LUẬN VĂN: Cơ sở lý luận đổi mới quản lý luật sư ở Việt Nam hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Cơ sở lý luận đổi mới quản lý luật sư
ở Việt Nam hiện nay
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới toàn diện đất nước đòi hỏi bộ máy nhà nước, trong đó có hệ
thống tư pháp phải đổi mới cho phù hợp. Cải cách tư pháp là nhiệm vụ quan trọng trong

trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đương sự khác,
phục vụ tích cực cho công cuộc cải cách tư pháp, mà còn góp phần từng bước tạo lập
môi trường pháp lý thuận lợi và tin cậy cho các hoạt động đầu tư, kinh doanh, thương
mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, những kết quả đó mới là bước đầu, tổ chức và hoạt động luật sư còn
bộc lộ nhiều hạn chế. Đội ngũ luật sư còn thiếu về số lượng. Số lượng luật sư hiện có so
với dân số cả nước vẫn còn quá thấp. Sự phát triển luật sư còn mất cân đối giữa các
vùng, miền. Chất lượng đội ngũ luật sư hiện nay chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu
của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế. Hoạt động luật sư chưa đáp ứng yêu
cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển của luật sư là
do công tác quản lý luật sư còn nhiều bất cập và hạn chế. Có thể khẳng định rằng, việc quản
lý luật sư thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức, thực hiện chủ yếu theo kinh
nghiệm, chưa được đầu tư nghiên cứu một cách cơ bản về lý luận, chậm tổng kết thực tiễn.
Những yếu kém và hạn chế trong công tác quản lý luật sư thể hiện ở chỗ nhà nước chưa
quy định rõ nội dung quản lý nhà nước và nội dung tự quản, chưa phân định rõ thẩm quyền
quản lý. Tổ chức luật sư toàn quốc với tư cách là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư
trong phạm vi toàn quốc để đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư trong hành
nghề chưa được thành lập. Do vậy, trong quản lý luật sư vẫn còn tình trạng thiếu tập trung,
thiếu thống nhất từ phía nhà nước và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, làm cho công
tác quản lý luật sư còn lúng túng, hiệu quả không cao.
Trong thời gian qua, đội ngũ luật sư ở nước ta ngày càng phát triển cả về số
lượng và chất lượng. Hoạt động luật sư cũng ngày càng được mở rộng trong tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, tổ chức và hoạt động luật sư hiện nay đã làm tăng
thêm tính phức tạp trong công tác quản lý ở lĩnh vực này. Nâng cao vai trò của nhà

nước trong việc phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, giỏi về chuyên môn, nghiệp
vụ, vững về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng dịch vụ pháp lý của luật sư, phục vụ đắc
lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ rất bức xúc

Nguyễn Văn Thảo, Vụ trưởng Vụ Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm đề tài;
- Đề tài cấp Bộ năm 2005: "Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, thực trạng, nhu cầu và
định hướng phát triển" do Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, Tổng biên tập Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm đề tài;
- Đề tài nhánh 05 thuộc Chương trình khoa học cấp nhà nước mã số KX 04 giai
đoạn 2001 - 2005: "Cải cách tổ chức và hoạt động Bổ trợ tư pháp trong nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" do Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuân, Tổng
biên tập Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm đề tài;
- Luận án Tiến sĩ năm 2003 của Phan Trung Hoài về "Hoàn thiện pháp luật về
tổ chức và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam";
- Luận văn Thạc sĩ năm 2001 của Dương Đình Khuyến về "Vấn đề xã hội hóa
hoạt động luật sư và tư vấn pháp luật".
Những công trình nghiên cứu khoa học trên đây đề cập nhiều về thực trạng tổ
chức luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam, góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận
và thực tiễn về tổ chức và hoạt động luật sư. Trong số đó có nhiều kiến giải, luận điểm
khoa học đã được vận dụng vào thực tiễn.
Tuy nhiên, những công trình trên không tập trung nghiên cứu chuyên sâu về vấn
đề quản lý luật sư mà chỉ đi vào một khía cạnh nhất định của nội dung quản lý nhà nước
đối với tổ chức và hoạt động luật sư.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu các vấn đề cơ sở lý luận đổi mới quản lý luật
sư, góp phần từng bước hoàn thiện cơ chế quản lý luật sư ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu là các vấn đề về hành nghề luật sư; nội dung của quản lý
luật sư trong điều kiện cải cách tư pháp ở Việt Nam.
4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Xây dựng cơ sở lý luận đổi mới quản lý luật sư ở Việt Nam hiện nay nhằm hoàn
thiện tổ chức và hoạt động luật sư, đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân.


