Lời nói đầu
Trong hơn thập kỉ qua, tình hình thế giới và trong nớc có những diễn biến
phức tạp tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội . Đặc biệt ngày nay xu hớng
toàn cầu hoá , các nớc trên thế giới cùng hợp tác trao đổi với nhau thúc đẩy nền
văn minh thế giới phát triển bền vững . Để Việt Nam không tụt hậu , kém phát
triển so với các nớc trong khu vực và trên thế giới thì đại hội Đảng VI, Đảng ta đã
xác định thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế kinh doanh theo pháp
luật là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trờng theo định hớng
XHCN cùng phát triển lâu dài hợp tác và cạnh tranh lành mạnh trong đó kinh tế
nhà nớc giữ vai trò chủ đạo , kinh tế nhà nớc và kinh tế tập thể ngày càng trở thành
nền tảng vững chắc .
Trên thực tế trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế vừa qua , khu vực kinh tế t
nhân phát triển góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trởng và phát triển kinh tế đất nớc ,
tạo thêm nhiều việc làm , tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nớc . Vì vậy từ việc
xác định rõ kinh tế t nhân là chiến lợc lâu dài trong việc phát triển kinh tế nhiều
thành phần theo định hớng XHCN .
Vấn đề đặt ra hiện nay là cần nghiên cứu , tìm tòi, lý giải những vấn đề lý
luận và thực tiễn về kinh tế t nhân và làm rõ thêm về quan điểm , cơ chế chính sách
, các giải pháp phát triển kinh tế t nhân vì mục tiêu phát triển mạnh kinh tế đất nớc
trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá , nâng cao nội lực của kinh tế đất n-
ớc trong hội nhập kinh tế quốc tế .
Do việc phát triển kinh tế t nhân là mặt đòi hỏi khách quan và cần thiết nên
em đã chọn đề tài Đổi mới cơ chế , chính sách nhằm khuyến khích phát triển
kinh tế t nhân ở Việt Nam hiện nay .
1
Nội dung
A. Một số lý luận về kinh tế t nhân :
I. Bản chất của kinh tế t nhân và các bộ phận của kinh tế t nhân :
1.Bản chất của kinh tế t nhân
Quan điểm đổi mới kinh tế t nhân đã có một thời gian dài phổ biến quan điểm
đối lập kinh tế t nhân với thành phần kinh tế XHCN. Thực ra kinh tế t nhân là một
thể dựa trên sở hữu tập thể , hình thức hợp tác xã phân phối theo lao động và theo
vốn đóng góp . Hai là kinh tế cá thể tiểu chủ dựa trên cơ sở sở hữu nhỏ và lao
động bản thân ngời sở hữu . Vị trí của nó rất quan trọng ,lâu dài .Ba là kinh tế t bản
t nhân dựa trên sở hữu t nhân t bản chủ nghĩa.Nó có vị trí tác dụng thúc đẩy sự phát
triển của lực lợng sản xuất với hình thức các doanh nghiệp, công ty cổ phần... Tuy
khu vực kinh tế t nhân chỉ gồm ba bộ phận nhng hàm chứa một nội dung rất phức
tạp , đa dạng , trong đó bao gồm cả ngời giầu và ngời nghèo , ngời làm chủ và ngời
làm thuê , ngời bóc lột và ngời bị bóc lột.
3.Vai trò của kinh tế t nhân :
Sự phát triển của kinh tế t nhân thời gian qua đã khơi dậy một bộ phận tiềm
năng của đất nớc cho phát triển kinh tế - xã hội . Vị trí vai trò của kinh tế t nhân
ngày càng đợc thể hiện là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân
thể hiện rõ ở những điểm sau:
Kinh tế t nhân đóng góp vào tăng trởng của tổng sản phẩm trong nứơc(GDP) .
