A. Lời mở đầu
Việt Nam trong công cuộc đổi mới đã thực sự đem lại nhiều kết quả to lớn
làm thay đổi bộ mặt đất nớc và cuộc sống nhân dân, củng cố vững chắc độc lập
dân tộc và chế độ XHCN, nâng cao vị thế và uy tín nớc ta trên trờng quốc tế. Nhân
tố quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới đó là chiến lợc
phát triển KTTT theo định hớng XHCN đợc khởi xớng từ sau đại hội Đảng lần thứ
VI.
Sự phát triển của chính trị, luật pháp, văn hoá, nghệ thuật đều dựa trên cơ sở
phát triển kinh tế. Kinh tế là nền tảng vững chắc cho mọi hoạt động vật chất của
con ngời, là yếu tố quan trọng nhất của đời sống xã hội. Chính vì tầm quan trọng
của kinh tế và mục tiêu đa đất nớc ta thoát khỏi tình trạng nghèo khổ, lạc hậu vơn
lên sánh ngang hàng với các nớc trong khu vực nên nội dung cơ bản của đờng lối
đổi mới kinh tế nhất quán từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (12-1986) cho đến nay
là phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN có nhiều thành phần kinh tế
tham gia, đẩy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc và chủ động hội nhập
Quốc tế. Trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta, kinh tế t nhân là vấn đề khá
nhạy cảm bởi nó không chỉ có hình thức sở hữu là t nhân mà còn liên quan đến
quan điểm, nhận thức, tâm t tình cảm, lợi ích của mọi ngời và nhất là kinh tế t
nhân mang hình bóng của CNTB. Vì vậy, để ứng dụng vào nớc ta- một nớc XHCN
nh một thành phần kinh tế đòi hỏi phải có chính sách, chiến lợc cụ thể hớng thành
phần kinh tế này đi theo định hớng XHCN, góp phần phát triển đất nớc.
Qua thực tiễn gần 20 năm đổi mới, những thành tựu về đổi mới t duy lí luận
cũng nh thực tiễn hoạt động của khu vực kinh tế t nhân đợc Hội nghị ban chấp
hành Trung ơng lần thứ V khoá IX của Đảng khẳng định rõ trong nghị quyết "về
tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh
tế t nhân".
Nghiên cứu đề tài "Đổi mới cơ chế chính sách nhằm khuyến khích phát
triển kinh tế t nhân ở Việt Nam hiện nay" sẽ giúp chúng ta hiểu một cách sâu
sắc hơn, bản chất hơn những vấn đề xung quanh việc phát triển kinh tế t nhân ở
Việt Nam và những vấn đề có liên quan.
đó đề ra chủ trơng củng cố thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm cả khu
vực quốc doanh và khu vực tập thể một cách toàn diện, cả về chế độ sở hữu, chế
độ quản lí, chế độ phân phối, làm cho thành phần kinh tế này giữ vai trò chi phối
trong nền kinh tế quốc dân...Bằng các biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng
của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và dới sự chỉ đạo của
thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa". Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ: lực lợng sản
xuất bị kìm hãm không chỉ trong trờng hợp quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi
quan hệ sản cuất phát triển không đồng bộ, có những yếu tố đi quá xa so với trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất. Tình hình thực tế của nớc ta đòi hỏi phải coi
trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ
lên quy mô lớn. Do vậy, nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trng
của thời kì quá độ.
1.1.2 Khái niệm về thành phần kinh tế.
Thành phần kinh tế là khái niệm lý thuyết của kinh tế chính trị học. Khái
niệm thành phần kinh tế ban đầu đợc các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác Lênin sử
- 3 -
dụng nh một công cụ lý luận dùng để thể hiện cấu trúc của một xã hội trong đó
bao gồm nhiều mảng đại diện cho các phơng thức sản xuất khác nhau đang cùng
tồn tại.
Nh vậy khái niệm "Thành phần kinh tế" nh những bộ phận của các phơng thức
sản xuất khác nhau cùng tồn tại ở một xã hội mà trong đó phơng thức sản xuất của
giai cấp thống trị giữ vai trò chủ đạo, còn các phơng thức sản xuất khác đan xen
với nhau để hình thành một thể thống nhất vừa đấu tranh vừa hợp tác xoay quanh
phơng thức sản xuất chủ đạo.
