Lời nói đầu:
gày nay, xu thế quốc tế hoá nền kinh tế thế giới đang diễn ra với một c-
ờng độ rất cao. Hầu nh tất cả các nớc đều mở cửa để hội nhập với bên
ngoài, tận dụng lợi thế của mình để phát triền và thúc đầy tăng trởng
kinh tế. Quan hệ thơng mại quốc tế, ngoại thơng với các hình thức xuất nhập khẩu
hàng hoá ngày càng chiếm tỷ trọng lớn và vô cùng đa dạng. Điều này dẫn đến việc
tăng lên nhanh chóng các loại ngoại tệ đợc trao đổi hàng ngày về cả doanh số lẫn
tính phức tạp của nó. Hoạt động ngoại thơng phát triển đòi hỏi các quốc gia, các
Ngân hàng thơng mại phải tập trung nghiên cứu về lĩnh vực hết sức quan trọng này.
N
Hiện nay, chúng ta đang thực hiện công cuộc CNH - HĐH đất nớc. Song để thực
hiện thành công công cuộc này thì cần phải có sự phát triển đồng bộ trong tất cả
các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực Ngân hàng. Công cuộc đổi mới nền kinh tế do
Đảng ta khởi xớng hơn 10 năm đã ghi nhận những thay đổi căn bản trong lĩnh vực
kinh tế đối ngoại, các cải cách trong hệ thống Ngân hàng cũng nh những chuyển
biến tích cực trong lĩnh vực quản lý ngoại hối và kinh doanh ngoại tệ.
Trên cơ sở lý luận đã đợc học tại trờng và quá trình tiếp thu những vấn đề thực
tiễn về ngoại hối , em đã quyết định chọn đề tài :Ngoại hối và đổi mới chính
sách quản lý ngoại hối ở Việt Nam hiện nay
1
Ch ơng I
Lý luận chung về thị trờng ngoại hối
I/ Tổng quan về thị trờng hối đoái:
1. Khái niệm về thị tr ờng hối đoái:
Thị trờng hối đoái là nơi thực hiện việc trao đổi mua bán các ngoại tệ và phơng
tiện chi trả có giá trị nh ngoại tệ, mà qua đó hình thành nên tỷ giá hối đoái. Hoặc
có thể nói thị trờng hối đoái là nơi chuyên môn hoá về trao đổi mua bán ngoại tệ,
thông qua mối quan hệ giữa cung và cầu về ngoại tệ để thoả mãn nhu cầu của các
chủ thể kinh tế.
Các cá nhân, doanh nghiệp, ngân hàng và các Chính phủ đều cần đến thị trờng
thoại, telex, telexfax, mạng thông tin quốc tế SWIFT ) từ đó tạo điều kiện phá vỡ
khoảng cách giữa các thị trờng hối đoái trên thế giới. Một lời chào giá trên thị tr-
ờng nào đó không chỉ phải đơng đầu với các thành phần tham gia cạnh tranh trên
thị trờng đó mà còn đơng đầu với các thành phần khác ở các thị trờng khác trên thế
giới. Bên cạnh đó, bất cứ một sự kiện, biến động nào về chính trị, kinh tế, quân
sự trên thế giới đều có ảnh hởng tới các thị trờng hối đoái quốc tế. Chính sự quốc
tế hoá này và việc quản lí ngoại hối ngày càng giảm bớt cũng nh các thị trờng tài
chính đóng mở cửa đều có sự liên lạc tức thì với nhau nên giá yết đối với tất cả các
đồng tiền lớn nh USD, JPY, DEM, GBP, FRF, CHF đều gần nh giống nhau ở mọi
thị trờng. Điều này cũng giải thích vì sao tỉ giá đóng cửa ngày hôm trớc không
khác nhiều so với tỉ giá mở cả ngày hôm sau.
*2 Những đồng tiền mạnh nh USD, JPY, EURO giữ một vị trí quan trọng
trên thị trờng, đặc biệt là đồng dollar Mỹ ( USD ) Các thị trờng hối đoái quốc tế
thờng giao dịch chủ yếu là USD và dùng USD làm dự trữ quốc tế.
Tuy nhiên, với sự ra đời của đồng tiền chung của 11 nớc Châu Âu đồng EURO
vào ngày1 tháng1 năm1999 thì thời thế đang dần thay đổi. Theo các nhà phân tích,
trong thời gian tới đồng EURO sẽ chiếm một tỷ trong đáng kể trong các giao dịch
của thị trờng hối đoái và cũng đã có rất nhiều Ngân hàng Trung Ương các nớc
đang có ý định chuyển một phần dự trữ ngoại hối của mình sang đồng EURO.
