ĐỔI MỚI KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ NHẰM THÚC ĐẨY
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
RENOVATING LAW FRAMEWORK IN ORDER TO PROMOTE
THE DEVELOPMENT OF PRIVATE ECONOMIC SECTOR
LÊ THẾ GIỚI
Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Kinh tế tư nhân là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam. Từ năm 1999, sau khi Luật doanh nghiệp được ban hành, hoạt động của khu vực
kinh tế tư nhân đã có những bước phát triển cả về số lượng doanh nghiệp, vốn đầu tư và hiệu
quả hoạt động. Tuy nhiên, vẫn còn những rào cản pháp lý gây trở ngại cho quá trình phát triển
của các doanh nghiệp tư nhân. Bài viết phân tích thực trạng của khu vực kinh tế tư nhân và
những bất cập của khuôn khổ pháp lý cần được điều chỉnh nhằm thúc đẩy sự phát triển của
khu vực kinh tế năng động này.
ABSTRACT
The private economic sector is a motive power for the development of the socialist economic-
oriented market in Vietnam. Since 1999, after the promulgation of the law of enterprises, the
operations of the private economic sector have significantly developed in terms of the number of
enterprises, investment capital and operational effectiveness. However, the legal barriers still
cause some difficultíes to the development of this sector. This paper focuses on analysing the
current situation of this sector as well as insufficiency of the law framework which has been
adjusted to encourage the development of this dynamic sector.
1. Đặt vấn đề
Trong thời gian qua, cùng với sự hoàn thiện của các thể chế thị trường, sự đổi
mới của cơ chế quản lý và sự khơi thông của môi trường kinh doanh, hoạt động của
các doanh nghiệp ngày càng khởi sắc, tinh thần kinh doanh được cổ vũ, tư duy và sức
sáng tạo về ý tưởng kinh doanh được khuyến khích, các phương thức tổ chức kinh
doanh hiện đại được áp dụng đã đem lại nhiều lợi ích hơn cho người tiêu dùng và cơ
hội phát triển cho các doanh nghiệp. Điều này góp phần thúc đẩy sự phát triển của khu
vực kinh tế tư nhân - một khu vực kinh tế năng động, sáng tạo, hiệu quả và có tính cạnh tranh
thực đạt 48 triệu tấn với tổng kim ngạch 10,2 tỉ USD; nhiều sản phẩm xuất khẩu đứng hàng đầu
thế giới (thứ nhất về hạt tiêu, thứ hai về gạo, cà phê, hạt điều, thứ tư về cao su).
Tỷ trọng đầu tư của dân cư và doanh nghiệp trong nước trong tổng đầu tư toàn xã hội đã
tăng từ 19,5% năm 2000 lên 23,5% năm 2001; 25,3% năm 2002, gần 27% năm 2003 và 34,2 %
năm 2005. Tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân trong nước liên tục tăng và đã vượt tỷ
trọng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), gần bằng tổng vốn đầu tư của DNNN và tín
dụng nhà nước. Riêng ở thành phố Hồ Chí Minh đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân năm
2002 đã chiếm 38% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội, cao hơn tỷ trọng vốn đầu tư của DNNN và
ngân sách nhà nước gộp lại (36,5%).
Vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân đã đóng vai trò quan trọng, thậm chí là nguồn
vốn đầu tư chủ yếu đối với phát triển kinh tế địa phương. Loại hình kinh tế tư nhân đang chiếm
gần 50% GDP của cả nước và chiếm 27% tổng vốn đầu tư trong nền kinh tế, thu hút hơn 90%
tổng số lao động và đang được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Một nét đặc trưng trong đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân là: trong khi FDI thường
đến với các địa phương có đặc thù riêng hoặc có vị trí địa lý thuận lợi, thì đầu tư tư nhân trong
nước xuất hiện ở tất cả các vùng với những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Vốn đăng ký
mới ở tất cả các tỉnh, thành phố trong thời kỳ 2000-2005 đều cao hơn số vốn đăng ký thời kỳ
1991-1999. Trong đó, có 33 tỉnh, thành phố đạt tốc độ tăng cao gấp 4 lần; có 11 tỉnh đạt tốc độ
tăng cao hơn 10 lần. Ngay cả ở các địa phương tập trung đại bộ phận vốn đầu tư nước ngoài, thì
trong mấy năm gần đây, vốn đầu tư thực hiện của tư nhân trong nước cũng lớn hơn vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài. Thực tế nói trên cho thấy đối với đại bộ phận các tỉnh, thì thu hút đầu tư
tư nhân trong nước là việc dễ làm và khả thi hơn so với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo điều tra của Tổng cục thống kê, số doanh nghiệp đăng ký đang hoạt động tính đến
cuối năm 2002 là 62.908, cuối năm 2003 là 72.012, tức là khoảng 55% so với số doanh nghiệp
đã đăng ký. Ở các nước phát triển của tổ chức OECD tỷ lệ doanh nghiệp còn hoạt động sau 2
năm vào khoảng 60-70%, và sau 7 năm chỉ còn 40-50%.
Số doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể mới thành lập kết hợp với số doanh nghiệp mở
rộng quy mô và địa bàn kinh doanh trong gần 4 năm qua đã tạo thêm gần 2 triệu chỗ làm việc
mới; đưa tổng số lao động làm việc ở khu vực kinh tế tư nhân và hộ kinh doanh cá thể lên đến
các qui định, đặc biệt là các văn bản liên quan trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp
như pháp luật về quyền sử dụng đất, pháp luật về huy động vốn, pháp luật về lao động, pháp
luật về thuế, nhất là cách thức tính thuế và thu thuế, ... Trình tự, thủ tục và điều kiện đăng ký
kinh doanh ở một số địa phương đối với một số ngành, nghề qui định còn trái với Luật doanh
nghiệp; hiện tượng can thiệp hành chính trái pháp luật vào công việc nội bộ của doanh nghiệp
còn khá phổ biến. Theo báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh 2006 của Ngân hàng thế giới,
Việt Nam tụt sáu bậc so với năm 2004, chỉ xếp thứ 104 trong số 175 nền kinh tế. Theo báo cáo
này, để khởi sự kinh doanh, nhà doanh nghiệp phải thực hiện 11 bước thủ tục, mất 50 ngày và
một khoản chi phí tương đương 454,5% thu nhập bình quân đầu người; để được cấp phép phải
trải qua 14 khâu thủ tục và 133 ngày.
Các qui định luật pháp chưa theo kịp sự phát triển của hoạt động kinh doanh, các văn bản
được ban hành quá nhiều và nhanh, đôi khi lại thiếu nhất quán, đã gây lúng túng cho các doanh
nghiệp trong việc nhận thức và ứng xử cho phù hợp với những thay đổi của luật pháp. Các qui
định này hoặc quá phức tạp đòi hỏi phải giải thích bằng nhiều văn bản, hoặc quá chi tiết gây
khó khăn trong việc xử lý các vấn đề cụ thể dẫn đến sự thiếu nhất quán trong cách thức giải
quyết giữa các cấp chính quyền, các địa phương và các cơ quan Nhà nước.
Chẳng hạn, ở các địa phương việc vận dụng luật thuế thu nhập công ty để khuyến khích
đầu tư là rất khác nhau, hay trách nhiệm về chi phí và chế độ cho việc giải toả đền bù không
thống nhất cũng gây khó khăn đối với việc tiếp cận nguồn lực đất đai của các doanh nghiệp.
