LUẬN VĂN: Đổi mới cơ chế, chính sách để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay - Pdf 11

LUẬN VĂN:

Đổi mới cơ chế, chính sách để thúc
đẩy sự phát triển của kinh tế tư
nhân ở Việt Nam hiện nay
Lời nói đầu

Trong những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế tư nhân gồm
kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã phát triển rộng khắp cả nước
góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực vào sản xuất

kinh tế là kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân.
Kinh tế tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại
hình doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế tư nhân tham gia vào tất cả các lĩnh vực nông
nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, thương nghiệp và các loại hình dịch vụ
khác.
2. Các loại hình tổ chức kinh doanh của kinh tế tư nhân
Loại hình tổ chức kinh doanh của kinh tế tư nhân rất đa dạng, phổ biến nhất là
hộ cá thể, tiểu chủ; loại hình công ty hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và và
dưới hình thức: công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,
công ty hợp danh.
Trong kinh tế tư nhân, hộ kinh doanh cá thể có số lượng đông đảo, sử dụng
nhiều lao động xã hội, huy động nhiều vốn đầu tư, đóng góp tỷ trọng lớn vào GDP.
Hộ kinh doanh cá thể có tiền đề, là bước tập dượt và tích luỹ cho bước phát triển
cao hơn về hoạt động sản xuất kinh doanh là hình thức doanh nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp tư nhân đã góp phần sản xuất hàng hoá có chất lượng cao,
tham gia tích cực vào xuất khẩu hàng hoá, nhất là nông sản hàng hoá, giúp nông dân
tiêu thụ một khối lượng hàng hoá nông sản. Sự hoạt động sôi động của doanh
nghiệp tư nhân đã thúc đẩy nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Các chủ tư nhân hầu hết là các doanh nghiệp trưởng thành trong chế độ mới,
nhiều người trong số họ là cán bộ đảng viên, đã từng tham gia trong các cơ quan,
doanh nghiệp nhà nước và có một số đã trải qua thời kỳ tham gia lực lượng vũ
trang, có nguyện vọng muốn đem tài năng, trí tuệ của mình vào phát triển kinh tế
đất nước, làm giàu cho tổ quốc.
II. Vai trò của kinh tế tư nhân
1. Đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP)
Tổng sản phẩm của kinh tế tư nhân nhìn chung là tăng ổn định trong những
năm gần đây. Nhịp độ tăng trưởng năm 1997 là 12,89%, năm 1998 là 12,74%, năm
1999: 7,5%, năm 2000: 12,55% và chiếm tỷ trọng tương đối ổn định trong GDP. Tỷ

Trình độ sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân ngày càng tiến bộ hơn, số
lượng hàng hoá tham gia xuất khẩu ngày càng tăng. Nhiều sản phẩm của kinh tế tư
nhân được xuất khẩu uỷ thác qua doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài. Kinh tế tư nhân còn tham gia nhiều công đoạn trong quá trình
sản xuất hàng xuất khẩu. Xuất khẩu trực tiếp của khu vựac kinh tế tư nhân đến nay
đã tăng khá, 9 tháng đầu năm 2001 đạt 2.189.330.000 USD, trong đó các công ty cổ
phần đạt 361.759.990 USD, công ty tư nhân đạt 211.900.000 USD (số liệu của tổng
cục Hải quan).
Chương II
Những vấn đề của kinh tế tư nhân hiện nay

I. Thực trạng kinh tế tư nhân
Trong những năm qua kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, vốn kinh
doanh, thu hút lao động, nhất là loại hình doanh nghiệp, công ty.
Kinh tế tư nhân phát triển rộng khắp trong các ngành nghề mà pháp luật không
cấm. Số cơ sở nhiều nhất mà pháp luật không cấm. Số cơ sở nhiều nhất là trong lĩnh
vực thương mại, dịch vụ, xây dựng, tiếp đến là công nghiêp, tiểu thủ công nghiệp.
1. Tình hình tăng trưởng doanh nghiệp
Trong giai đoạn 1996-2000, số lượng đơn vị sản xuất, kinh doanh hoạt động
trong kinh tế tư nhân tăng lên đáng kể, số hộ kinh doanh cá thể tăng 6,02%, số
doanh nghiệp tăng 45,61%, nhưng không đều qua các năm (số hộ kinh doanh cá thể
năm 1997 giảm, số doanh nghiệp năm 1998 giảm và tăng mạnh từ năm 2000 khi có
Luật doanh nghiệp).
Trong cơ cấu các hình thức tổ chức kinh doanh của kinh tế tư nhân, các hộ cá
thể chiếm số lượng rất lớn, đến cuối năm 2000 có 2.137.731 hộ và 29.548 doanh
nghiệp.
Trong các loại hình doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân chiếm số lượng lớn