Trong nhiều năm liền kinh tế t nhân và cá thể đóng góp khoảng 35 đến36% GDP
cả nớc . Tổng sản phẩm của kinh tế t nhân tăng ổn định , nhịp độ tăng trởng năm
1997 là 12,89%, năm 1998 là 12,74% , năm 1999 là 7.5% ,năm 2000 là 12,55% và
chiếm tỉ trọng tơng đối ổn định trong GDP . Tuy nhiên năm 2000 có giảm chút ít
so với năm 1996 (từ 28.48% năm 1996 còn 26.87% năm 2000) . Bình quân mỗi
năm trong giai đoạn từ 1991 đến năm 1996 tăng thêm 3940 tỷ đồng chiếm khoảng
5% tổng số vốn đầu t của toàn xã hội và 6,9% vốn kinh doanh của các ngành . Mặc
dù trong những năm đổi mới vừa qua với chính mở cửa , kêu gọi đầu t nớc ngoài
của nhà nớc đã thu hút thêm nguồn FDI ngày một tăng (từ 13,7% tổng số vốn đầu
t phát triển của cả nớc năm1990 lên đến 25% năm 1998 ) nhng kinh tế t nhân
trong nớc vẫn đóng góp lợng vốn đầu t rất đáng kể cho nền kinh tế: 49% tổng lợng
vốn đầu t toàn xã hội năm 1990và trên 21% năm 1998 .Tuy nhiên do sự tham gia
3
và đóng góp của kinh tế t nhân có vốn đầu t nớc ngoài (FDI) nên tỷ trọng GDP của
kinh tế t nhân trong tổng GDP giảm đi chút ít .
Đóng góp và huy động các nguồn vốn trong xã hội , nộp ngân sách cho nhà n-
hộ giađình nông dân , năm 1995 đã thu hút 30820224 lao động ,chiếm 89,10% lao
động toàn xã hội ;đến năm 1998 đã tăng lên 876630 lao động ,chiếm 88,93% lao
động xã hội. Nếu gộp với 1,3% số lao động khu vực doanh nghiệp t bản t nhân thì
tổng số lao động thuộc khu vực kinh tế t nhân chiếm 90,1% tổng số lao động toàn
xã hội ( khu vực nhà nớc chỉ giải quyết việc làm cho khoảng 9% và khu vực có vốn
đầu t nớc ngoài là 0,67%lao động xã hội .Thời điểm 31 tháng 3 năm 2000 số lợng
lao động trong kinh tế t nhân là 4643844 ngời, chiếm 12% tổng lao động xã hội ,
trong 5 năm 1996 - 2000 lao động trong kinh tế t nhân tăng 778.681 ngời (tăng
20,4%) . ở nông thôn lao động đợc thu hút vào hình thức kinh tế hộ và trang trại .
ở thành thị các cơ sở cá thể tiểu chủ kinh doanh trong thơng mại dịch vụ thủ công
nghiệp là những nơi tạo ra khá nhiều chỗ làm việc mới với suất đầu t rất thấp. Các
doanh nghiệp t nhân chứng tỏ khả năng lớn trong tạo việc làm về tổng thể , số lợng
lao động trong các doanh nghiệp t nhân tăng 16,2% năm 1998 so với 0,3% trong
các doanh nghiệp nhà nớc .Đây thực sự là khu vực kinh tế có vai trò quan trọng
trong việc tạo việc làm cho lao động xã hội cả hiện tại và trong tơng lai .
Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế xã hội , thúc
đẩy chuyển dịch kinh tế. Sự phát triển của kinh tế t nhân góp phần thu hút ngày
càng nhiều lao động ở nông thôn và các ngành phi nông nghiệp nhất là công
nghiệp đã giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế nhiều địa phơng . Trình độ sản xuất kinh
doanh của kinh tế t nhân ngày càng tiến bộ hơn , số lợng hàng hoá tham gia xuất
khẩu ngày càng tăng . Tháng 9 năm 2001 đạt 2.189.330.000 USD. Nhiều doanh
ngiệp t nhân đã xuất khẩu những sản phẩm từ hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm
chế biến... vì thế khu vực ngoài quốc doanh trong nớc từ chỗ chỉ chiếm 11% giá trị
xuất khẩu vào năm 1997 nhng đến năm 2002 tăng 31%. Gía trị nhập khẩu từ mức
khoảng 5% lên 24%.