1.1. Khái niệm luật sư và hành nghề luật sư
1.1.1. Khái niệm luật sư
ở Việt Nam hiện nay, vẫn còn tồn tại hai khái niệm "luật sư" và "luật gia". "Luật
sư" và "Luật gia" được hiểu khác nhau và đôi lúc còn có sự nhầm lẫn.
Theo cách giải thích của nhiều từ điển và qua tìm hiểu thực tiễn của một số
nước, thuật ngữ "Jurist" (luật gia) được hiểu là người có kiến thức về pháp luật, những
chuyên gia luật. Có thể hiểu đó là tất cả những người có bằng cử nhân luật trở lên.
ở Việt Nam, "luật gia" được hiểu rất rộng, không chỉ những người có bằng cử
nhân luật trở lên mà cả những người không có bằng cử nhân luật nhưng có kiến thức về
pháp luật và đã, đang làm công tác pháp luật trong cơ quan, tổ chức. Hội viên Hội luật
gia được hiểu là công dân Việt Nam có phẩm chất đạo đức tốt, đã hoặc đang làm công
tác pháp luật trong cơ quan, tổ chức với thời gian từ ba năm trở lên, chấp nhận Điều lệ
của Hội [33, tr. 7-8].
Thuật ngữ "Lawyer" (luật sư) là luật gia được đào tạo về kỹ năng hành nghề,
được gia nhập Đoàn luật sư, qua đó được công nhận là luật sư để hành nghề chuyên
nghiệp trong lĩnh vực tranh tụng và tư vấn pháp luật hoặc một trong hai lĩnh vực này.
Tương đương với hai thuật ngữ trong tiếng Anh "jurist" và "lawyer" là hai thuật
ngữ trong tiếng Pháp "juriste" (luật gia) và "avocat" (luật sư, trạng sư).
Có thể nói, khái niệm "luật sư" luôn là vấn đề gặp nhiều khó khăn trong quá
trình xây dựng pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư. Tham khảo kinh nghiệm nước
ngoài cho thấy, không phải nước nào họ cũng đưa ra khái niệm hoặc định nghĩa về luật
sư. Khái niệm luật sư không phải có sự hiểu biết thống nhất hoặc quy định giống nhau ở
các nước trên thế giới. Hầu hết ở các nước có nghề luật sư phát triển, việc đưa ra khái

niệm hoặc định nghĩa về luật sư chỉ mang tính quy ước, khái niệm luật sư thường mang
tính hình thức hơn là khái niệm về mặt nội dung.
Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 của nước ta đã chính thức hóa thuật ngữ
"luật sư". Tuy nhiên, Pháp lệnh chưa đưa ra được một khái niệm hay định nghĩa hoàn
chỉnh về luật sư. Theo quy định của Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987, người muốn

sư là luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn.
1.1.2. Khái niệm hành nghề luật sư
ở Việt Nam lâu nay vẫn sử dụng các cụm từ "nghề luật sư", "nghề nghiệp luật
sư" và "hành nghề luật sư". Thực ra gọi như vậy không hoàn toàn chính xác về mặt
ngôn ngữ. Bởi vì, "luật sư" là một danh từ chỉ người, chứ không phải dùng để chỉ một
nghề. Trong tiếng Anh người ta dùng "Lawyer" (luật sư) và "practice law" (hành nghề
luật). Tuy nhiên, việc sử dụng các cụm từ "nghề luật sư" hay "nghề nghiệp luật sư" và
"hành nghề luật sư" là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, có thể chấp nhận được, bởi
vì nếu dùng cụm từ "nghề luật" thì e rằng theo cách hiểu của ngôn ngữ Việt Nam sẽ quá
rộng, không phải chỉ là việc bào chữa, biện hộ trước tòa án và làm tư vấn pháp luật
(cung cấp dịch vụ pháp lý) của luật sư.
Theo thói quen sử dụng ngôn ngữ Việt Nam trong văn nói cũng như trong văn
viết thì cụm từ "nghề luật sư" có thể được chấp nhận, cũng giống như nói "kiến trúc sư" và
nghề "kiến trúc sư", "thày thuốc" và "nghề thày thuốc" v.v Pháp lệnh luật sư năm 2001
chính thức chấp nhận các cụm từ "nghề luật sư", "nghề nghiệp luật sư" và "hành nghề
luật sư".
Theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 thì "hành nghề luật sư" được
hiểu là việc luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ
pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của họ theo quy định của pháp luật.
Luật luật sư đã khái quát hơn, mở rộng hơn khái niệm "hành nghề luật sư".
Theo đó, hành nghề luật sư là việc luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia
tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và làm các dịch vụ
pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

