Định hướng và giải pháp cơ bản để phát triển Kinh tế tư nhân ở Việt Nam - Pdf 78

Khoá luận tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện toàn cầu hoá diễn ra như hiện nay, kinh tế tư nhân (KTTN)
ngày càng thể hiện rõ vai trò tích cực của mình trong quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Đặc biệt, trong những năm thập niên cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ
XXI, khi Thuyết tự do hoá được vận dụng rộng rãi ở nhiều nước và trào lưu cải
cách, mở cửa, thúc đẩy kinh tế thị trường trở thành phương thức chính thức thúc
đẩy tăng trưởng của nhiều nước đang phát triển và đặc biệt là các nền kinh tế
chuyển đổi, KTTN một lần nữa khẳng định là một trong những cấu thành quan
trọng của mọi nền kinh tế quốc dân. Điều này cũng không ngoại lệ với Việt Nam.
Việt Nam chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, do vậy vai
trò của khu vực KTTN đang được chú trọng rất nghiêm túc và đúng đắn.
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) đã chỉ rõ: “ Hơn 10 năm qua, thực hiện
đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, được sự đồng tình hưởng
ứng của nhân dân, KTTN gồm kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân,
hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư
nhân, đã phát triển rộng khắp trong cả nước đóng góp quan trọng vào phát triển
kinh tế, huy động các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định
chính trị- xã hội của đất nước”.
Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn gặp
nhiều vướng mắc, còn nhiều rào cản hạn chế sự phát triển và hoạt động kinh doanh
của khu vực kinh tế này.
Để tạo điều kiện cho KTTN phát triển đúng với tiềm năng của nó cần phải
có nhận thức đúng, cũng như có đánh giá đúng về những đóng góp của khu vực
KTTN với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam. Chính vì vậy, em chọn đề tài “ Kinh tế
tư nhân Việt Nam - thực trạng và giải pháp” làm khoá luận tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu đề tài là phân tích KTTN trên phương diện lý luận và
thực tiễn để tìm ra những nguyên nhân cụ thể và những rào cản cản trở sự phát
triển của khu vự kinh tế tư nhân, qua đó có thể đưa ra các giải pháp cũng như
phương hướng giúp thành phần kinh tế này có sự phát triển đúng hướng đạt hiệu

nhân là thuộc về KTTN.
Kinh tế tư bản tư nhân là thành phần kinh tế mà sản xuất và kinh doanh dựa
trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sử dụng lao
động làm thuê. Trong điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội thành phần kinh tế này
đóng góp vai trò đáng kể. Xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, xã hội
hoá sản xuất, đặc điểm của thành phần kinh tế này do một nhà tư bản trong và ngoài
nước đầu tư để sản xuất. Thành phần kinh tế tư bản tư nhân bao gồm doanh nghiệp
tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh.
Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế sở hữu mà thu nhập dựa hoàn toàn vào
lao động, vốn của bản thân và gia đình. Kinh tế cá thể tiểu chủ cũng là hình thức
kinh tế tư hữu nhưng có thuê lao động, tuy nhiên thu nhập chủ yếu dựa vào sức lao
động vốn có của bản thân và gia đình. Thành phần kinh tế này cũng giữ một vị trí
3
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
quan trọng trong nhiều ngành nghề. Có điều kiện phát huy nhanh và hiệu quả về
vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình.
Như vậy, khu vực kinh tế tư nhân theo quan điểm chính thức ở Việt Nam bao
gồm các hình thức kinh tế sau đây:
- Kinh tế cá thể được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một
cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động
của chính hộ hay cá nhân đó, không thuê mướn lao động làm thuê.
- Kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý và điều
hành, hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và có sử dụng lao
động thuê mướn ngoài lao động của chủ; quy mô vốn đầu tư và lao động nhỏ hơn
của các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty
cổ phần.
- Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm các doanh nghiệp đang hoạt động theo luật
doanh nghiệp của Việt Nam và chúng bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau:
+Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu

thì kinh tế tư nhân phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phải luôn đổi mới
công nghệ và quản lý…và đây chính là điều khiến cho kinh tế tư nhân luôn năng
động, linh hoạt và là động lực phát triển cho nền kinh tế.
Như vậy, khu vực kinh tế tư nhân hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi
nhuận là hàng đầu, chính vì vậy đây là đặc điểm khác biệt so với một số doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước.
Thứ hai: Kinh tế tư nhân có quy mô đa dạng và khả năng tối ưu hoá tổ chức
sản xuất.
Với đặc điểm hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh nên
kinh tế tư nhân luôn phải lựa chọn các quy mô phù hợp để tối ưu hoá tổ chức sản
xuất, cũng chính vì lẽ đó mà kinh tế tư nhân tồn tại với quy mô rất đa dạng, từ các
công ty xuyên quốc gia khổng lồ cho tới doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây cũng là
điểm khác biệt với các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Các doanh nghiệp
thuộc sở hữu Nhà nước thường có quy mô khá lớn, rất ít các doanh nghiệp quy mô
5
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
nhỏ. Lý do tồn tại các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn ở một số nước bởi lẽ,
một số doanh nghiệp cung cấp hàng hoá công cộng hoặc vì một lý do nào đó mà
doanh nghiệp đó được tồn tại độc quyền nên quy mô lớn mới hiệu quả. Tuy nhiên
trên thực tế các doanh nghiệp quy mô lớn thuộc sở hữu nhà nước thường mở rộng
quy mô không vì sự tối ưu hoá sản xuất mà vì động cơ muốn mở rộng doanh nghiệp
để có thêm các đặc quyền và uy lực của người lãnh đạo. Điều này khác với kinh tế
tư nhân, quy mô sản xuất có thể mở rộng hoặc thu hẹp để đạt mục tiêu tối ưu hoá
sản xuất. Cũng chính vì khả năng lựa chọn quy mô sản xuất hợp lý mà các doanh
nghiệp thuộc khu vực tư nhân sử dụng lao động một cách hiệu quả. Các chủ doanh
nghiệp tư nhân thường căn cứ vào yêu cầu thực sự của công việc để tuyển chọn
người và căn cứ vào năng lực đóng góp của người lao động để có cơ chế trả công
hợp lý, khuyến khích được người lao động và đào tạo được một đội ngũ doanh nhân
và công nhân kỹ thuật lành nghề cho nền kinh tế. Đồng thời chủ doanh nghiệp cũng

và linh hoạt của kinh tế tư nhân trong bất kỳ hoàn cảnh kinh tế nào.
Thứ tư: Kinh tế tư nhân hoạt động dựa trên sự thống nhất giữa quyền sở hữu
và quyền sử dụng tài sản.
Vì kinh tế tư nhân dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, cho
nên sự tồn tại dưới hình thức là các loại hình doanh nghiệp hay hộ gia đình, người
sản xuất nhỏ thì về bản chất nó vẫn thuộc sở hữu tư nhân. Người chủ sở hữu có
quyền quyết định hoàn toàn mọi quá trình sản xuất kinh doanh và đương nhiên các
quyết định đó đi liền với quyền lợi và trách nhiệm của chính họ. Nguyên tắc hoạt
động của kinh tế tư nhân là “bốn tự”, đó là tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong kinh
doanh và tự bù lỗ. Đây là cơ chế để gắn kết kết quả hoạt động (lợi ích) với năng lực
hoạt động của chính các chủ doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế tư nhân hoạt động bởi
chính vốn liếng của mình (cho dù là vốn vay) nên mọi quyết định phải được cân
nhắc kỹ lưỡng và mang lại hiệu quả, tức phải sinh lời, phải làm cho hoạt động kinh
doanh luôn phát triển, đồng vốn phải không ngừng lớn lên. Điều này khác biệt với
các giám đốc doanh nghiệp Nhà nước hay nhà quản lý trong kinh tế tập thể, họ hoạt
động không dựa trên vốn hay không hoàn toàn trên đồng vốn của chính mình mà đó
là vốn liếng của Nhà nước, của tập thể. Quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản
trong các đơn vị kinh tế này không có sự thống nhất, chính vì vậy mà trách nhiệm
7
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
và quyền lợi thường không đi liền với nhau, do đó các quyết định của họ sẽ có thể
không phản ánh sự thận trọng, kỹ lưỡng và tính hiệu quả. Mục đích lãnh đạo của họ
có thể không chỉ là làm cho doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận mà là các mục
đích khác như thăng tiến ở một chức vụ quản lý khác cao hơn.