1.1.3 Chính sách nhất quán của Đảng ta trong việc thực hiện nền kinh tế
nhiều thành phần.
Ngay khi đất nớc ta tiến hành cải cách nền kinh tế, xoá bỏ cơ chế tập trung
quan lieu bao cấp sang nền kinh tế thị truờn định hớng XHCN, Đảng ta đã nhất
quán thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần trong đó thành phần kinh tế nhà nớc
giữ vai trò chủ đạo. Đại hội Đảng lần thứ VII đã khẳng định: "phát triển kinh tế
- Phát triển kinh tế t nhân theo đúng pháp luật. Giữ vững vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nớc và kinh tế tập thể trong nền kinh tế nhiều thành phần.
- Nhà nớc hỗ trợ. định hớng. dẫn dắt và bảo hộ phát trỉên kinh tê t nhân trong
mối quan hệ bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động.
- Khuyến khích t nhân liên kết, liên doanh với kinh tế nhà nớc, kinh tế tập thể.
- Chăm lo, bồi dỡng giáo dục cho các doanh nghiệp, nâng cao lòng yêu nớc,
tự hào dân tộc, kinh doanh theo đúng pháp luật, đóng góp hợp lí vào các
hoạt động xã hội.
2. Các bộ phận của kinh tế t nhân.
Nội dung cơ bản của đờng lối đổi mới kinh tế nhất quán từ đại hội VI của
đảng tháng 12 năm 1986 cho đến nay là phát triển nền kinh tế thị trờng theo định
hớng XHCN, có nhiều thành phần kinh tế tham gia đẩy mạnh công nghiệp hoá
hiện đại hoá và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Những nội dung cơ bản đã nêu
có mối quan hệ gắn bó, tác động và thúc đẩy lẫn nhau trong đó chính sách kinh tế
nhiều thành phần là một nội dung quan trọng, vừa có ý nghĩ kinh tế, vừa có ý
nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc.
Hiện nay Việt Nam có các thành phần kinh tế sau :
- Kinh tế nhà nớc
- Kinh tế tập thể
- Kinh tế cá thể tiểu chủ
- Kinh tế t bản t nhân
- Kinh tế t bản nhà nớc
- Kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài .
- 5 -
Nghị quyết hội nghị lần thứ V ban chấp hành trung ơng khoá IX về phát triển
kinh tế t nhân đề cập đến kinh tế t nhân bao gồm hai thành phần kinh tế là kinh tế
cá thể tiểu chủ và kinh tế t bản t nhân. Đó là các loại hình kinh tế dựa trên sở hữu
t nhân về t liệu sản xuất với lao động của bản thân ngời chủ sản xuất và lao động
làm thuê hoặc hoàn toàn thuê lao động, có các quy mô khác nhau về vốn, lao
định nhất quán chủ trơng phát triển kinh tế t bản t nhân, bình đẳng với các thành
phần kinh tế khác. Khuyến khích kinh tế t bản t nhân đầu t vào sản xuất, bảo vệ
quyền sở hữu và lợi ích hợp lí, tạo điều kiện thuận lợi và củng cố lòng tin cho các
nhà t bản đầu t phát triển.
3. Kinh tế t nhân có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trờng định hớng
XHCN.
Trớc đây khu vực kinh tế t nhân không đợc thừa nhận, bị coi là đối tợng của
cách mạng XHCN, phải đợc cải tạo xoá bỏ. Từ đờng lối đổi mới (Đại hội VI của
Đảng tháng 12.1986) khẳng định xây dựng, phát triển nền kinh tế nớc ta với cơ
cấu nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế tồn tại lâu dài. Nghị quyết
trung ơng VI (khoá VI) ghi rõ: chính sách kinh tế `nhiều thành phần có ý nghĩa
chiến lợc lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN và thể
hiện tinh thần dân chủ về kinh tế , t nhân đợc kinh doanh không hạn chế về quy
mô, địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Quan
điểm, chủ trơng nhất quán kể trên đã đợc ghi nhận trong hiến pháp 1992 công
dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, "kinh tế cá thể, kinh
tế t bản t nhân đợc chọn hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, đợc thành lập
doanh nghiệp không bị hạn chế mô hình hoạt động trong những ngành nghề có lợi
cho quốc tế dân sinh . Các đại hội Đảng lần thứ VII, lần thứ VIII và lần thứ XI
đều tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Đại hội XI còn nhấn mạnh thêm: kinh tế t
nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền KTQD. Phát triển kinh tế t nhân là
vấn đề chiến lợc lâu dài kinh tế t bản t nhân đợc nhà nớc tạo điều kiện thuận lợi
để phát triển rộng rãi ở những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luật
không cấm.