Cũng không thể xem nhẹ tầm quan trọng của đồng dollar Mỹ bởi hiện nay nó
vẫn tham gia vào hơn 80% các giao dịch ngoại thơng trên thế giới và đa số các thị
trờng hối đoái các nớc vẫn quan tâm đến tỷ giá USD/Bản tệ.
Thị trờng hối đoái là thị trờng vô hình nhng hoạt động rất sôi động.
Các đồng tiền không phải đợc mua bán tại các sàn giao dịch mà thị trờng hối
đoái đợc tổ chức thành một thị trờng qua tay, tại đó hằng trăm nhà kinh doanh hối
3
đoái (đa số là các ngân hàng) sẵn sàng mua và bán các khoản tiền gửi ghi bằng
ngoại tệ. Thị trờng hối đoái mang tính cạnh tranh cao và việc mua bán ngoại tệ
giữa các Công ti, ngân hàng thơng mại, chính phủ diễn ra hết sức thờng xuyên.
3. H ng hoá của thị tr ờng hối đoái:
khác đều trở thành ngời tham gia vào thị trờng hối đoái. Đối tợng tham gia thị tr-
ờng hối đoái đợc quy định chặt chẽ bởi luật lệ của từng quốc gia. Đối tợng tham
gia vào thị trờng hối đoái có thể là ngân hàng thơng mại, ngân hàng TW, các nhà
môi giới và các công ty.
4.1 Ngân hàng th ơng mại:
Các ngân hàng thơng mại tham gia trên thị trờng hối đoái thờng là các ngân
hàng lớn có nhiều khách hàng tham gia vào hoạt động kinh doanh ngoại thơng cần
thanh toán bằng ngoại tệ, hoặc là các ngân hàng tài trợ cho hoạt động xuất nhập
khẩu.
Các ngân hàng thơng mại giữ vị trí trung tâm trong các hoạt động kinh doanh
ngoại tệ trên thị trờng hối đoái, với hai hình thức hoạt động chính : hoạt động trên
cơ sở nghiệp vụ khách hàng ( trung gian thanh toán ) và hoạt động ngoại hối liên
ngân hàng. Ngày nay, thị phần hoạt động ngoại hối liên ngân hàng lớn hơn rất
nhiều so với các hoạt động trên cơ sở nghiệp vụ khách hàng. Theo thống kê, hoạt
động ngoại hối liên ngân hàng chiếm từ 70 - 90% tổng doanh số hoạt động kinh
doanh ngoại hối.
Hoạt động trung gian thanh toán
Các ngân hàng thơng mại đảm nhiệm hầu hết các hoạt động chuyển hoá trên thị tr-
ờng ngoại hối và tối thiểu, với t cách là ngời bán hoặc ngời mua. Những ngân
hàng thơng mại lớn có nhiều khách hàng tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu,
có nhu cầu về ngoại tệ để thanh toán tiền hàng hoặc có nguồn thu ngoại tệ muốn
đổi lấy nội tệ và các ngân hàng chuyên tài trợ cho hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu sẽ tham gia vào thị trờng hối đoái với t cách làm trung gian thay mặt cho
khách hàng của mình ( thờng là các Công ti xuất nhập khẩu ). Vai trò này xuất
phát từ vị trí trung tâm của các ngân hàng thơng mại trong việc thực hiện các hoạt
động thanh toán quốc tế. Khi cần thực hiện các hợp đồng thanh toán bằng ngoại tệ,
trớc sau ngân hàng cũng phải thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ. Qua đó,
ngân hàng là nguời cuối cùng hình thành nền tảng doanh thu của thị trờng hối
đoái.
Ngày nay, các ngân hàng thơng mại đảm nhận vai trò trung gian thanh toán quốc tế
muốn.
Các ngân hàng thờng muốn duy trì một trạng thái có sẵn ngoại tệ nhất định của
từng đồng tiền để phục vụ khách hàng khi họ yêu cầu mua hoặc bán. Tuy nhiên,
khi mỗi một thơng vụ giao dịch hối đoái với khách hàng kết thúc thì trạng thái có
sẵn của các đồng tiền đã đợc mua và bán bị tác động tăng hoặc giảm, nói cách
khác, quá trình làm trung gian thanh toán của ngân hàng làm xuất hiện trạng thái
hối đoái thực ( net exchange position) đối với các đồng tiền giao dịch. Chúng ta sẽ
xem xét hai ví dụ dới đây, mô tả sự thay đổi trạng thái hối đoái của các đồng tiền
giao dịch tại một ngân hàng thơng mại sau khi tiến hành các giao dịch ngoại hối
với khách hàng và với ngân hàng thơng mại khác.