"Hành nghề luật sư" theo quy định của Luật luật sư là phải hành nghề chuyên
nghiệp, có trình độ chuyên môn sâu về kiến thức pháp lý và kỹ năng hành nghề. Việc
hành nghề luật sư chủ yếu phải bằng trình độ và kinh nghiệm chuyên môn mà đối tượng
phục vụ là khách hàng. Luật sư cung cấp "dịch vụ pháp lý" cho khách hàng và nhận thù
lao từ khách hàng.

Thứ hai, luật sư với tư cách là một người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
các chủ thể pháp lý nên luật sư có nhiệm vụ bảo đảm sự công bằng, khách quan của
pháp luật. Thông qua việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, luật sư góp phần trực tiếp
vào việc thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống. Vì thế, các nước trên thế giới
đều cho rằng nghề luật sư là một nghề trong xã hội, là công cụ hữu hiệu góp phần đảm
bảo công lý.
Thứ ba, nguyên tắc của nghề luật sư là phải độc lập, liêm chính, nhân đạo và
dũng cảm. Tính khách quan trong nghề luật sư được đề cao. Nghề luật sư là nghề không
chịu sự chi phối của quyền lực. Vì vậy, nghề luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín
nghề nghiệp của luật sư và tính chất của nghề tự do trong tổ chức hành nghề luật sư.
Đây là yêu cầu cần thiết để luật sư có thể hoàn thành tốt trách nhiệm của mình.
Thứ tư, nghề luật sư là một nghề tự do, các luật sư độc lập trong hành nghề, tự
chịu trách nhiệm về việc hành nghề của mình theo quy định của pháp luật. Hành nghề
luật sư không chỉ đòi hỏi về mặt chuyên môn, tuân thủ pháp luật mà còn phải chịu sự
điều chỉnh khắt khe bởi quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp.
Thứ năm, tổ chức luật sư không nằm trong bộ máy nhà nước, hoạt động của luật
sư không chỉ liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của công dân mà còn liên quan đến
hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật và có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động
của các cơ quan nhà nước đặc biệt là các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, có thể nói
nghề luật sư mang tính "giám sát" hoạt động của các cán bộ và các cơ quan chức năng
của nhà nước.
Những điểm đặc thù trên đây của nghề luật sư là những yếu tố rất quan trọng
quy định và chi phối nội dung, cách thức quản lý luật sư.

1.2.1.2. Vấn đề quản lý luật sư
Khi nghiên cứu pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư của các nước trên thế
giới thấy rằng pháp luật của các nước thường không quy định cụ thể về khái niệm hay
định nghĩa chung về quản lý luật sư. Tựu trung, các nước đều có quan niệm thống nhất
là quản lý luật sư bao gồm hoạt động quản lý nhà nước về luật sư và tự quản của tổ chức
xã hội - nghề nghiệp của luật sư, mối quan hệ giữa quản lý nhà nước với tự quản của tổ