Trong các ngành phi nông nghiệp, số lao động kinh tế tư nhân năm 2000 là
4.643.844 lao động, tăng 20,12% so với năm 1996; bình quân mỗi năm tăng
194.670 lao động, tăng 4,75% năm.
Tính từ năm 1996 đến nay, lao động trong công nghiệp tăng nhiều hơn ngành
thương mại, dịch vụ. Năm 2000 so với năm 1996 lao động trong công nghiệp thêm
được 363.442 người, tăng 20,68%; trong khi lao động thương mại, dịch vụ thêm
được 271.476 người. Lao động công nghiệp ở doanh nghiệp tư nhân tăng nhanh hơn
ở hộ kinh doanh cá thể; năm 2000 so với năm 1996, lao động công nghiệp ở doanh nghiệp tăng 114,02%;l lao động công nghiệp ở hộ kinh doanh cá thể chỉ tăng được
6,4%.
4. Tăng trưởng sản xuất kinh doanh (GDP) kinh tế tư nhân
Tổng sản phẩm trong nước của kinh tế tư nhân tăng trưởng liên tục trong
những năm gần đây. Năm 1996 GDP kinh tế tư nhân đạt 68.518 tỷ đồng, đến năm
2000 lên 86.929 tỷ đồng, tăng bình quân 7%/năm. Tương ứng GDP của hộ kinh
doanh cá thể từ 52.169 tỷ đồng năm 1996 lên 66.142 tỷ đồng năm 2000, tăng bình
quân 7%/năm; của doanh nghiệp từ 14.780 tỷ đồng lên 20.787 tỷ đồng, tăng bình
quân 7,1%/năm. Tốc độ tăng trưởng GDP của kinh tế tư nhân xấp xỉ tốc độ tăng
GDP toàn bộ nền kinh tế.
Năm 2000 khuvực kinh tế tư nhân chiếm 42,3% GDP cả nước. Trong đó GDP
kinh tế tư nhân phi nông nghiệp bằng 63,6% GDP của kinh tế tư nhân và bằng
26,87% GDP cả nước.
II. Những khó khăn, hạn chế trong sản xuất kinh doanh kinh tế tư nhân
1. Khó khăn về vốn, hạn chế về tín dụng
Các hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân nói chung đều rất thiếu vốn
sản xuất. Đến cuối năm 2000 vốn đăng ký kinh doanh khi mới thành lập của các
doanh nghiệp tư nhân bình quân chỉ trên dưới 1 tỷ đồng. Số vốn hoạt động kinh
doanh bình quân là 3,8 tỷ đồng một doanh nghiệp.
Theo báo cáo của các địa phương đều cho rằng kinh tế tư nhân thiếu vốn phải

Môi trường tâm lý xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của kinh tế tư nhân. Trong xã hội còn có phần định kiến đối với kinh tế tư
nhân, chưa nhìn nhận đúng vai trò nhà kinh doanh tư nhân trong xã hội.
4. Khó khăn của bản thân kinh tế tư nhân
Nhìn chung, kinh tế tư nhân còn gặp nhiều khó khăn trong việc duy trì hiệu
quả sản xuất, kinh doanh trong khoảng thời gian dài và đảm bảo sức cạnh tranh cần
thiết, nhất là khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, do: - Kinh tế tư nhân của ta mới ở trình độ thấp của sự phát triển, tổ chức theo
hình thức kinh tế hộ gia đình cá thể còn chiếm tuyệt đại đa số, hình thức doanh
nghiệp của tư nhân tuy đã phát triển mạnh trong thời gian gần đây nhưng vẫn còn ở
quy mô nhỏ là chủ yếu.
- Khả năng tích tụ vốn cũng như huy động nguồn vốn xã hội cho hoạt động
sản xuất, kinh doanh còn thấp, trình độ công nghệ thấp.
- Trình độ và kỹ năng quản lý còn yếu, không thu hút được nhiều lao động có
tay nghề cao được đào tạo cơ bản.
- Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam hầu hết mới thoát thân từ cơ chế bao
cấp, nên còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng mong chờ sự giúp đỡ, che chở của Nhà
nước. Chương III
đổi mới cơ chế chính sách
để phát triển kinh tế tư nhân ở việt nam