Ngoài ra,kinh tế t nhân còn huy động các nguồn lực trong dân để phát triển
kinh tế vì quốc tế, dân sinh ,phát triển kinh tế t nhân trong giai đoạn hiên nay còn
có ý nghĩa chính trị sâu sắc và cấp thiết .Tạo sự đồng thuận giữa Đảng, nhà nớc và
nhân dân;tạo sự đoàn kết thống nhất trong nhân dân nhằm phát huy sức mạnh đại
đoàn kết dân tộc vì dân giâù nớc mạnh xã hội công bằng văn minh . Và góp phần
kinh tế cá thể, tiểu chủ.Các doanh nghiêp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn
công ty cổ phần có sự phát triển vợt bậc về số lợng: Năm 1991 có 414 doanh
nghiệp năm 1992 có 5198 doanh nghiệp . Tính bình quân giai đoạn từ năm 1991
6
đến năm 1998 mỗi năm tăng lên 3252 doanh nghiệp (32%). Năm 1999 luật doanh
nghiệp đợc thông qua nên số lợng tăng lên 13.500 doanh nghiệp , năm 2001 có
thêm 21.040 doanh nghiệp . Qua số liệu đó đã nói lên sức vơn lên mạnh mẽ của
kinh tế t nhân trong những năm vừa qua . Song bên cạnh đó có những giai đoạn
phát triển chậm lại giảm số lợng nh năm 1996 hay năm 1997 đến năm 1998 ,.. Do
tác động của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và một phần do yếu kém của
doanh nghiệp.
Thứ hai là sự phát triển của khu vực kinh tế t nhân theo ngành nghề sản xuất
kinh doanh.Vào năm 1995 năm thì dịch vụ thơng mại chiếm tỷ trọng cao nhất
1.882.792 cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ thì đã có 94.994 cơ sở kinh doanh thơng
mại Trong những năm gần đây xu thế đó vẫn đợc duy trì và có chiều hớng tập
trung vào lĩnh vực dịch vụ và sản xuất nông nghiệp . Năm 1997 , 1998 có 2,2 triệu
hộ cá thể, tiểu chủ , trong đó dịch vụ bán buôn ,bán lẻ lớn hơn là 1,2 triệu chiếm
55%, công nghiệp xây dựng là 527.000 chiếm 26,3%, nông nghiệp 369000 chiếm
18.8% năm 1991 đến năm 1996 có 17.492 cơ sở trong đó thong mại dịch vụ có
6.802 cơ sở chiếm 39% công nghiệp có 6.105 cơ sở chiếm 35% các dịch vụ khác
có 4.534 cơ sở chiếm 26% năm 1995 đến năm 1996 trong tổng số 1.439.683 kinh
tế thuộc khu vực kinh tế t nhân thơng nghiệp chiếm từ 23 đến 43%, công nghiệp
chế biến 22 đến 32%, khách sạn nhà hàng chiếm 13%, thông tin liên lạc chiếm 2
đến 7,5% .
Xu hớng tập trung vào thơng mại dịch vụ không chỉ tập trung vào mặt số lợng,
cơ cấu loại hình doanh nghiệp mà còn thể hiện qua cơ cấu vốn đầu t và số lợng lao
động sử dụng , doanh thu , nộp thuế : năm 1996 có 170.495 tỷ đồng vốn kinh
doanh trong đó thơng nghiệp chiếm 38,3%, công nghiệp chế biến chiếm 27%...Đối
với trong lĩnh vực sản xuất kinh tế t nhân chiếm tỷ trọng thấp, tiềm lực còn nhỏ bé,
dễ bị tác động của cạnh tranh cơ chế t nhân. Năm 1998 khối sản xuất của khu vực
do cơ chế chính sách điều hành vĩ mô của nhà nớc tỏ ra cha phù hợp. Năm 1995
kinh tế cá thể tăng 10% nhng năm 1996 còn 7% năm 1997 còn 6%.
