Phương hướng và các giải pháp nhằm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam - Pdf 14

ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MỞ ĐẦU
Phát triển kinh tế tư nhân là một nhiệm vụ quan trọng trong đường lối
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Xét về mặt
quan hệ sở hữu,kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế hộ gia đình,kinh tế cá
thể,tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân.Trong nhiều tài liệu và công trình
nghiên cứu,kinh tế hộ gia đình cả trong nông nghiệp gồm trang trại và phi
nông nghiệp(cá thể,tiểu chủ) được gộp chung với các loại hình doanh nghiệp
của tư nhân(doanh nghiệp tư nhân,công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ
phần,công ty hợp danh) và được gọi chung là kinh tế tư nhân.Hai mươi năm
qua,kinh tế tư nhân ở nước ta tăng nhanh về số lượng và chất lượng,góp
phàn quan trọng vào phát triển kinh tế,giữ vững ổn định chính trị,xã hội của
đất nước.Đóng góp lớn nhất và quan trọng nhất của kinh tế tư nhân là tạo
việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội.Năm 2004,khu
vực kinh tế tư nhân đóng góp 38,5% GDP của cả nước.
Mấy năm gần đây,đăc biệt là sau khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực năm
2000,tốc độ tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân tăng nhanh hơn tốc độ
tăng trưởng của nền kinh tế và các thành phần kinh tế khác.Doanh nghiệp tư
nhân có chỉ số phát triển hàng năm trong những năm đầu của thập kỷ này đạt
trên 10%,trong khi đó chỉ số chung của toàn nền kinh tế từ 7% đến 8,5%.Đa
số các doanh nghiệp tư nhân được hình thành khoảng 15 năm qua và tăng
với tốc độ nhanh hơn so với những thành phần kinh tế khác. Hộ kinh tế gia
đình có số lượng đông đảo, là tiền đề cho sự phát triển doanh nghiệp tư
nhân, tổ hợp tác và hợp tác xã.
Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hộI chủ nghĩa,góp phần quan trọng thực
hiện thắng lợI nhiêm vụ trọng tâm là phat triển kinh tế,công nghiệp hóa hiện
đạI hóa,nâng cao nộI lực của đất nước trong hộI nhập kinh tế quốc tế.Do đó
ở đây em chỉ đề cập đến một số vấn đề quan trọng,rất mong nhân được sự
góp ý của cô giáo và các bạn.


về chính sách, pháp lý để kinh tế tư nhân phát triển trên những định hướng
ưu tiên cùa Nhà nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài; khuyến khích chuyển
thành doanh nghiệp cổ phần, bán cổ phần cho người lao động , liên doanh,
liên kết với nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Xây dựng quan hệ
tốt giữa chủ doanh nghiệp và người lao động" (Sách đã dẫn, tr. 99).
Bước chuyển biến mới về tư duy đối với kinh tế tư nhân được thể hiện rõ
trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Trung ương Khóa IX ( 3-2002).
Theo Nghị quyết, "Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài
trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nhghĩa"
(Nghị quyết TƯ 5, Nxb Chính trị quốc gia, 2002, tr. 58).
PHAN TUẤN ANH NGÂN HÀNG B
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội X (công bố ngày 3-2-2006) nêu rõ
chủ trương của Đảng đối với kinh tế tư nhân trong thời gian tới chính là sự
khẳng định thực tiễn đã diễn ra trong cuộc sống. Dự thảo viết: "Kinh tế tư
nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế";
"Phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của
tư nhân. Mọi công dân có quyền tham gia các hoạt động đầu tư, kinh doanh
với quyền sở hữu tài sản và quyền tự do kinh doanh được pháp luật bảo hộ;
có quyền bình đẳng trong đầu tư, kinh doanh, tiếp cận các cơ hội, nguồn lực
kinh doanh, thông tin và tiếp nhận thông tin". Dự tháo Báo cáo còn nhấn
mạnh "Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu" và "Xóa bỏ
mọi rào cản hữu hình và vô hình, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh
doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân phát triển không
hạn chế quy mô trong mọi ngành, nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm". Việc
Đại hội X cho phép "đảng viên làm kinh tế không giới hạn về quy mô" sẽ
góp phần củng cố niềm tin của xã hội vào tiền đồ, triển vọng của kinh tế tư
nhân.

