi thì làm,
mục tiêu cuối cùng của mọi lời nói, việc làm đều là mưu cầu tư lợi cho mình.
Đây có thể coi là sự phân chia ranh giới cơ bản giữa quân tử và tiểu nhân.
Hai là, Quân tử không ngừng học tập, tu dưỡng, phấn đấu, tiểu nhân sống
an phận thủ thường, có sao hay vậy. Người quân tử do có tự giác với nhân tính
nội tại của mình mà ra sức khai thác thế giới nhân cách nội tại của mình, từ trong
cuộc sống thường ngày, qua sự tu dưỡng đạo đức của mình, đạt đến sự quán
thông ta với ngoại vật, mình với người, một khung cảnh hoà đồng trời với người,
từ đó mà thành ra một người có đức tính kiên định. Kẻ tiểu nhân chỉ nghĩ đến lợi
lộc mà không biết phản tỉnh với đức tính của mình, bởi thế khó có được một thế
được, cái mình không muốn làm cho mình thì cũng không muốn làm cho người
khác. Người quân tử luôn vui vẻ giúp đỡ vào việc thành đạt của người khác. Kẻ
tiểu nhân muốn đặt tư lợi của mình lên hàng đầu nên không quan tâm nhiệt tình
giúp đỡ người khác. Trái lại, để giành được tư lợi của mình họ thường là bất kể
thủ đoạn, không chỉ tranh chỗ của người khác mà còn có thể làm điều ác với
người ta nữa.
Nói về tư tưởng của Khổng Tử, ông tuy rất nhấn mạnh rằng người quân tử
trong đối nhân xử thế phải lấy nghĩa lý làm đầu, song trên thực tế ông cũng
không chỉ nói về nghĩa mà không nói đến lợi. Mục tiêu của Khổng Tử là muốn
có được một xã hội lý tưởng thuận hoà, mỗi người lấy nghĩa làm đầu, người ta
15
không mưu tư lợi thái quá mà muốn làm người quân tử giúp ích cho xã hội bằng
việc làm vì nghĩa của mình, đây cũng là cách đế đạt được xã hội lý tưởng. Vì thế
Khổng Tử nhấn mạnh người quân tử không mưu tư lợi mà phải sống vì nghĩa lý,
đấy là nhu cầu đem đến điều tốt đẹp cho quốc kế dân sinh. [59, 49]
Như vậy, chủ thể cai trị, quản lý xã hội phải có đạo đức của người quân tử,
phải đối xử với người khác với tấm lòng một chính nhân quân tử. Một xã hội mà
có nhiều kẻ “tiểu nhân đắc ý” nắm quyền thì nhất định sẽ bị rối loạn, suy thoái.
-K ẻ sĩ:
Có thể nói rằng, người quân tử được Khổng Tử nói đến là cách gọi chung
cho những người làm điều nhân, ở đó còn có thể chia thành tầng thứ cao thấp
nữa. Trên một ý nghĩa nhất định kẻ sĩ mà Khổng Tử nói đến cũng tương tự như
khái niệm quân tử. Sĩ là một tiêu chí về đẳng cấp thân phận; ở thời đại Xuân Thu
của Khổng Tử, đã thấy nói đến Sĩ, Nông, Công, Thương, tức là xem sĩ là đứng
đẩu trong bốn hạng người. Theo Khổng Tử, thân phận của kẻ sĩ ở mức độ nhất
định cũng liên quan tới tu dưỡng đạo đức. Trí của kẻ sĩ là ở đạo, tức là tự giác
làm điểu nhân, là điều kiện cơ bản để một phần tư trí thức được xem là kẻ sĩ. về
điểm này Khổng Tử yêu cầu một sự phân tách với người quân tử. Khổng Tử đề
ra, kẻ sĩ với bạn hữu phải giúp đỡ nhau, với anh em phải hoà làm một Vì thế, kẻ
sĩ có thể được xem là phần tử trí thức có chí lớn hành đạo - là người trí thức quân
diện?. Thấy lợi thì nhớ đến nghĩa lý, thấy hiểm thì không tiếc sinh mệnh, không
quên làm theo điều phải, như vậy thì có thể trở thành con người toàn diện. Ngoài
ra, đối với người toàn diện Khổng Tử có nói đến trí, liêm, dũng và tài nghệ, song
lại không thấy nói đến nhân ái. Qua đó chúng ta có thể thấy rằng con người toàn
diện mà Khổng Tử để cập đích xác chưa có tầm cỡ của thánh nhân.