Mặc dù vậy thành tựu phát triển kinh tế t nhân gắn liền với cuộc đổi mới là to
lớn và rất có ý nghĩa tạo tiền đề quan trọng cho bớc phát triển của đất nớc trong thế
kỉ 21.
II.Thực trạng cơ chế chính sách đối với kinh tế t nhân .
8
Một thời gian trớc đây Đảng và Nhà nớc ta đã không chủ trơng khuyến khích
phát triển khu vực kinh tế t nhân , bởi vậy việc tích luỹ vốn trau dồi kinh nghiệm
kinh doanh trong cơ chế thị trờng và mở rộng quan hệ quốc tế của các doanh ngiệp
này gần nh không có. Nếu có cũng chỉ là tự các doanh nghiệp có vốn thành lập nh-
ng bị hạn chế nên hoạt động không đạt hiệu quả cao.
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trờng nhà nớc đã ban hành nhiều chính sách
luật doanh nghiệp , luật công ty , luật khuyến khích đầu t trong nớc ... nhằm tạo
hành lang pháp lý và môi trờng thuận lợi cho khu vực kinh tế t nhân phát triển. Bớc
đầu đã thu đợc những kết quả cao. Kinh tế t nhân ngày càng khẳng định vai trò
quan trọng của mình . Nó không ngừng phát triển. Hơn nữa các chính sách của nhà
nớc không chỉ dừng lại ở đó mà liên tục có những thay đổi để phù hợp hơn và kích
thích các doanh nghiệp đầu t phát triển .Nh các chính sách khuyến khích t nhân
đầu t vào các ngành nghề thúc đẩy nền kinh tế t nhân phát triển theo định hớng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Để thực hiện đợc vấn đề đó Đảng, Nhà nớc đã có những chính sách u đãi bao
gồm ; chính sách tín dụng ngân hàng , chính sách thuế , chính sách đất đai ,
khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu , chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực ,
chính sách lao động tiền lơng ...
Một số chính sách cụ thể quan trọng thúc đẩy kinh tế t nhân phát triển . Về
chính sách đất đai trong những năm gần đây Nhà nớc có chính sách xây dựng
những khu công nghiệp với cơ sở hạ tầng cần thiết, có giá cả phù hợp để khuyến
khích các doanh nghiệp .Doanh nghiệp t nhân đợc dùng giá trị quyền sử dụng đất
để thế chấp vay vốn ngân hàng hoặc góp cổ phần liên doanh trong nớc và nớc
quan còn lâu , thời gian hoàn thành một thơng vụ xuất nhập hàng qua hải quan
dài ... gây khó khăn cho các doanh nghiệp , một phần nó kìm hãm sự phát triển của
kinh tế t nhân .
Về chính sách hỗ trợ thông tin, xúc tiến thơng mại .Nhà nớc có cơ chế và ph-
ơng tiện bảo đảm cho khu vực kinh tế t nhân nhận đợc những thông tin cần thiết về
luật pháp chính sách , kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của đất nớc , của ngành ,
các vùng , các thông tin dự báo về các ngành , các sản phẩm trong nớc và trên thế
giới , các dự án phát triển có nguồn vốn từ ngân sách nhà nớc và các nguồn vốn
đầu t nớc ngoài . Nhà nớc khuyến khích và hỗ trợ hộ kinh doanh , doanh nghiệp
của t nhân và các hiệp hội đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thơng mại ở cả thị trờng
trong và ngoài nớc.