kinh tế dân doanh ngày càng chiếm ưu thế trong nền kinh tế thông qua cơ
cấu vốn đầu tư và tạo việc làm. Cơ cấu vốn đầu tư trung bình một dự án giai
đoạn 1996-2003 tăng từ 4,5 tỷ đồng lên 8,5 tỷ đồng, lao động bình quân của
một dự án tăng từ 87 lên 123 lao động.
Đến nay, tổng số doanh nghiệp đăng ký của khu vực tư nhân trên 120.000.
Số doanh nghiệp đăng ký thành lập trung bình hàng năm hiện gấp 3,75 lần
so với trung bình của thời kỳ 1991-1999. Ước tính trong 4 năm trở lại đây,
các doanh nghiệp đã tạo ra khoảng 1,6 triệu việc làm mớI
3.Gia tăng cạnh tranh:
Sự xuất hiện của thành phần kinh tế tư nhân đã chấm dứt chuỗi thời gian
“một mình một chợ” của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Ông Vũ Quốc
Tuấn (Ban Nghiên cứu của Thủ tướng) nhận xét, một vai trò quan trọng của
kinh tế tư nhân là “nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh của nền kinh tế” (Hội thảo
Phát triển kinh tế nhiều thành phần Việt Nam - CIEM). Trên thực tế, đã có
nhiều dịch vụ mới xuất hiện, trong đó doanh nghiệp dân doanh đóng vai trò
chủ đạo như phần mềm, Internet, bất động sản… Thậm chí, nhiều doanh
nghiệp dân doanh còn vượt qua các doanh nghiệp nhà nước trong cùng lĩnh
vực và tạo được tên tuổi, uy tín trên thị trường như công ty Kinh Đô, Hoà
Phát, Trung Nguyên.
“Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực tư nhân luôn tăng cao hơn so
với tốc độ tăng ngành công nghiệp cả nước. Kinh tế tư nhân đóng góp
khoảng 20%-30% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong nhiều lĩnh vực, kinh tế
tư nhân có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới như thuỷ sản, may
mặc, da giày” - TS Lê Xuân Bá, Phó Viện trưởng CIEM nói.
4.Vai trò mới của KTTN:
Một số nhà phân tích đến từ các nước châu Á dự báo rằng triển vọng của nền
kinh tế Việt Nam trong những năm tới sẽ sáng sủa, mà một trong những
nhân tố cốt lõi, là do Việt Nam có chính sách ngày càng cởi mở và đúng đắn
hơn đối với khu vực kinh tế tư nhân.
Dựa vào các nguồn tư liệu của các trung tâm phân tích kinh tế nổi tiếng