- Thánh nhân:
Thánh nhân là điển hình của nhân cách lý tưởng, Khổng Tử và Nho gia đã
vì điều này mà nêu lên. Dễ dàng thì thấy rằng thánh nhân là người đã làm trọn
đạo làm người. Cụ thể là thánh nhân có đức hạnh rất cao, cũng có đủ tài cán lớn,
ĐAI HỌC QUỐC GIA HA NỌ.
TRUNG TẨM THÒNG TIN THƯ VIỆN
17
có thể đạt đến mức độ trị quốc bình thiên hạ. Ngưòi ta thường coi Nghiêu, Thuấn,
Vũ Vương, Thang Vương, Văn Vương là thánh nhân.
Mặc dù phân chia con người trong xã hội thành nhiều loại khác nhau, chủ
yếu dựa vào tiêu chuẩn phẩm hạnh - đạo đức, nhưng Khổng Tử luôn nhấn mạnh
về một điểm chung của mọi người là có nhân tính - đức Nhân, nhờ vậy mà họ tự
biết được phải - trái, sống có lương tâm. Thuyết Đức trị của Khổng Tử được xây
dựng trên quan điểm triết học như vậy về con người và xã hội. Nói cách khác,
như chúng ta hiện nay, con người khác con vật là vì có bản chất văn hoá, có bản
tính hướng tới các giá trị chân - thiện - mỹ.
*Bẩn chất của thuyết Đức trị, đạo cai trị của Khổng Tử
Nho gia (Khổng Tử) chủ trương “Nhân trị - Đức trị” - tức là lấy chuẩn
mực đạo đức là khuôn phép để trị nước trị dân, lấy công việc giáo hoá, thu phục
nhân tâm là phương châm hành động cơ bản, lấy tôn ti trật tự, phẩm trật rõ ràng
để bình ổn xã hội. Theo họ, tư cách người cầm quyền quan trọng hơn luật lệ, hễ
có người yêu dân, làm gương cho kẻ dưới thì đất nước sẽ an bình, thịnh trị.
Lão gia (Lão Tử) chủ trương “Vô vi nhi trị”. Nhà cầm quyền không can
thiệp trực tiếp vào việc của dân, quản lý dân chúng sao cho dân chúng không biết
là bị quản lý, để dân sống một đời chất phác, tự nhiên, tự chủ, phát huy tối đa
luân”, thêm hai mối quan hệ xã hội cơ bản nữa là anh - em và bè bạn. Việc giải
quyết các mối quan hệ xã hội theo các chuẩn mực nhất định đáng để chúng ta
xem xét và kế thừa có chọn lọc những hạt nhân hợp lý của nó.
+ Trong mối quan hệ vua - tôi: Khi Tề Cảnh Công hỏi Khổng Tử về chính
sự thì ông trả lời rằng: “quân quân, thần thần ”, về mối quan hệ vua tôi trên
dưới, Khổng Tử nhấn mạnh vua phải ra vua, bề tôi phải xứng đáng là bề tôi. Ông
đặt vua lên hàng đầu, cố nhiên đã biểu hiện sự tôn trọng của mình với ngôi vua
và quân quyền, song cũng có thể thấy rằng Khổng Tử cho rằng muốn làm cho
quan hệ vua tôi phù hợp với Nhân và Lễ, sự cư xử của quân chủ lại càng có vị trí
- 1 9 -
quan trọng. Trong một trường hợp khác, khi Lỗ Định Cõng hỏi Khổng Tử rằng
vua sai khiến bề tôi, bề tôi thờ vua thì phải như thế nào. Khổng Tử đã nêu rõ nội
hàm của quan hệ vua tôi, đấy là: Vua sai bề tôi bằng nghi lễ, bề tôi thờ vua bằng
trung. Khổng Tử rất chú trọng đến vai trò lãnh đạo của người điều hành chính sự.
Ông chỉ ra rằng: người điều hành
chính sự ở ngôi cao trước tiên phải có hành vi
đoan chính, thì người ở dưới hỏi ai còn dám không đoan chính nữa? Khi Lỗ Định
Công hỏi Khổng Tử: một lời phải chăng có thể hưng bang trị quốc được chăng,
Khổng Tử đã nêu rõ tác dụng quan trọng của vua chúa trong việc trị quốc. Ông
chỉ rõ: Nếu như thấy làm vua khó thì chẳng mấy độ mà một lời có thể hưng bang.
Rõ ràng Khổng Tử thấy rằng nếu biết sự gian nan của người làm vua, đồng thời
cũng chăm chỉ mà làm việc, hẳn rằng có thể nói là “một lời có thể hưng bang trị
quốc được vậy”. [50, 91]
Đồng thời ông cũng để xướng người ở ngồi trên cần nhân hậu với người
khác, biết tỏ ra khoan dung, làm việc gì thì trang trọng, khoan hậu thành thực,
cần mẫn, nhân từ, cũng yêu cầu mọi người làm theo bốn đức tốt, bỏ bôn điều
xấu. Đấy là những yêu cầu Khổng Tử đề ra với người ở ngôi trên.