10
Về chính sách thuế gần đây đã có nhiều thay đổi theo hớng đơn giản , dễ tính
dễ thực hiện nhng các doanh nghiệp cho rằng vấn đề không phải ở mức thuế quá
cao mà là ở chỗ có quá nhiều loại thuế và mức thuế . Chẳng hạn doanh nghiệp t
nhân , phải nộp ba loại thuế chính : thuế doanh thu , thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế
lợi tức. Với mỗi loại thuế thuế suất lại khác nhau cho từng loại hình kinh doanh và
nhóm mặt hàng thuế suất doanh thu lại dao động từ 0% đến 40%, thuế suất lợi tức
từ 25% đến 45%. Chính vì có nhiều loại thuế và nhiều mức thuế suất khác nhau đã
tạo ra sự tuỳ tiện cho việc định mức thuế, gây phứp tạp cho doanh nghiệp .Từ năm
1998 chính phủ có áp dụng thuế VAT nhng vì cha chuẩn bị chu đáo, cha tính toán
hết những khó khăn khi áp dụng loại thuế mới này nên đến nay bộ tài chính và sở
tài chính đã ban hành tới hơn 200 văn bản hớng dẫn. Điều này càng làm cho việc
áp dụng thuế VAT đối với các doanh nghiệp t nhân trở nên phức tạp gây khó khăn
cho doanh nghiệp . Ngoài ra còn thiếu các tổ chức hỗ trợ thị trờng hoặc có thì cũng
yếu cụ thể là toà án, các cơ quan thông tin đại chúng, các dịch vụ kế toán, các tổ
chức xúc tiến thơng mại, các trờng đại học , các cơ sở đào tạo, các hiệp hội ngành
nghề, các kênh thông tin từ bên ngoài và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cho các
doanh nghiệp t nhân còn thiếu và rất yếu, cha đóng vai trò hỗ trợ giúp đỡ kinh tế t
nhân tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trờng.
nghiệp mới và 150.000 hộ kinh doanh cá thể thành lập , có khoảng 500 công ty cổ
phần mới đợc thành lập ; năm 2001 đã có thêm 21.040 doanh nghiệp đăng kí hoạt
động theo luật doanh nghiệp tăng 1,46 lần so với năm 2000 ; tổng số vốn huy động
đợc của các doanh nghiệp đạt khoảng 35.500 tỷ đồng , tăng gấp 1,78 lần so với
cùng kì năm 2000 , trong đó vốn đăng kí mới là 26500 tỷ đồng và vốn đăng kí bổ
sung là 9000 tỷ đồng . Qua đó ta thấy đợc rằng từ khi đổi mới số lợng doanh
nghiệp đăng kí kinh doanh ngày càng tăng tạo tiền đề quan trọng và thúc đẩy kinh
tế t nhân phát triển . Nh vậy ta có thể khẳng định đợc rằng luật doanh nghiệp là bớc
tiến quan trọng trên con đờng tạo lập môi trờng pháp lý thuận lợi cho sản xuất kinh
doanh nói chung và phát triển kinh tế t nhân nói riêng . Tuy nhiên cho đến nay ,
mặc dù các doanh nghiệp đã đợc tạo điều kiện tốt nhất nhng hệ thống văn bản pháp
lý liên quan đến các hoạt động của các pháp nhân kinh tế vẫn cha đợc thống nhất
và còn phân biệt theo hình thức sở hữu . Chẳng hạn doanh nghiệp nhà nớc hoạt
động theo luật doanh nghiệp nhà nớc ; hợp tác xã hoạt động theo luật hợp tác xã ;
doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài hoạt động theo luật đầu t nớc ngoài tại Việt
Nam ; doanh nghiệp t nhân , công ty cổ phần công ty trách nhiệm hữu hạn , cơ sở
sản xuất kinh doanh cá thể hoạt động theo luật doanh nghiệp và nghị định của
12