nó ở Việt Nam trong điều kiện chúng ta xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa.
1.2.2. Quản lý nhà nước về luật sư
Quản lý nhà nước về luật sư là một trong những nội dung quan trọng có ý nghĩa
quyết định trong việc quản lý luật sư. ở tất cả các nước trên thế giới và trong khu vực,
vấn đề quản lý nhà nước về luật sư đều được đặt ra. Các nước có hệ thống pháp luật và
tư pháp khác nhau thì vấn đề quản lý nhà nước về luật sư cũng khác nhau, vai trò và
mức độ quản lý nhà nước về luật sư cũng khác nhau.
Các nước có nghề luật sư hàng trăm năm nay như Anh, Pháp, Đức v.v , vai trò và
mức độ quản lý nhà nước về luật sư có những giới hạn nhất định. Nhà nước quản lý luật
sư chỉ thông qua việc ban hành khung pháp luật thống nhất, thực hiện việc kiểm tra,
thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật đối với luật sư. Nhà nước không giám sát, tác động
hay can thiệp vào hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Có thể khẳng định rằng, ở những
nước có nghề luật sư phát triển, nhà nước không quản lý luật sư bằng các biện pháp
hành chính, không can thiệp vào hoạt động nghề nghiệp của luật sư mà chỉ xây dựng
một hành lang pháp lý chặt chẽ để các luật sư hoạt động. Điều này không đồng nghĩa
với việc nhà nước không quản lý hoặc buông lỏng quản lý luật sư. Để nhà nước chỉ
quản lý luật sư bằng pháp luật thì đòi hỏi pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư được
nhà nước xây dựng và ban hành phải hoàn thiện, đồng thời luật sư phải có trình độ
chuyên môn, tính chuyên nghiệp cao, tổ chức luật sư cũng được phát triển ngang tầm.
Đối với những nước nghề luật sư mới được hình thành thì việc quản lý nhà
nước về luật sư là cần thiết và có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển luật sư và hành
nghề luật sư. Nhà nước quản lý luật sư bằng việc ban hành các văn bản pháp luật để tạo

cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động luật sư nhưng đồng thời phải hỗ trợ về mọi mặt
để tổ chức, hoạt động luật sư tồn tại, củng cố và phát triển.
Có thể khái quát chung, quản lý nhà nước về luật sư là sự tác động của các chủ
thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu bằng pháp luật tới tổ chức, hoạt động luật sư
nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước. Đó là sự tác động của các cơ quan nhà
nước (cơ quan hành pháp hoặc cơ quan tư pháp) khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ và

cơ chế quản lý luật sư vừa thống nhất, chặt chẽ, phân định rõ ràng thẩm quyền quản lý,
nội dung quản lý và đồng thời phù hợp với trình độ, năng lực của đội ngũ luật sư ở nước
ta.
1.2.3. Tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư
Tổ chức xã hội nói chung là hình thức tổ chức tự nguyện của nhân dân, hoạt
động theo nguyên tắc tự quản nhằm đáp ứng những lợi ích chính đáng của các thành
viên và tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Hoạt động quản lý nhà nước được tiến hành không chỉ bởi các cơ quan nhà
nước mà còn được tiến hành bởi các tổ chức xã hội và cá nhân công dân. Là một bộ
phận của hệ thống chính trị, các tổ chức xã hội đã góp phần to lớn vào công cuộc xây
dựng và bảo vệ đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một loại hình tổ chức xã hội do nhà nước cho
phép thành lập, được hình thành theo quy định của nhà nước. Muốn trở thành thành
viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện do nhà nước
quy định. Hoạt động nghề nghiệp của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp đặt dưới sự quản
lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư là một bộ phận của tổ chức xã hội
trong hệ thống chính trị, được thành lập để đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
luật sư, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ luật sư, giám sát việc tuân theo pháp luật, quy
tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, thực hiện quản lý hành nghề luật sư theo
quy định của pháp luật.

Hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư là hoạt động
nhân danh chính tổ chức mình để tham gia quản lý luật sư. Đồng thời, trong một số
trường hợp do pháp luật quy định, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư hoạt động
quản lý luật sư nhân danh nhà nước. Nhà nước thừa nhận và bảo hộ sự tồn tại của tổ
chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư bằng việc cho phép tổ chức xã hội - nghề nghiệp
của luật sư được thành lập và quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của chúng. Tổ chức
xã hội - nghề nghiệp của luật sư hoạt động tự quản theo Điều lệ do các thành viên xây
dựng trên cơ sở đồng thuận và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