Ví dụ 1:
Khi một khách hàng muốn mua USD 1,000,000 bằng DEM, tỉ giá USD / DEM =
1.7. Khi đó trạng thái hối đoái thực của USD và DEM của ngân hàng đó là :
USD _ 1,000,000 vì bán đồng đôla
DEM + 1,700,000 vì mua đồng Mac
6
( kí hiệu dòng tiền vào in flow là dấu cộng + , dòng tiền ra out flow là dấu trừ
_ )
Nếu trạng thái hối đoái mới đợc tạo ra là bất lợi thì ngân hàng sẽ phải thực hiện
giao dịch theo hình thức liên ngân hàng để cân bằng trạng thái đó.
Ví dụ 2:
Khách hàng của ngân hàng gồm các nhà nhập khẩu và xuất khẩu. Các nhà nhập
khẩu kí với ngân hàng một hợp đồng kì hạn mua DEM 2,000,000 để thanh toán tiền
hàng sau 60 ngày nữa - tức là ngân hàng sẽ bán DEM 2,000,000 cho nhà nhập khẩu
sau 60 ngày nữa. Cùng thời gian này, một sô nhà xuất khẩu cũng kí với ngân hàng
một hợp đồng bán kì hạn DEM 1,000,000 trong thời gian 60 ngày nữa khi họ đợc
thanh toán tiền hàng - tức là ngân hàng sẽ mua DEM 1,000,000 của nhà xuất khẩu
sau 60 ngày nữa. Giả thiết hiện tại, trạng thái hối đoái DEM của ngân hàng = 0
( tổng tài sản có DEM = tổng tài sản nợ DEM ). Tới ngày đáo hạn hai hợp đồng
nói trên, giả thiết ngân hàng không có những hoạt động giao dịch ngoại hối khác
các ngân hàng và t nhân. Song điều khác của NHTW với các ngân hàng thơng mại
là NHTW về nguyên tắc không tham gia vào hoạt động kinh doanh ngoại tệ. Vai
trò lớn hơn so với hoạt động thơng mại là hoạt động can thiệp của NHTW vào thị
trờng hối đoái. Phạm vi và phơng pháp thực hiện phụ thuộc trớc hết vào cơ chế
quản lý tỷ giá hối đoái mỗi nớc. Điều đó có nghĩa về cơ bản, tuỳ thuộc vào NHTW
thả nổi tỷ giá cho thị trờng tự do hay tác động vào tỷ giá thông qua các hoạt động
can thiệp vào thị trờng. Cả hai hệ thống đều tồn tại song song và trong một số trờng
hợp đan chéo lẫn nhau.
Trong hệ thống tỷ giá cố định, NHTW phải giữ tỷ giá của đồng bản tệ giao động
trong biên độ cho phép, do đó nếu giá trị của đồng bản tệ giảm xuống dới mức đợc
phép thì NHTW buộc phải can thiệp để chống lại xu hớng trên thị trờng. Vai trò
này đợc NHTW thực hiện thông qua việc can thiệp vào cung hoặc cầu. ở hệ thống
này, bất kỳ lúc nào có sự mất cân bằng về cung cầu ngoại tệ làm thay đổi tỷ giá vợt
mức giới hạn thì NHTW phải can thiệp thông qua dự trữ ngoại tệ.
Khi thị trờng có nhu cầu quá lớn về đồng bản tệ, để giảm thiếu hụt, NHTW phải
mua ngoại tệ và bán đồng bản tệ. Điểu này tạo ra một nguồn thu bằng ngoại tệ, làm
tăng dự trữ ngoại tệ và gây nên áp lực tăng giá động nội tệ.Việc bán đồng nội tệ sẽ
làm tăng lợng cung ứng tiền tệ, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển và có xu hớng
làm tăng lạm phát.
Khi trên thị trờng mức cung về đồng bản tệ quá lớn, để giảm thiếu hụt, NHTW
phải mua vào lợng bản tệ d thừa bằng cách bán dự trữ ngoại tệ của mình, quá trình
này tạo nên nguồn cung về ngoại tệ, làm giảm dự trữ ngoại tệ gây áp lực giảm giá
đồng nội tệ và giảm phát đối với nền kinh tế.
4.3 Các nhà môi giới hối đoái:
Các nhà môi giới là những ngời trung gian trong các giao dịch mua bán ngoại tệ
đợc luật pháp qui định và kinh doanh hợp pháp. Vai trò của các nhà môi giới là
trung gian giữa các ngân hàng, giữa ngân hàng với doanh nghiệp hoặc giữa các
doanh nghiệp với nhau để tạo điều kiện cho cung và cầu ngoại tệ tiếp xúc nhau.