Sự phát triển của kinh tế t nhân thời gian qua đã khơi dậy một bộ phận tiềm
năng của đất nớc cho phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn tiềm năng này là trí tuệ,
kinh nghiệm, khả năng kinh doanh, quan hệ xã hội, tiền vốn, sức lao động của con
- 7 -
ngời; tài nguyên, thông tin và các nguồn lực khác. Những nguồn lực này chủ yếu
là trong nớc nhng có một số không ít cá nhân sử dụng vốn của gia đình ở nớc
việc mới đã góp phần thu hút nhiều lao động trong xã hội nhất là số ngời trẻ tuổi
hàng năm đến tuổi lao động cha có việc làm, giải quyết số dôi d từ các cơ quan,
- 8 -
doanh nghiệp nhà nớc do tinh giảm biên chế và giải thể. Khu vực kinh tế t nhân đã
góp phần đáng kể vào việc xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân ở khu
vực thành thị và nông thôn. Thu nhập của ngời lao động trong khu vực kinh tế t
nhân có mức thu nhập tơng đơng hoặc cao hơn thu nhập của những ngời lao động
trồng lúa ở nông thôn cùng địa bàn .
3.4 Khu vực kinh tế t nhân góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ chế
chuyển đổi cơ chế quản lí kinh tế- xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Sự phát triển của kinh tế t nhân đã đặt ra những yêu cầu mới thúc đẩy hoàn
thiện thể chế kinh tế thị trờng định hớng XHCN. Đã xuất hiện nhiều doanh nhân
kinh doanh thành đạt đa doanh nghiệp của mình phát triển, cải thiện đợc đời sống
của ngời lao động, đóng góp ngày càng nhiều cho xã hội, đợc xã hội tôn vinh. Sự
phát triển của khu vực kinh tế t nhân góp phần thu hút ngày càng nhiều lao động ở
nông thôn vào các ngành phi nông nghiệp nhất là công nghiệp đã giúp chuyển đổi
cơ cấu kinh tế từng địa phơng, góp phần chuyển dich cơ cấu kinh tế đất nớc. Trình
độ sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế t nhân ngày càng tiến bộ hơn, số lợng
hàng hoá tham gia xuất khẩu ngày càng tăng. Nhiều sản phẩm của khu vực kinh tế
t nhân đợc xuất khẩu uỷ thác qua doanh nghiệp nhà nớc và doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài. Khu vực kinh tế t nhân còn tham gia nhiêu công đoạn trong quá
trình sản xuất hàng xuất khẩu. Xuất khẩu trực tiếp của khu vực kinh tế t nhân đến
nay đã tăng khá, 9 tháng đầu năm 2001 đạt 2.189.330.000 USD. Các doanh nghiệp
t nhân đã tham gia tích cực vào xuất nhập khẩu trực tiếp, đến năm 2000 số doanh
nghiệp t nhân tham gia xuất khẩu trực tiếp tăng lên 16.200 doanh nghiệp. Nhiều
doanh nghiệp t nhân đã xuất khẩu đợc những sản phẩm từ hàng thủ công mỹ nghệ,
thực phẩm, thực phẩm chế biến đến cả rơm sạch là những mặt hàng mà các doanh
nghiệp khu vực nhà nớc cha quan tâm đến. Vì thế khu vực ngoài quốc doanh trong
nớc từ chỗ chỉ chiếm 11% giá trị xuất khẩu vào năm 1997 nhng đến quý 1/2002 đã
tăng lên khoảng 31%.
1.2 Kinh tế t nhân thời kì cải tạo xã hội nền kinh tế (1958-1960) và tới năm
1976.