Trên đây là các đặc điểm rõ nét nhất về khu vực kinh tế tư nhân ở các nước
khi so sánh với khu vực kinh tế công cộng và đây cũng là những ưu thế của kinh tế
tư nhân so với kinh tế công cộng trong tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên kinh tế tư nhân cũng có mặt trái của nó mà chính vì lẽ đó, sự tồn
tại khu vực kinh tế công cộng ở mọi quốc gia là khách quan và cần thiết bởi vai trò

Thứ nhất: Huy động mọi nguồn lực trong xã hội vào sản xuất kinh doanh, là
động lực chính cho tăng trưởng kinh tế, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh
tế –xã hội đất nước.
Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng trong việc huy động mọi nguồn lực
tiềm ẩn trong xã hội cho phát triển kinh tế. Nguồn lực này có thể tồn tại dưới các
thức khác nhau như: tài chính, đất đai, thiết bị máy móc, kinh nghiệm quản lý, kỹ
năng lao động…sự phát triển kinh tế tư nhân sẽ khai thác và sử dụng hiệu quả các
tiềm năng đó và xã hội hoá các yếu tố sản xuất tập trung vào phát triển kinh tế xã
hội.
Có thể khẳng định ở mọi quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, khu
vực kinh tế tư nhân có vai trò rất quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Do
tính năng động, linh hoạt và hiệu quả nên kinh tế tư nhân luôn có tốc độ tăng trưởng
cao hơn khu vực kinh tế công cộng và sự đóng góp này tạo động lực cho tăng
trưởng kinh tế các nước. Mức độ đóng góp của khu vực kinh tế này vào GDP
thường dao động từ 40-70% GDP của nền kinh tế ở hầu hết các quốc gia.
Nguồn vốn là yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất. Trong một nền
kinh tế đang phát triển nguồn vốn rất khan hiếm và đặc biệt đối với các nền kinh tế
chuyển đổi như Việt Nam thì nguồn vốn càng khan hiếm hơn, khi các tổ chức tài
chính chưa phát triển và không có khả năng huy động tiền tiết kiệm từ dân cư, cũng
9
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
như hạn chế của ngân sách trong việc phân bổ vốn cho đầu tư. Do đó khả năng huy
động vốn của khu vực KTTN trở nên rất quan trọng.
Nếu các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN được đặt trong môi trường kinh
doanh bình đẳng và được tạo cơ hội thuận lợi thì các chủ doanh nghiệp có thể tự tin
mạo hiểm với khoản tiền tiết kiệm quý giá của bản thân họ, thậm chí của họ hàng và
bạn bè họ để theo đuổi mục tiêu lợi nhuận. Môi trường kinh doanh bình đẳng sẽ
khiến các chủ doanh nghiệp có thể kiểm soát ở mức độ nào đó các hoạt động và số
phận kinh doanh của họ. Tuy nhiên do hệ thống tài chính kém phát triển nên các

xã, thành phố… tức là lượng doanh nghiệp xuất hiện ở thành phố là rất lớn.
KTTN có thể tạo ra sự phân hoá giàu nghèo lớn trong xã hội. Vì đặc điểm
của KTTN là “ mạnh ai nấy chạy” tạo ra sư giãn cách lớn trong thu nhập.