Cơ sở hoạt động của các nhà môi giới là việc tổ chức các quan hệ bằng điện
thoại và mạng vi tính với các ngân hàng trong và ngoài nớc. Nhiệm vụ của ngời
Các giao dịch mua bán ngoại tệ giữa các Công ti và các ngân hàng chỉ chiếm
một tỉ lệ rất nhỏ trong các giao dịch trên thị trờng hối đoái. Tuy nhiên, hiện nay vai
trò của các Công ti lớn, đặc biệt là Công ti đa quốc gia ngày càng tăng trên thị tr-
ờng hối đoái. Nguyên nhân là do các công ti xuyên quốc gia thi hành chính sách
mở rộng các nguồn dự trữ ngoại tệ, giảm bớt nguy cơ thiệt hại do sự mất giá của
các nguồn vốn tính bằng các đồng tiền không ổn định, đồng thời tích cực chạy đua
vì lợi nhuân trên cơ sở thu chênh lêch tỉ giá. Nếu nh tỉ giá của một đồng tiền nào
đó có xu hớng giảm xuống thì các Công ti xuyên quốc gia sẽ chuyển nguồn vốn
của mình sang đồng tiền khác ổn định hơn. Hiện nay, một số Công ti thậm chí đã
có phòng giao dịch hối đoái giống nh phòng giao dịch hối đoái của các ngân hàng
9
thơng mại, các chi nhánh ngoại hối của nhiều Công ti xuyên quốc gia có qui mô
còn lớn hơn cả một vài ngân hàng cỡ trung bình.
Tuy nhiên, hầu hết các Công ti có nhu cầu về ngoại tệ đều tiến hành giao dịch với
các ngân hàng. Khi lựa chọn ngân hàng để tiến hành giao dịch, các Công ti không
chỉ căn cứ vào giá mua bán ngoại tệ do ngân hàng chào mà còn dựa vào nhiều nhân
tố khác nh : mối quan hệ với ngân hàng, tốc độ giao dịch của ngân hàng, khả năng
cung cấp, đánh giá các thông tin về kinh tế ở các nớc mà Công ti đang hoạt động,
khả năng đa ra dự đoán về biến động tỉ giá trong tơng lai
mô hình thị trờng hối đoái
II. Hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân
hàng thơng mại trên thị trờng hối đoái:
1. Kinh doanh ngoại hối:
1.1 Khái niệm:
Kinh doanh ngoại hối theo nghĩa rộng bao gồm việc mua bán ngoại hối, đảm
bảo ổn định số d tài khoản kinh doanh ngoại hối tại nớc ngoài và tìm cách thu lời
thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau.
Theo nghĩa hẹp, ngời ta hiểu khái niệm kinh doanh ngoại hối chỉ đơn thuần là
tại Béc lin có quan hệ tài khoản với ngân hàng mình. Khi đó sẽ phát sinh vấn đề
đối với VIETCOMBANK: ngân hàng phải có đủ trên tài khoản đồng DM để có thể
thực hiện việc ghi nợ tài khoản và đối với khách hàng, ngân hàng phải chuyển đổi
giá trị đồng DM sang VND để ghi nợ cho khách hàng.
Nhìn chung, với sự hỗ trợ rất lớn của các trang thiết bị kỹ thuật nh: điện thoại,
telex, máy vi tính, mạng Internet và các phơng tiện truyền tin điện tử khác, công
việc thanh toán quốc tế với vai trò trung gian của các ngân hàng đợc tiến hành vô
cùng nhanh chóng và với hiệu quả cao.
Hơn nữa, tất cả các chủ thể kinh tế trong hoạt động ngoại thơng để đảm bảo
công việc thanh toán thì đều phải có tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng. Ngân hàng
có thể tập trung thu gom các nguồn ngoại tệ từ việc xuất khẩu hàng hoá-dịch vụ
của các chủ thể kinh tế và sẵn sàng đáp ứng đợc nhu cầu của ngời nhập khẩu muốn
có ngoại tệ bằng việc tận dụng lợi thế của mình mua ngoại tệ của ngời cha có nhu
cầu sử dụng và bán cho ngời có nhu cầu sử dụng.