Trên cơ sở thắng lợi của thời kì khôi phục và phát triển kinh tế (1955-1957),
miền Bắc bớc vào thực hiện kế hoạch 3 năm cải tạo XHCN với các thành phần
kinh tế ngoài quốc doanh. Quốc hội thông qua kế hoạch 3 năm phát triển và cải
- 10 -
tạo kinh tế phát triển văn hoá (1958-1960). Nội dung chủ yếu của công cuộc cải
tạo XHCN đặt ra trong thời kì này là biến nền kinh tế nhiều thành phần thành nền
kinh tế XHCN. Nền kinh tế XHCN gồm hai hình thức sở hữu chủ yếu là quốc
doanh và tập thể. Kinh tế cá thể và kinh tế t bản t doanh là đối tợng trực tiếp của
công cuộc cải tạo này. Tuy nhiên, kinh tế t nhân vẫn tồn tại dới hình thức kinh tế
cá thể. Tỉ trọng lao động trong khu vực kinh tế t nhân tuy đã giảm nhiều nhng vẫn
còn chiếm giữ một tỉ lệ đáng kể. Thờng xuyên có khoảng 50-80 nghìn ngời lao
động trong khu vực này. Cũng trong thời gian này số ngời buôn bán nhỏ và kinh
doanh dịch vụ cũng thờng xuyên ở mức trên dới 20 vạn ngời.
1.3 Kinh tế t nhân thời kì 1976-1985.
Sau đại thắng của cuộc tiến công mùa xuân năm 1975, đất nớc thống nhất,
công cuộc phát triển kinh tế và cải tạo quan hệ sản xuất đợc thực hiện trên phạm vi
cả nớc. Kế hoạch 5 năm 1976- 1980 ngoài nhiệm vụ khắc phục hậu quả chiến
tranh, tiến hành cải tạo kinh tế miền Nam theo mô hình kinh tế miền Bắc. Tiếp tục
cải tạo XHCN đối với những ngời sản xuất nhỏ ở miền Bắc, đồng thời triển khai
mạnh mẽ ở miền Nam. Nhng thực tế kinh tế t nhân vẫn tồn tại, vẫn có trên 60 vạn
ngời sản xuất cá thể, số lao động hoạt động trong kinh tế t nhân hàng năm vẫn
chiếm trên 20% tổng số lao động ngành công nghiệp. Giá trị sản lợng công nghiệp
do khu vực kinh tế t nhân tạo ra hàng năm chiếm trên dới 15% giá trị sản lợng
toàn ngành công nghiệp. Số ngời kinh doanh thơng nghiệp trong giai đoạn này
cũng ở mức khá. Những số liệu trên cho thấy sức sống của kinh tế cá thể rất bền
bỉ, sự hiện diện của thành phần kinh tế này trong suốt thời gian dài nh một tất yếu
khách quan cần phải biết sử dụng mặt tích cực của nó làm cho dân giàu, nớc
mạnh.
doanh chiếm số lợng không đáng kể. Hộ kinh doanh cá thể có số lợng lớn, phát
triển rộng rãi từ nhiều năm nay. Hộ kinh doanh cá thể phân bố không đều giữa các
địa phơng. Quy mô của hộ kinh doanh cá thể nói chung là rất nhỏ, sử dụng lao
động trong gia đình là chính, vốn kinh doanh ít. Đối với doanh nghiệp t nhân thực
hiện đăng kí kinh doanh từ khi có luật công ty và luật doanh nghiệp t nhân tăng rất
nhanh. Tính chung thời kì 1991-2000, số doanh nghiệp đăng kí kinh doanh tăng
bình quân là 96,24%/năm. Từ năm 2000 đến nay khi luật doanh nghiệp đợc thực
hiện, số lợng doanh nghiệp đăng kí kinh doanh tăng rất nhanh. Sau 2 năm thực
hiện luật doanh nghiệp đến ngày 31/12/2001 cả nớc đã có 35.440 doanh nghiệp
mới đăng kí hoạt động. Tính đến ngày 31/12/2000, cả nớc có 56.834 doanh
nghiệp đăng kí kinh doanh, nhng số doanh nghiệp thực tế hoạt động chỉ chiếm
51,99% các doanh nghiệp cha hoạt động chiếm 16,85%, số doanh nghiệp giải thể
chuyển sang loại hình thức khác chiếm 24,44%, doanh nghiệp cha tìm thấy là
6,72%. Số doanh nghiệp thực tế hoạt động phân bố không đều ở các địa phơng. Số
- 12 -
lợng doanh nghiệp thực tế hoạt động tập trung cao ở ngành thơng mại, dịch vụ.