điểm khác biệt so với việc quản lý đối với các ngành nghề khác. Việc quản lý luật sư ở
các nước đều là sự kết hợp giữa quản lý nhà nước và tự quản của tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của luật sư. Tuy nhiên, nghề luật sư là một nghề tự do nên vai trò quản lý của tổ
chức nghề nghiệp đến đâu, còn nhà nước quản lý hoạt động này như thế nào là tùy
thuộc vào quy định của từng nước.
Cùng với sự hình thành và phát triển của nghề luật sư thì tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của luật sư cũng được hình thành và phát triển tương ứng. Tổ chức xã hội -
nghề nghiệp của luật sư được hình thành trên cơ sở tự nguyện của các luật sư. ở những
nước mà nghề luật sư đã có từ lâu như Anh, Pháp, Đức v.v thì tổ chức xã hội - nghề
nghiệp của luật sư ở những nước đó rất phát triển và đóng vai trò quan trọng trong
hoạt động nghề nghiệp của luật sư. ở những nước này pháp luật quy định cho các tổ
chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư có nhiều chức năng trong việc quản lý đối với
hành nghề luật sư.
Thông thường, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư ở các nước được hình
thành ở hai cấp là cấp trung ương và địa phương (đó là tổ chức xã hội -nghề nghiệp ở
cấp tỉnh hoặc ở các Bang, các địa hạt). Riêng ở Pháp các Đoàn luật sư, tổ chức xã hội -
nghề nghiệp của luật sư được thành lập bên cạnh các Tòa án trong cùng quản hạt với
Tòa thượng thẩm. Cho dù ở những nước nghề luật sư thực sự phát triển hay không thì
nhiệm vụ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư sẽ là việc quản lý hành nghề luật
sư thông qua các việc như: bảo đảm cho luật sư hành nghề đúng pháp luật và bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư; tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho luật sư; kiểm

tra, giám sát việc hành nghề của luật sư trong phạm vi lãnh thổ của mình; kiểm tra giám
sát việc tuân thủ các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, quy tắc hành nghề
luật sư; giải quyết các vấn đề khác có liên quan đến luật sư như cấp chứng chỉ hành
nghề hàng năm cho luật sư, giải quyết khiếu nại tố cáo, xử lý kỷ luật luật sư v.v
Nghề luật sư là một nghề dựa trên sự hiểu biết pháp luật và áp dụng pháp luật.
Chức năng xã hội cao cả của luật sư là phụng sự công lý, công bằng xã hội. Hoạt động
của luật sư ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật nói chung và có
ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của các cơ quan nhà nước đặc biệt là các cơ quan

nghiệp vụ cao và quy định cụ thể, chặt chẽ về tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề và đặc
biệt về hình thức hành nghề của luật sư. Công tác quản lý nhà nước đối với nghề luật sư
cần xuất phát từ đặc thù của nghề luật sư.
Vai trò tự quản của các Đoàn luật sư cũng cần được đẩy mạnh sao cho phù hợp
với đặc thù của nghề này. Các Đoàn luật sư thực hiện chức năng quản lý các luật sư và
việc hành nghề của họ trong phạm vi những nhiệm vụ, quyền hạn như đăng ký cho
người có Chứng chỉ hành nghề luật sư được gia nhập Đoàn luật sư, quản lý danh sách
luật sư của Đoàn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các luật sư, giáo dục, bồi dưỡng chính
trị, nghiệp vụ cho các luật sư, ban hành Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp và giám
sát việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của luật sư, nhận yêu cầu của cơ quan tiến hành
tố tụng và phân công luật sư bào chữa cho bị can, bị cáo, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối
với luật sư của Đoàn về việc vi phạm quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, quyết
định khen thưởng cho các luật sư có thành tích xuất sắc trong hoạt động nghề nghiệp
của mình, xử lý kỷ luật đối với luật sư vi phạm quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp
và Điều lệ Đoàn luật sư, tổ chức lấy ý kiến và tập hợp ý kiến đóng góp, kiến nghị của
luật sư trong việc xây dựng chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước v.v
Quy định như vậy vừa phát huy được tính tự quản của tổ chức nghề nghiệp luật
sư, vừa phát huy được vai trò quản lý nhà nước và đặc biệt có sự phối hợp giữa quản lý
nhà nước với vai trò tự quản của tổ chức nghề nghiệp luật sư. Điều này được thể hiện ở
chỗ để được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề do nhà nước cấp và phải
được đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư. Đoàn luật sư chịu trách nhiệm giám sát, theo

dõi hoạt động hành nghề của các luật sư là thành viên của Đoàn mình và báo cáo định
kỳ tới cơ quan nhà nước là Bộ Tư pháp và ủy ban nhân dân. Nhà nước quản lý hành
nghề luật sư thông qua việc kiểm tra, thanh tra và báo cáo của các Đoàn luật sư. Khi
phát hiện luật sư có vi phạm thì Đoàn luật sư là cơ quan đầu tiên có trách nhiệm xem
xét và xử lý. Trong trường hợp xóa tên thì phải thông báo cho Bộ Tư pháp. Để bảo đảm
quyền cho luật sư, cần quy định cho luật sư có quyền được khiếu nại tố cáo. Cơ quan
đầu tiên có trách nhiệm giải quyết là Đoàn luật sư. Trong trường hợp không đồng ý với
việc giải quyết đó thì có thể được khiếu nại tới cơ quan nhà nước là Bộ Tư pháp hoặc ủy