Trong hoạt động thanh toán quốc tế, cho dù hoạt động thanh toán đợc thực hiện
theo một loại ngoại tệ nào thì vẫn luôn phát sinh hoặc là sự thiếu hụt hoặc là d thừa
ngoại tệ của một trong các các ngân hàng tham gia. Nhiệm vụ của thị trờng hối
đoái phải cân bằng các d thừa hoặc thiếu hụt về ngoại tệ này. Và ngân hàng với các
thế mạnh của mình và đồng thời với chức năng trung gian thanh toán đã tham gia
tích cực vào hoạt động kinh doanh ngoại tệ.
1.3 Các yếu tố ảnh h ởng đến hoạt động kinh doanh ngoại hối:
11
Hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng thơng mại phức tạp và " nhạy
cảm ", gắn kết chặt chẽ với nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, vì
thế mà chịu tác động của nhiều yếu tố. Một số nhân tố căn bản ảnh hởng trực tiếp
đến hoạt động này là :
Sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của nền kinh tế đối ngoại nói riêng.
Chính sách quản lí ngoại hối quốc gia.
Sự biến động của tỉ giá hối đoái.
quan hệ thanh toán, tín dụng với nớc ngoài.
Nội dung của chính sách quản lí ngoại hối là quản lí và kiểm soát các luồng vận
động của ngoại hối từ nớc ngoài vào và từ trong nớc ra, có liên quan tới quan hệ
ngoại thơng cũng nh các quan hệ kinh tế đối ngoại khác bằng ngoại tệ. Đồng thời,
chính sách quản lí ngoại hối cũng quản lí và kiểm soát sự lu thông của ngoại hối
( chủ yếu là vàng, bạc, đá quí và đặc biệt là ngoại tệ ) trong phạm vi mỗi quốc gia.
Với việc thực hiện các nội dung này, chính sách quản lí ngoại hối không những
góp phần phát triển ngoại thơng, tạo sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế mà
còn có vai trò quan trọng trong việc ổn định gía trị tiền tệ quốc gia nói riêng, và ổn
định nền kinh tế quốc dân nói chung.
Từ sự trình bày khái quát trên, có thể thấy rằng chính sách quản lí ngoại hối có
ảnh hởng to lớn tới hoạt động kinh doanh ngoại hối của các ngân hàng thơng mại
thông qua các qui dịnh, thể lệ ràng buộc đợc luật pháp thừa nhận. Đặc biệt, một
chính sách quản lí ngoại hối đúng đắn và phù hợp với điều kiện của từng quốc gia
trong mỗi thời kì sẽ đóng vai trò đòn bẩy khuyến khích phát triển ngoại thơng, hợp
tác kinh tế quốc tế, thu hút đầu t của nớc ngoài , qua đó thúc đẩy hoạt động kinh
doanh ngoại hối của các ngân hàng thơng mại.
Sự bién động của tỉ giá hối đoái.
Về hình thức, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nớc này đợc biểu
hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nớc kia ; là hệ số quy đổi của một đồng tiền nớc
này sang đồng tiền nớc khác, đợc xác định bởi mối quan hệ cung - cầu trên thị tr-
ờng tiền tệ.
Về nội dung, tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao
đổi hàng hoá, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệ ( sự vận động
của vốn, tín dụng ) giữa các quốc gia.
Tỷ giá hối đoái, mặc dù đã có lịch sử lâu dài trong các giai đoạn phát triển của
Rủi ro hối đoái là những tổn thất về ngoại tệ nằm ngoài dự kiến hoặc trái với
mong muốn của nhà kinh doanh hối đoái.
Bên cạnh các công ti tham gia vào nền tài chính và mậu dịch quốc tế, ngân hàng
thơng mại cũng phải thờng xuyên đối mặt với rủi ro hối đoái. Các ngân hàng thơng
mại tham gia vào thị trờng hối đoái vừa với t cách một trung gian thanh toán thay
mặt cho khách hàng, vừa với t cách ngời kinh doanh ngoại tệ, chấp nhận rủi ro
kiếm lời. Để loại trừ và giảm bớt rủi ro hối đoái, các ngân hàng thơng mại phải
thực hiện quản lí rủi ro hối đoái, đánh giá mức độ của từng rủi ro hối đoái và đa ra
các biện pháp nhằm giảm thiểu các rủi ro đó.
14
2.2 Các loại rủi ro hối đoái:
Khi thực hiện các giao dịch hối đoái, ngân hàng thờng gặp những rủi ro sau :
Rủi ro tỉ giá hối đoái: là rủi ro do biến động của tỷ giá làm giảm giá trị tài
sản có giảm hoặc làm tăng gía trị tài sản nợ.
Rủi ro tín dụng: là rủi ro do biến động lãi suất ngoại tệ và rủi ro do khách
hàng không thực hiện đợc hợp đồng vào ngày đến hạn hoặc trong thời hạn của
hợp đồng.