Với quy mô còn nhỏ, khả năng ứng dụng khoa học công nghệ chưa cao vì
vậy trong qúa trình hội nhập kinh tế KTTN rất khó cạnh tranh với các chủ thể kinh
tế bên ngoài.
Vì mục tiêu của KTTN luôn là tối đa hoá lợi nhuận, chạy theo lợi nhuận do
đó họ sẵn sàng bất chấp mọi điều kiện để tăng doanh thu. Nhưng hạn chế mà khu
vực KTTN này mang lại là cũng rất đáng kể. KTTN phát triển mạnh dẫn đến sự tập
trung tài sản vào tay một số cá nhân. Điều này vừa tạo ra sự phân hoá về thu nhập
vừa có thể tạo điều kiện cho một số kẻ lũng đoạn thị trường, rồi chạy theo thu nhập
sẽ làm họ bỏ qua vấn đề môi trường tạo ô nhiễm môi trường và vấn đề công bằng
xã hội mà nền kinh tế nào cũng mong muốn đạt tới.
Như vậy KTTN có vai trò rất tích cực trong qúa trình thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại những mặt tiêu cực mang tính chất kìm hãm
sự phát triển của nền kinh tế và của khu vực này. Để hạn chế những tiêu cực này
đòi hỏi Nhà Nước phải có biện pháp can thiệp thích hợp và những chính sách cụ thể
11
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
để có thể làm cho khu vực KTTN phát huy hết những vai trò tích cực của nó và hạn
chế tối đa những mặt tiêu cực mà nó có thể gây ra.
1. 3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN KTTN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA:
1. 3. 1 Phát triển kinh tế tư nhân ở một số nước:
* Hungary:
Trên thế giới hiện nay có hơn 180 quốc gia có nền kinh tế thị trường với khu
vực tư nhân làm nòng cốt. Tuy nhiên chỉ có hơn 30 quốc gia trong số đó trở nên
giàu có một số nước trước đây đi theo mô hình kế hoạch hoá tập trung, phủ nhận sự
tồn tại của khu vực KTTN do đó mà nền kinh tế đã lâm vào tình trạng trì trệ kém
phát triển.

thay đổi tư duy về sở hữu (chuyển sở hữu nhà nước sang sở hữu tư nhân). Nhờ có
sự thống nhất giữa nhà nước và dân chúng nên quá trình tư nhân hoá ở Hungary
diễn ra thuận lợi, không có xung đột gay gắt và kéo theo các chuyển đổi hoà bình
khác trong xã hội. Trong số các nước Đông Âu, Hungary là nước thực hiện quá
trình chuyển đổi sở hữu nhanh và toàn diện hơn cả. Trước năm 1990, hầu hết các
phương tiện sản xuất đều nằm trong tay chính phủ: có 1850 doanh nghiệp nhà nước
với tổng giá trị ghi trên sổ sách vào khoảng 20-25 tỷ USD (khoảng 3000 tỷ HUF
theo tỷ giá hiện nay). Năm 1989 – 1990 lĩnh vực này đóng góp 10 – 15% GDP, hiện
nay là 70-75% GDP, tỷ lệ này tương đương với các nước trong liên minh Châu Âu.