những quy phạm pháp luật. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng
chủ đạo, cơ bản thể hiện bản chất và đặc điểm của pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nguyên
tắc này mang tính khách quan trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế, lực lượng vũ trang, cán bộ,
công chức nhà nước và mọi công dân.
Trong quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước
sử dụng pháp luật với tính chất là một phương tiện quan trọng để đảm bảo thực hiện có
hiệu quả các nhiệm vụ của mình. Tuy nhiên phương tiện này chỉ thực sự phát huy vai
trò, tác dụng khi nó được tôn trọng một cách nghiêm chỉnh trên thực tế. Vì vậy, pháp
chế xã hội chủ nghĩa với nội dung là sự tôn trọng và tuân thủ triệt để pháp luật của các
cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng,
đơn vị kinh tế, lực lượng vũ trang, cán bộ, công chức nhà nước và mọi công dân trở
thành một nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy
nhà nước, trong đó có cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Điều 12 Hiến pháp 1992
(sửa đổi năm 2001) quy định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa" [28, tr. 17].
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc chung trong việc xây dựng
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, trong tổ chức và hoạt động
luật sư ở nước ta, việc tuân thủ triệt để nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là yêu cầu
cần thiết và khách quan.

Nghề luật sư là một nghề đặc thù trong xã hội, do đó nguyên tắc pháp chế xã hội
chủ nghĩa cần được áp dụng đầy đủ trong tổ chức và hoạt động luật sư nói chung và trong
hoạt động quản lý sư nói riêng. Đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong hoạt động quản lý luật sư có nghĩa là phải thực hiện đầy đủ các yêu cầu đối
với từng hoạt động khác nhau như:
- Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật về luật sư và hành nghề luật
sư;
- Hoạt động tổ chức thực hiện những văn bản quy phạm pháp luật về luật sư và
hành nghề luật sư. Mọi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức chính trị, tổ chức

sáng tạo các nguyên tắc quản lý luật sư trong các giai đoạn phát triển của nghề luật sư.
Nhà nước không thể áp dụng một cách máy móc các nguyên tắc quản lý, đề cao nguyên
tắc chung, coi nhẹ nguyên tắc riêng, nguyên tắc đặc thù hoặc ngược lại.
1.2.6. Nội dung quản lý luật sư
Muốn tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động luật sư nhằm củng cố vai trò
của luật sư đối với đời sống kinh tế - xã hội, cần thiết phải xác định những nội dung cụ
thể của hoạt động quản lý luật sư. Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý phải xác lập
một cách rõ ràng các công việc cần phải thực hiện, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thực hiện nhằm đảm bảo chúng có khả năng thúc đẩy một cách mạnh mẽ tổ chức và
hoạt động luật sư đi vào nề nếp và thực sự có hiệu quả. Nội dung quản lý luật sư có tính
đồng bộ, toàn diện bao gồm những nội dung quản lý nhà nước và nội dung quản lý luật
sư của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
- Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về luật sư, một trong những vấn đề
quan trọng là cần phải xác định rõ những nội dung mà nhà nước cần thực hiện. Thông lệ
chung trên thế giới, nội dung quản lý nhà nước về luật sư thường tập trung vào những
vấn đề như xây dựng chiến lược và chính sách phát triển nghề luật sư, ban hành và
hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư,
kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư.

Tuy nhiên, những nội dung quản lý nhà nước về luật sư được quy định phải
tương ứng với sự phát triển của luật sư và nghề luật sư, phù hợp với điều kiện kinh tế,
chính trị xã hội của mỗi nước.
Trong giai đoạn hiện nay, nội dung quản lý nhà nước cần được thể hiện trên các
mặt như:
+ Xây dựng chiến lược và chính sách phát triển nghề luật sư;
+ Ban hành và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về luật sư
và hành nghề luật sư;
+ Đào tạo nghề luật sư,
+ Cấp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư; cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt
động của tổ chức hành nghề,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status