+ Trong mối quan hệ cha - con: Khổng Tử đòi hỏi người làm cha phải có
đức tính nhân từ, người làm con phải có đức hiếu thảo. Nguyên tắc cơ bản xử lý
mối quan hệ với họ là làm cha mẹ phải có đủ sự thương yêu với con cái, làm con
Bốn là, Hiếu đễ là gốc của nhân ái: Nhân ái theo quan niệm của Nho gia là
được xây dựng trên quan hệ thân tình huyết thống. Bởi thế hiếu với cha mẹ, hoà
thuận với anh trên là khởi điểm logic trong dây chuyền quan hệ nhân ái. Luận
ngữ từng chỉ ra rằng: làm người hiếu đễ mà lại phạm thượng là điều chưa tháy
vậy. Người quân tử coi trọng gốc gác, gốc vững thì Đạo nẩy sinh, hiếu đễ là gốc
gác của nhân ái vậy.
Ngoài nghĩa vụ mà người con phải làm đối với cha mẹ, thì cha mẹ cũng
phải có nghĩa vụ với con cái. Là người sinh thành ra con cái, không bậc cha mẹ
nào lại không thương yêu con cái mình. Song thương yêu con cái đòi hỏi cha mẹ:
Có nghĩa vụ dạy dỗ con cái mình nên người. Khi con cái còn nhỏ, phải lo lắng.
21
chãm sóc cho con khôn lớn; khi con cái trưởng thành, phải dạy dỗ, uốn nắn và
làm gương cho con cái để con cái biết đạo ứng xử làm người trong xã hội: biết
trung với vua, biết hiếu với cha mẹ, biết kính với người trên, biết đễ với anh em,
biết tín với bạn bè, biết thấy việc nghĩa thì phải làm và Phải biết che chở, bảo
vệ con cái.
+ Trong mối quan hệ vợ - chồng: Trong một gia đình thì người chồng phải
biết thương yêu vợ con, chăm lo con cái và là chỗ dựa của vợ con. Ngược lại
người vợ phải biết chăm lo, vun vén cho gia đình mình và gia đình nhà chồng,
phải biết nghe theo chồng một cách vô điều kiện. Khổng Tử cho rằng, một
nguyên tắc cơ bản ở đây là chú trọng phẩm hạnh mà không chú trọng dung mạo
của người vợ. Trên cơ sở ấy, ông nhấn mạnh vợ chồng phải kính yêu lẫn nhau,
không chỉ người vợ phải kính yêu người vợ phải kính trọng thuận tòng theo
chồng mà người chồng cũng phải tôn trọng người vợ. Vợ chồng cần phải giống
nhau như một bài ca trong Kinh thi đã nói: Vợ chồng hoà hợp như trống với đàn.
Khổng Tử xem sự hoà hợp vợ chồng là một điều kiện để gia đình phát triển. Tuy
nhiên, trong tư tưởng của Khổng Tử cũng có lúc xem thường nữ giới, ví như ông
cho rằng: chỉ có đàn bà và tiểu nhân là khó dưỡng dục, gần gũi thì không theo
phép mà xa cách thì oán thán.
+ Trong mối quan hệ anh - em: Khổng Tử thường hay nhắc đến hiếu đễ,
I.3.2.2. Các phương thức quản lý xã hội cơ bản của thuyết Đức trị
- Một là, mọi người trong xã hội đều coi trọng việc tu thân:
Bởi “trị quốc, bình thiên hạ”, cải tạo xã hội là nội dung trọng yếu của tư
tưởng triết học nhân sinh của Khổng Tử, ở đấy Khổng Tử đã phát triển một
khuôn mẫu lý luận khá đặc sắc về an bang trị quốc, có thể nói đây là thuyết Đức
trị. Bởi nó chủ trương lấy đức để cai trị thiên hạ, cũng bởi thế mà trong tư tưởng
Khổng Tử luân lý và chính trị có sự liên quan mật thiết. Khổng Tử thấy rằng cá
nhân chú trọng tu dưỡng đạo đức luân lý, cũng do đó mà ảnh hưởng đến người
khác và xã hội, ở một mức độ nào đó có thể xem là việc chính sự. Có người hỏi
Khổng Tử: Ông vì sao không tiếp tục tham dự chính sự? Ông trả lời rằng: Kinh
- 2 3 -