Tuy nhiên quá trình tư nhân hoá ở Hungary không diễn ra đều đặn. Đầu thập
kỷ 90, Hungary đã tiến hành tư nhân hoá những cơ sở kinh doanh nhỏ sau đó mới
tiến hành tư nhân hoá các doanh nghiệp lớn của nhà nước. Kinh nghiệm tư nhân hoá
những doanh nghiệp nhỏ đã giúp cho việc tư nhân hoá những doanh nghiệp lớn
suôn sẻ. Quá trình chuẩn bị tư nhân hoá những doanh nghiệp lớn thực hiện tốt do đã
lựa chọn được đối tượng có đủ khả năng vật chất để tiếp tục duy trì hoạt động có
hiệu quả trên cơ sở đổi mới công nghệ. Việc tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà
13
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
nước lớn được thực hiện từ 1993 – 1996 (ngân hàng, doanh nghiệp ngành năng
lượng… )
Tư nhân hoá ở Hungary được thực hiện đại trà từ 1993 – 1997. Năm 1994 do
có bầu cử một số thay đổi cơ cấu chính trị nên quá trình tư nhân hoá chậm lại. Đỉnh
cao của quá trình tư nhân hoá là năm 1995: 1/3 số doanh nghiệp được tư nhân hoá
trong năm 1995, kể cả các ngành chiến lược như điện, năng lượng…
Chính phủ Hungary đã xây dựng cơ sở pháp lý cho việc tư nhân hoá bằng
việc ban hành một số luật. Luật công ty đảm bảo cơ sở cho các công ty cổ phần và
các loại hình công ty hoạt động. Năm 1995, Hungary ban hành luật tư nhân hoá, luật
tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và công ty trách nhiệm
hữu hạn. Toàn bộ doanh nghiệp nhà nước của Hungary đều được chuyển sang hoạt

tập thể cán bộ công nhân viên doanh nghiệp đối với mỗi doanh nghiệp nhỏ: Hình
thức này không thành công nên không phổ biến.
Hungary không áp dụng hình thức cho không tài sản, trừ trường hợp di
chuyển tài sản từ trung ương cho chính quyền địa phương. Hungary không dùng
phiếu chứng nhận (voucher) như Tiệp khắc, Ba Lan là đúng đắn vì đây chỉ là biện
pháp phân chia lại tài sản của nhà nước; không phải là hình thức tư nhân hoá mang
lại hiệu quả. Ý đồ của các nhà chính trị ở Hungary là chuyển tài sản vào tay những
người có vốn và tiếp tục sử dụng tài sản đó vào sản xuất kinh doanh.
- Phiếu đền bù: chủ yếu được phát hành cho những người bị thiệt hại trong
thời kỳ xã hội chủ nghĩa, được lấy từ tài khoản thu do tư nhân hoá.
Trong luật tư nhân hoá quy định các đối tượng không được phép tham gia
mua cổ phần, nhưng về cơ bản không hạn chế đối tượng mua cổ phần. Do trước
thời kỳ xã hội chủ nghĩa không có tư sản tư nhân nội địa để tham gia mua tài sản
này, do người Hungary nghèo nên chỉ tham gia những lĩnh vực yêu cầu ít vốn như
thương nghiệp bán lẻ, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Không những thế những doanh
nghiệp này chỉ có khả năng tồn tại chứ không để đổi mới công nghệ do thiếu vốn.
15
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
Hungary không có chiến lược quá ưu đãi cho người mua nội địa thông qua
phiếu đền bù và tín dụng ngân hàng. Hungary có chương trình cổ phần hoá cho
người lao động nhưng thực ra quy mô không lớn vì tư nhân hoá nhằm mục tiêu
hiệu quả và chọn đối tượng có vốn nhiều nhất.
Hungary có chính sách khuyến khích người nước ngoài tham gia cổ phần
hoá. Khoảng 60 -62% tài sản doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá cho người
nước ngoài. Sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng
30% GDP.
Tuy nhiên trong quá trình tư nhân hoá ở Hungary nổi lên một vấn đề quan
trọng là nợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp nhà nước và nợ ngân hàng rất lớn.
Sau đây là hình ảnh mà khu vực kinh tế tư nhân Hungary có được trong

ít. Để cho việc hình thành các xí nghiệp tư bản quy mô vừa và lớn có thể trở thành
phổ biến hơn, đất nước, trên phương diện chính trị, phải tiến tới cách mạng dân chủ
và bước vào giai đoạn hậu xã hội chủ nghĩa hoặc ít nhất cũng đạt trạng thái trong đó
các yếu tố của quá trình cải cách và của sự thay đổi cách mạng và hệ thống đã được
hoà quyện vào nhau.