1.Quá trình hình thành và phát triển
ĐạI hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng năm 1986 mở ra bước phát
triển cho nền kinh tế nhiều thành phần.Tiếp theo đó,Nghị định 221,222 của
Chính phủ cho phép tư nhân hoạt động,năm 198 cho kinh doanh vàng
bạc,nhập khẩu phi mậu dịch,chấp nhận cá nhân xây nhà,các cải cách thị
trường về giá,tỷ giá,kinh tế hộ gia đình phát triển.tháng 12 năm 1990,Luật
Công ty và Luật Doanh nghiệp được thông qua,chính thức khai sinh cho
doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân.Luật doanh nghiệp được Quốc hội thông
qua tháng 6 năm 1999,có hiệu lực từ tháng 1 năm 2000 là bước đột phá quan
trọng.
Kể từ năm 2000,số lượng doanh nghiệp của tư nhân mới đăng ký liên tục
tăng nhanh.Năm 2000,số doanh nghiệp được đăng ký là 14.413 ,đến năm
2004 con số này là 36.795.Theo ước tính vủa Bộ Kế hoach và Đầu tư trong 5
năm 2001-2005 có 151.004 doanh nghiệp của tư nhân đăng ký kinh doanh
PHAN TUẤN ANH NGÂN HÀNG B
ĐỀ ÁN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
đưa tổng số doanh nghiệp của tư nhân ở nước ta đén cuốI năm 2005 đạt 20
vạn.
Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân các tỉnh,các thành phố trực thuộc
Trung ương,có khỏang 80% đến 85% số doanh nghiệp đăng ký đang hoạt
động.Theo Tổng cục Thuế,đến hết tháng 7 năm 2003 trên cả nươc có khỏang
1.650 doanh nghiệp đã đăng ký nhưng không còn hiện diện nơi đăng
ký(chiếm khoảng 2,3% tổng số doanh nghiệp đã đăng ký)
Số doanh nghiệp không hoạt động gồm nhiều nguyên nhân,chủ yếu là:mất
cơ hội kinh doanh,dự tính sai cơ hội kinh doanh,tự ý rút khỏi thị trường
không báo cáo.mốt số doanh nghiẹp thành lập để thực hiện mua bán hóa đơn
giá trị gia tăng.
Như vậy,tỷ lệ doanh nghiệp giải thể,không hoạt động sau đăng ký của
nước ta không cao so với các nước khác.Hoa Kỳ có 10% số doanh nghiệp
giải thể trong năm đầu hoạt động.Các nước thành viên của tổ chức Hợp tác

hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, khởi đầu từ khi chúng ta đổi mới, và
đặc biệt phát triển từ giữa thập kỷ 1990, khi nước ta lần lượt tham gia
ASEAN, ASEM, APEC và không ngừng mở rộng quan hệ song phương với
các nước khác trên thế giới. Thị trường các nước mở rộng dần cho các sản
phẩm của Việt Nam đã tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN),
trong đó có KVKTTNTN phát triển sản xuất, kinh doanh các sản phẩm của
mình trên các thị trường khu vực và quốc tế.
Khi nước ta tham gia WTO, các cơ hội này lại càng mở rộng, những rào
cản sẽ được dỡ bỏ, các DNVN sẽ có vị trí bình đẳng, không bị phân biệt đối
xử trên thị trường các nước. Họ sẽ có quyền không chỉ xuất nhập khẩu, tiếp
nhận đầu tư, mà còn mở rộng nhiều phương thức hợp tác khác và đầu tư ra
các thị trường nước ngoài, khai thác tối đa những lợi thế cạnh tranh của
mình và tận dụng sự phân công lao động quốc tế, tham gia mạng lưới kinh
doanh và chuỗi giá trị toàn cầu theo cách có lợi nhất cho mình. Tham gia
WTO cũng thúc đẩy nước ta cải thiện mạnh mẽ môi trường pháp lý, chính
sách cho kinh doanh, tạo thuận lợi cho cạnh tranh và phát triển của mọi
doanh nghiệp.
Thách thức không nhỏ:Tuy nhiên, trong bước đường phát triển vừa qua
cũng như trong thời gian tới, khu vực kinh tế này còn phải đương đầu với rất
nhiều khó khăn, trở ngại:
Một là, bản thân KVKTTNTN và các DNTN của nước ta nhìn chung còn
nhỏ, yếu, mới hình thành, rất thiếu các nguồn lực cần thiết cũng như thiếu sự
liên kết để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển.
Trong DNTN của chúng ta có tới 95% thuộc quy mô nhỏ và vừa (theo tiêu
chí của nước ta là có dưới 300 lao động và/hoặc dưới 10 tỉ đồng vốn), trong
đó khoảng 50% thuộc quy mô nhỏ hoặc cực nhỏ (dưới 100 lao động và/hoặc
dưới 5 tỉ đồng vốn). Cái yếu của DNTN ở nước ta thể hiện rõ nhất ở năng
suất lao động, hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh nhìn chung còn
thấp so với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp các
nước xung quanh. Họ cũng yếu hơn phần lớn các doanh nghiệp nhà nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status