Quy mô của các doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và vừa.
Vốn đầu t của kinh tế t nhân.
Tổng vốn đầu t phát triển của các hộ kinh doanh cá thể năm 2000 là 29.267 tỉ
đồng tăng 12,93% so với năm 1999. Tổng vốn dùng vào sản xuất kinh doanh của
hộ kinh doanh cá thể chỉ chiếm 63.668 tỉ đồng, chiếm 36,61% trong tổng số vốn
dùng vào sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế t nhân. Vốn của doanh nghiệp
tăng nhanh cả về vốn đăng kí kinh doanh, tổng vốn thực tế sử dụng và vốn đầu t
phát triển. Tổng vốn đăng kí kinh doanh liên tục tăng cùng với số doanh nghiệp
tăng. Tính từ khi có luật doanh nghiệp đến hết tháng 04/2002 cả nớc có trên
41.000 doanh nghiệp mới thành lập với tổng số vốn đăng kí tơng đơng 3,6 tỉ USD.
Nếu tính cả số vốn điều chỉnh bổ xung của các doanh nghiệp thì tổng số vốn đầu t
của các doanh nghiệp t nhân trong nớc trong hơn 2 năm qua đạt khoảng 60.000 tỉ
đồng tơng đơng 4 tỉ USD. Tổng vốn thực tế sử dụng của doanh nghiệp cũng tăng
nhanh. Tổng vốn đầu t phát triển của doanh nghiệp t nhân tăng cả về lợng vốn và tỉ
Tăng trởng sản xuất kinh doanh khu vực kinh tế t nhân.
Tổng sản phẩm trong nớc của khu vực kinh tế t nhân tăng trởng liên tục trong
những năm gần đây. Năm 1996 GDP khu vực kinh tế t nhân tăng bình quân
7%/năm. Tốc độ tăng trởng GDP của khu vực kinh tế t nhân xấp xỉ tốc độ tăng
GDP của toàn bộ nền kinh tế. Năm 2000 khu vực kinh tế t nhân chiếm 42,3% GDP
của cả nớc. Trong đó GDP của khu vực kinh tế t nhân phi nông nghiệp là
63,6%GDP của khu vực kinh tế t nhân, và bằng 26,87% GDP cả nớc. Trong ngành
nông nghiệp, năm 2000 GDP của khu vực kinh tế t nhân chiếm 15,4% GDP toàn
quốc và chiếm 63,2% GDP của nông nghiệp nói chung.
1.4.2 Kinh tế t nhân có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân nhng
trong sản xuất của khu vực kinh tế t nhân vẫn còn nhng khiếm khuyết, hạn chế
cần phải khắc phục.
Trớc hết bắt đầu từ bản thân chủ thể kinh tế t nhân. Tuy thời gian qua kinh tế
t nhân phát triển mạnh về số lợng nhng nếu xét tổng thể trên cả 3 tiêu thức vốn,
lao động và công nghệ thì nhìn chung các loại hình doanh nghiệp t nhân, cá thể
còn rất nhỏ bé và công nghệ lạc hậu. Về quy mô vốn cho thấy 80,26% các loại
hình doanh nghiệp có số vốn nhỏ hơn 5 tỉ đồng, con số này đối với doanh nghiệp
nhà nớc là 20,03%. Về lao động, phần lớn các doanh nghiệp có quy mô lao động
nhỏ. 80% doanh nghiệp có số lao động dới 50 ngời trong trong khi đó đối với
doanh nghiệp nhà nớc quy mô lao động hơn 200 ngời chiếm hơn 50% tổng số
doanh nghiệp. Về trình độ công nghệ, đa số các loại hình doanh nghiệp t nhân
dang sử dụng công nghệ ở mức trung bình và lạc hậu so với thế giới. Nh vậy thực
trạng hiện nay ở khu vực kinh tế t nhân cho thấy quy mô nhỏ, trình độ công nghệ
lạc hậu đang làm hạn chế sức cạnh tranh trên thị trờng trong và ngoài nớc mà sức
- 14 -