Rủi ro hoạt động: là rủi ro do thanh toán chậm, thanh toán sai số lợng, thanh
toán sai đối tợng, không tuân thủ các hớng dẫn về thanh toán dẫn đến việc ngân
hàng phải chịu các khoản tiền phạt.
Rủi ro chuyển đổi: là rủi ro xảy ra khi việc chuyển đổi một đồng tiền hoặc
hoán vị nó sang một đồng tiền khác bị cấm do những biện pháp của nhà nớc.
Trong số các rủi ro nêu trên chỉ có rủi ro tỷ giá hối đoái là rủi ro đặc trng cho hoạt
động kinh doanh ngoại hối. Còn các rủi ro khác, cũng xuất hiện trong các nghiệp
vụ của ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động. Nhng rủi ro trong
chuyển đổi cũng quan trọng không chỉ trong kinh doanh ngoại hối. Đơng nhiên,
những rủi ro này có ý nghĩa quan trọng trong nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối hơn
là những nghiệp vụ ngân hàng khác, vì những nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối phụ
thuộc một phần vào sự phát triển ở nuớc ngoài và nh vậy, khó tập hợp và khó kiểm
ngân hàng, khả năng chấp nhận rủi ro, và lòng tin vào khả năng kinh doanh của
ngời điều hành kinh doanh ngoại hối.
ở nớc ta, giới hạn về trạng thái ngoại hối áp dụng đối với các tổ chức tín dụng đ-
ợc phép kinh doanh ngoại tệ ( trừ chi nhánh ngân hàng nớc ngoài ) đã đợc nêu rõ
tại Điều 5, Quyết định 18/1998/ QĐ- NHNN7 ngày 10/01/1998 do Thống đốc ngân
hàng nhà nớc ban hành, nh sau :
1. Tổng trạng thái ngoại tệ d thừa cuối ngày không đợc vợt quá 30% vốn tự có của
tổ chức tín dụng.
2. Trạng thái d thừa, hoặc d thiếu của đồng USD Mĩ cuối ngày của các tổ chức tín
dụng không đợc vợt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
Về mặt lí thuyết, mọi ngân hàng đều có thể tránh đợc rủi ro tỉ giá hối đoái và kinh
doanh có lãi nếu kiểm soát đợc trạng thái ngoại tệ và có quyết định đúng trong điều
chỉnh trạng thái ngoại tệ. Các giải pháp cụ thể là :
- Chủ động điều tiết hoạt động mua bán ngoại tệ trong ngày giao dịch, hớng việc
hình thành trạng thái ngoại hối theo ý định gồm cả hợp đồng mua bán giao ngay và
hợp đồng mua bán có kì hạn.
16
- Mua bán ngoại tệ theo yêu cầu của khách hàng, thanh toán dứt điểm vào tài
khoản tiền gửi của khách hàng không tạo trạng thái qua đêm của ngân hàng.
- Mua bán ngoại tệ thông qua tài khoản Nostro nhằm điều chỉnh trạng thái bất lợi,
tăng khả năng chi trả ngoại tệ của ngân hàng.
- Khép kín trạng thái bất lợi ở các thời điểm trong tơng lai do các hợp đồng mua
bán có kì hạn tạo ra bằng cách kí các hợp đồng đối ứng ở thị trờng ngoại hối liên
ngân hàng hoặc với các ngân hàng có quan hệ đạI lí.
- Kiềm chế ở mức hợp lí, có tính toán kĩ lỡng và tuân thủ qui chế việc chuyển đổi
các ngoại tệ mạnh sang bản tệ để cho vay và có giải pháp khép kín khi đến hạn.
Nói chung, kiểm soát trạng thái ngoại hối là cần thiết song không phải là mục
đích cuối cùng, mục đích cuối cùng phải là kinh doanh có lãi, tránh đợc rủi ro, duy
trì đợc khả năng chi trả về ngoại tệ và tôn trọng qui chế ngoại hối.
Rủi ro tín dụng:
Rủi ro chính trị:
Rủi ro này có thể coi nh bất khả kháng, cơ bản xuất phát từ các lí do chính trị.
Một ví dụ gần đây nhất là chính phủ Mĩ tiến hành phong toả số tài sản của các
ngân hàng Iran tại Mĩ, hay hiện nay cộng đồng quốc tế đe doạ cấm vận kinh tế đi
kèm với việc phong toả tài khoản của Libi do nớc này không chịu giao nộp hai
công dân của họ bị tình nghi là thủ phạm của vụ đánh bom máy bay của hãng
Panam ( Mỹ ). Nói chung các rủi ro chuyển đổi này ít xuất hiện trong giao dịch
giữa các nớc công nghiệp phơng Tây.