I. Xây dựng và thực hiện chính sách khuyến khích, hỗ trợ kinh tế tư nhân

năng suất lao động, khả năng cạnh tranh… đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước
và tăng được hàng xuất khẩu .
Nghị định 45/1998/NĐ-CP quy định cụ thể về chuyển giao công nghệ, khuyến
khích chuyển giao kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ mới.
4. Chính sách thuế, tài chính, kế toán, kiểm toán
 Chính sách thuế
Các chính sách thuế dần được ban hành và áp dụng thống nhất cho các thành
phần kinh tế trong nước. Tuy còn một số hạn chế nhưng những chính sách thuế
doanh thu, thuế lợi tức, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu… bước đầu đã xoá bỏ được
sự cách biệt giữa kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước và hợp tác xã. Từ năm 1999 việc
áp dụng Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và tiếp tục
hoàn thiện các loại thuế khác làm cho chính sách thuế đã thể hiện rõ sự công bằng,
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, khắc phục dần sự chồng chéo về thuế, chính
sách thuế đã khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu.
 . Các quy định về tài chính, kế toán, kiểm toán.
Về chế độ tài chính: Hiện nay, Nhà nước chưa có quy định riêng về chế độ
quản lý tài chính đối với doanh nghiệp tư nhân. Trong thực tế các cơ quan nhà nước
phải vận dụng cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước để áp dụng
quản lý, thanh tra, kiểm tra tài chính đối với các doanh nghiệp của tư nhân.
Về chế độ kế toán đã góp phần tăng cường công tác quản lý tài chính khu vực
này. Tuy nhiên, chế độ kế toán này cũng bộc lộ một số hạn chế như: chưa tách được
các loại vốn ngắn hạn và dài hạn; các quy định về chế độ kế toán chưa đáp ứng
được yêu cầu cung cấp thông tin cho tính toán và xác định nghĩa vụ thuế; chưa thật phù hợp với quy mô và năng lực của doanh nghiệp nên có nhiều khó khăn trong
việc thực hiện; một số chỉ tiêu quá chi tiết nhằm mục đích phục vụ quản lý nhà
nước hơn là phục vụ doanh nghiệp.
5. Chính sách về đào tạo, tiền lương, bảo hiểm xã hội
 Đào tạo nghề cho lao động kinh tế tư nhân

kinh nghiệm thương mại quốc tế, thiếu thông tin toàn diện về thị trường, mặt hàng
và đối thủ cạnh tranh.
II. Các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân
1. Tạo môi trường thuận lợi về thể chế và tâm lý xã hội cho phát triển của
kinh tế tư nhân
- Sửa đổi, bổ sung Luật doanh nghiệp và một số quy định chưa thống nhất
giữa các văn bản pháp luật đã ban hành về những vấn đề liên quan đến kinh tế tư
nhân, theo hướng xoá bỏ phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế; đảm bảo thể
hiện đồng bộ, nhất quán các quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, tính
cụ thể, minh bạch và ổn định của pháp luật; tiếp tục tháo gỡ các khó khăn, vướng
mắc trong luật pháp, thủ tục hành chính.
- Quy định rõ những ngành nghề, lĩnh vực kinh tế tư nhân không được phép
kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện; khi thay đổi các quyết định cần có thời
gian chuyển tiếp và chính sách bổ sung để doanh nghiệp thích ứng, giảm thiểu thiệt
hại cho người kinh doanh. Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà
nước trong đăng ký kinh doanh và quản lý hoạt động của kinh tế tư nhân.
2. Sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, chính sách
Sửa đổi, bổ sung một số cơ chế, bảo đảm sự bình đẳng giữa các thành phần
kinh tế về cơ hội và khả năng lực chọn các điều kiện để phát triển; tiếp tục tháo gỡ
những khó khăn, vướng mắc, sửa đổi những quy định chưa phù hợp với quy mô và
trình độ kinh doanh để kinh tế tư nhân có điều kiện thụ hưởng những chính sách ưu
đãi của Nhà nước đối với các ngành, vùng, các sản phẩm và dịch vụ cần ưu tiên hoặc khuyến khích phát triển, không phân biệt thành phần kinh tế; chú trọng tạo
điều kiện hỗ trợ những doanh nghiệp nhỏ và vừa.
kết luận

5. TS. Hà Huy Thành: Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân - lý
luận và chính sách. Mục lục
Trang
Lời nói đầu 1
Chương I- Đặc điểm chung của nền kinh tế tư nhân 3
I. Đặc điểm kinh tế tư nhân 3
1. Các lĩnh vực kinh tế tư nhân 3
2. Các loại hình tổ chức kinh doanh của kinh tế tư nhân 3
II. Vai trò của kinh tế tư nhân 4
1. Đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước (GDP) 4
2. Đóng góp và huy động các nguồn vốn trong xã hội, nộp ngân sách cho
nhà nước 4
3. Kinh tế tư nhân tạo việc làm và góp phần xoá đói giảm nghèo 5
4. Kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ chế đổi cơ
chế quản lý kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 5
Chương II- Những vấn đề của kinh tế tư nhân hiện nay 5
I. Thực trạng kinh tế tư nhân 6
1. Tình hình tăng trưởng doanh nghiệp 6
2. Vốn đầu tư của kinh tế tư nhân 6
3. Về lao động của kinh tế tư nhân. 7
4. Tăng trưởng sản xuất kinh doanh (GDP) kinh tế tư nhân 8
II. Những khó khăn, hạn chế trong sản xuất kinh doanh kinh tế tư nhân 8
1. Khó khăn về vốn, hạn chế về tín dụng 8
2. Khó khăn về đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh 9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status