Các nghiên cứu gần đây của Dự án "Sáng kiến năng lực cạnh tranh Việt Nam" (VNCI-
USAID, 2004) cho thấy có sự khác biệt lớn về môi trường kinh doanh và chênh lệch về mức độ
tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân giữa các địa phương. Sự chênh lệch này không chỉ do
sự khác nhau giữa các địa phương về điều kiện cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận thị trường, đất
đai, tài chính, nhân lực và mức độ áp dụng công nghệ thông tin, mà chủ yếu là do sự khác nhau
về vai trò quản lý của chính quyền địa phương và môi trường pháp lý của từng địa phương.
Một số địa phương đã áp dụng các chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư. Nhưng thực
tiễn cho thấy chính tính tích cực, năng động và sáng tạo của chính quyền địa phương trong việc
hoạch định và thực thi các chính sách quản lý nguồn lực mới có vai trò ảnh hưởng trực tiếp tới
khả năng thu hút đầu tư của địa phương.
Chính sách ưu đãi không phải là biện pháp tốt nhất để khuyến khích đầu tư và phát triển
Hệ thống pháp luật thiếu rõ ràng, cùng với cơ chế vận hành không hợp lý là điều kiện để
tính không minh bạch phát sinh trong từng doanh nghiệp. Hệ quả là tính không minh bạch trong
các doanh nghiệp lại gây nên những khó khăn cho sự phát triển của chính các doanh nghiệp đó
và làm cản trở quá trình quản lý của các cơ quan công quyền. Đó là sự giảm sút niềm tin của
các nhà cấp vốn đối với các doanh nghiệp tư nhân, sự thiếu tin tưởng của các cơ quan công
quyền khi cấp phép, xử lý các vấn đề luật pháp và thể chế phát sinh trong hoạt động của các
doanh nghiệp. Sự thiếu rõ ràng của khuôn khổ luật pháp và các thể chế, cùng với tâm lý không
tin tưởng của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp tư nhân là nguyên nhân
chủ yếu làm tăng các cuộc kiểm tra và kéo dài thời gian xử lý công việc.
Chính vì thế, đơn giản hoá thủ tục, rút ngắn thời gian đăng ký kinh doanh và khởi sự
doanh nghiệp cũng như sự dễ hiểu của hệ thống luật pháp là những điều kiện cực kỳ quan trọng
ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân.
4. Những đổi mới cần thiết về khuôn khổ pháp lý nhằm tiếp tục thúc đẩy phát triển khu
vực kinh tế tư nhân
1) Xây dựng các qui định có tính pháp lý nhằm phân biệt rõ ràng hoạt động đầu tư, tổ
chức sản xuất kinh doanh và quản lý nhà nước. Xây dựng cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin
giữa cơ quan công quyền và doanh nghiệp, cụ thể hóa thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ
quan công quyền trong hỗ trợ và quản lý nhà nước đối với hoạt động của các doanh nghiệp tư
nhân.
Thể chế hoá vai trò của chính quyền địa phương, tập trung vào những yếu tố có ảnh
hưởng quan trọng đến kết quả đầu tư và phát triển của doanh nghiệp tư nhân: tính năng động,
tính thân thiện, tính minh bạch và sự cam kết ủng hộ phát triển doanh nghiệp tư nhân. Nó
không chỉ đơn thuần là việc thực thi linh hoạt chính sách của Trung ương hay cố gắng tạo thuận
lợi, giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp. Về thực chất, tính năng động của địa phương
chính là thái độ của chính quyền đối với việc phát triển kinh tế tư nhân, thể hiện qua hai khía
cạnh: (1) sự phối hợp giữa các cơ quan ở địa phương để tạo điều kiện cho hoạt động của doanh
nghiệp; (2) hợp tác với doanh nghiệp tìm cách giải quyết các vướng mắc không rõ ràng về văn
bản luật pháp, cho phép thực thi thí điểm và nếu thành công qua thực tế sẽ được thể chế hóa
bằng văn bản luật pháp. Chính sách "một cửa, một dấu" mà Bình Dương và Đà Nẵng thực hiện
là những minh họa điển hình cho cho sự sáng tạo này.