Thực tiễn đã cho thấy, công tác quản lí rủi ro hối đoái đóng vai trò quan trong
trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng thơng mại, tựa nh phòng
bệnh hơn chữa bệnh vậy. Tăng cờng quản lí rủi ro hối đoái sẽ hỗ trợ cho việc thực
hiện có hiệu quả các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, đạt đợc mục đích của nhà
ngân hàng khi tham gia vào thị trờng hối đoái, đó là: kinh doanh có lãi, bảo toàn
vốn và giảm thiểu rủi ro.
3. Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối:
3.1 Kinh doanh ngoại hối thanh toán ngay:
Giao dịch hối đoái giao ngay là giao dịch mua, bán một số lợng ngoại tệ giữa hai
bên theo tỉ giá giao ngay tại thời điểm giao dịch và kết thúc thanh toán trong vòng
hai ngày làm việc tiếp theo kể từ ngày cam kết mua bán ( không tính ngày chủ
nhật, ngày lễ và các ngày nghỉ khác ).
Nhng cần chú ý giao dịch giao ngay ở đây không có nghĩa là ngay lập tức mà
thông thờng giữa ngaỳ giao dịch ( ngày thoả thuận - deal date ) với ngày thanh toán
( ngày có giá trị - value date ). Đây là thời gian cần thiết để tiến hành các bút toán
để thực hiện lệnh thanh toán chuyển tiền giữa các Ngân hàng trên khắp thế giới.
18
Giao dịch hối đoái giao ngay đáo hạn chỉ trong vòng hai ngày nên rủi ro tín dụng
ít khi xảy ra. Những năm gần đây, doanh thu của hình thức giao dịch này tăng rất
mạnh nhờ có sự kết hợp của tính sinh lãi cố hữu và rủi ro tín dụng giảm. Đồng thời,
1 nội tệ = x ngoại tệ
1 ngoại tệ = x nội tệ
USD/JPY = 118.30 - 118.45
có nghĩa là ngân hàng yết giá sẵn sàng mua USD ở mức 118.30 JPY và bán USD ở
mức118.45 JPY. Trên thực tiễn, cách yết trên đã đợc rút gọn, chỉ viết đầy đủ tỉ giá
mua, còn tỉ giá bán chỉ viết điểm, nh sau: USD/ JPY = 118.30 - 75.
Ngân hàng đợc hỏi giá là ngân hàng xác định chiều yết giá. Ví dụ, một ngân
hàng A chào cho khách hàng tỉ giá EURO/USD = 1.0732 - 42, có nghĩa là ngân
hàng này sẵn sàng mua EURO ở mức 1.0732 USD là tỉ giá bán mà khách hàng
của ngân hàng này thu đợc, và sẵn sàng bán USD ở mức 1.0742 CHF là tỉ giá mua
đối với khách hàng.
Tỷ giá chéo:
Hiện nay tại các thị trờng hối đoái quốc tế, ngời ta thờng chỉ thông báo tỷ giá
giữa đồng USD so với đồng bản tệ nớc mình. Ví dụ, tại Đức USD/DEM, tại Nhật
USD/JPY Vì vậy, nếu cần xác định tỷ giá giữa DEM/JPY thì ta phải dùng tỷ giá
chéo ( cross rate ) theo nguyên tắc:
Muốn xác định tỷ giá hối đoái của đồng tiền A so với đồng tiền B theo phơng pháp
tính chéo thì ta lấy tỷ giá của A/C nhân với tỷ giá của C/B.
A/B= A/C * C/B
Trong tr ờng hợp yết giá trực tiếp:
Giả sử tại thị trờng New York tỷ giá USD/JPY đợc một ngân hàng yết giá nh sau:
USD/JPY= 120.20 - 30
tại thì trờng Châu Âu tỷ giá của EURO/JPY nh sau:
EURO/JPY= 128.40 - 50
Vậy tỷ giá EURO/USD là bao nhiêu? Ta sẽ có:
Tỷ giá mua EURO bán USD= 128.40 = 1.0675
120.30
Tỷ giá bán EURO mua USD= 128.50 =1.0690
120.20
Tỉ giá bán B / C = _____________
21
tỉ giá mua A / B
Tr ờng hợp một đồng tiền đ ợc yết giá trực tiếp còn đồng kia đ ợc yết giá gián
tiếp:
Giả sử tại thị trờng London tỷ giá:
GBP/USD= 1.5410 - 1.5420
tại thị trờng Munic tỷ giá:
USD/ DEM= 1.5230 - 1.5240
Vậy tỷ giá GBP/DEM là bao nhiêu?
Ta có: GBP/USD= 1.5410 - 1.5420
DEM/USD= 1/1.5240 - 1/1.5230
Tỷ giá mua GBP bán DEM là 1.5410 = 1.5410 * 1.5230= 2.3470
1/1.5230
Tỷ giá bán GBP mua DEM là 1.5420 = 1.5420 * 5240 = 2.3500
1/1.5240
Ta có tỷ giá GBP/DEM= 2.3470 - 23500
3.2 Kinh doanh ngoại hối có kì hạn :
3.2.1 Khái niệm:
Giao dịch hối đoái kì hạn là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán với
nhau một số lợng ngoại tệ theo một mức tỉ giá xác định, và việc thanh toán sẽ đợc
thực hiện trong tơng lai.
Trái với nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối thanh toán ngay, trong nghiệp vụ kinh
ngoại hối có kỳ hạn, việc hoàn tất một nghiệp vụ mua bán ngoại hối đợc xác định
vào một thời điểm nhất định sau đó. Thời điểm này đợc thoả thuận ngay từ khi kết
thúc nghiệp vụ mua bán. Chỉ trong những trờng hợp ngoại lệ thì tỷ giá kỳ hạn cho
22
USD 200.000/90 ngày
Hàng hoá
Nhà nhập khẩu Đức
Nhà xuất khẩu Mỹ
Nh vậy, nhà nhập khẩu Đức sẽ phải chịu rủi ro về tỉ giá nếu đến hạn thanh toán tỉ
giá USD/DEM tăng chẳng hạn ở mức 1USD= 1.5700 DEM
Để chống lại rủi ro này anh ta thoả thuận với ngân hàng của mình một tỷ giá xác
định là 1USD= 1.5690 DEM nhằm mua số USD trên của ngân hàng sau 90 ngày để
thanh toán cho nhà xuất khẩu Mỹ. Nhờ hợp đồng kỳ hạn này mà nhà xuất khẩu
Đức đợc lợi 200.000 * ( 1.5700 - 1.5690 )= 200 DEM.
Tơng tự nh trên nhà xuất khẩu Mỹ cũng chịu rủi ro về tỷ giá khi tỉ giá USD/DEM
giảm chẳng hạn ở mức 1USD= 1.5660 DEM.
Để chống lại rủi ro này nhà xuất khẩu Mỹ sẽ thoả thuận bán cho ngân hàng của
mình số tiền 200.000 USD sau 90 ngày với tỉ giá 1USD= 1.5670 DEM. Nhờ hợp
đồng này nếu trong trờng hợp tỷ giá USD/DEM giảm, nhà xuất khẩu Mỹ cũng đợc
lợi:
200.000*( 1.5670 - 1.5660 )= 200 DEM
3.2.3 Xác định tỉ giá kinh doanh ngoại hối có kỳ hạn:
Việc hình thành tỉ giá trên thị trờng ngoại hối đợc xác định chủ yếu dựa vào
những dự đoán trong tơng lai trên cơ sở nhận định quốc tế một loại tiền tệ, tình
trạng tăng cũng nh giảm của cán cân thơng mại hay dịch vụ, tình hình chính trị của
một nớc cũng nh sự chênh lệch lãi suất ngân hàng giữa các nớc. Ngợc lại với thị tr-
ờng mua bán ngay - nơi có sự công bố tỉ giá chính thức, tỉ giá trên thị trờng có kỳ
hạn chỉ đợc xác định căn cứ vào tình trạng của mỗi thị trờng.
Các thuật ngữ chuyên môn trong việc xác định tỉ giá kỳ hạn bao gồm:
Pari ( bằng nhau ): không có chênh lệch tỉ giá có kỳ hạn và tỉ giá thanh toán
ngay.
Deport ( giảm ) : phần chênh lệch thấp hơn của tỉ giá có kỳ hạn so với tỉ giá
thanh toán ngay.
d
- I
u
)
360
Điểm kì hạn = R
s
. N . ( I
d
- I
u
)
360
Trong đó :
R
f
là tỉ giá kì hạn
R
s
là tỉ giá giao ngay
N là thời hạn cho vay, tính theo ngày. Nếu N là số tháng thì 360 sẽ đợc
qui đổi thành 12 tháng.
I
u
là lãi suất của đồng tiền yết giá ( USD)
I
d
là lãi suất của của đồng tiền định giá ( trong ví dụ trên là DEM ).
Khi ngân hàng mua USD có kì hạn :
suất thấp của đồng tiền đó.
25