Xác định cho mình các yếu tố cơ bản đó. Hungary bắt đầu chuyển đổi kinh
tế vào những năm 1990. Trong quá trình chuyển đổi, nước này rất chú trọng phát
triển KTTN, xoá bỏ ý tưởng sở hữu Nhà nước phải giữ ưu thế, thiết lập một nền
kinh tế thị trường tự do. Hungary đã lựa chọn con đường phát triển hữu cơ của khu
vực KTTN bằng cách tạo điều kiện cho sự phát triển từ dưới lên trên của khu vực tư
nhân bằng cách xoá bỏ những rào cản, cản trở sự phát triển vủa khu vực kinh tế này,
phải tôn trọng sở hữu tư bản, đưa ra các chính sách hỗ trợ cho khu vực KTTN phát
triển, thực hiện quá trình tư nhân hoá các công ty thuộc sở hữu nhà nước không
hiệu quả băng cách bán cho tư nhân trong và ngoài nước, các doanh nghiệp không
có khả năng tồn tại thì cho phá sản, có hệ thống pháp luật rõ ràng, đồng bộ tạo hành
lang pháp lý cho khu vực KTTN phát triển, thực hiện ràng buộc ngân sách đối với
các doanh nghiệp thuộc khu vưc tư nhân .
Với các chính sách đó, KTTN của Hugarry đã có sự phát triển mạnh mẽ và
đạt được những thành tựu to lớn hàng năm doanh nghiệp tư nhân mới xuất hiện,
đồng thời các doanh nghiệp yếu kém lại đào thải, giải quyết nhiều công ăn việc làm,
kích thích tính cạnh tranh trong nền kinh tế, hoàn thiện thị truờng và thu hút vốn
đầu tư nước ngoài.
* Trung Quốc:
Bước vào đột phá Trung Quốc hướng vào kinh doanh hộ gia đình quy mô
nhỏ và đặc biệt trong nông nghiệp. Tầm quan trọng của các hộ kinh doanh qui mô
17
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
ngoài nông nghiệp cũng đã tăng lên rất đáng kể ( số liệu dưới đây sẽ cho ta thấy
điều này).

Khoá luận tốt nghiệp
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhỏ hơn do các chính quyền địa phương nắm
giữ lại rất thấp. Năm 1995, chỉ có 24,3% doanh nghiệp tư nhân là đội mũ đỏ trong
khi có tới 72,5% doanh nghiệp địa phương đội mũ đỏ.
Từ chính sách “thả nhỏ” đã xuất hiện thuật ngữ “thay đổi sở hữu”. Kể từ
năm 1994, thuật ngữ này đã trở nên phổ biến trên toàn đất nước. Nội dung của “thay
đổi sở hữu” bao hàm cả khoán và cho thuê, hai biện pháp được sử dụng trước đây
và các biện pháp như bán, chuyển thành công ty do người lao động nắm giữ hay
chuyển thành hợp tác xã. Chính sách này đã có tác động trực tiếp tới các doanh
nghiệp đội mũ đỏ. Tính đến 2001 khu vực KTTN của Trung Quốc đẵ đóng góp 50%
vào GDP, thu hút trên 20 triệu lao động, góp 40.1% vào tổng giá trị sản lượng công
nghiệp.
- Hình ảnh cơ cấu đa sở hữu: Từ chỗ trong nền kinh tế chỉ tồn tại sở hữu nhà
nước và sở hữu tập thể thì cho đến nay Trung Quốc công nhận sự tồn tại của đa loại
hình sở hữu và kinh tế nhiều thành phần.
- Đổi mới quản lý nhà nước tạo dựng môi truờng pháp lý cho KTTN bằng
cách xây dựng một hành lang pháp lý thuận lợi khuyến khích cho khu vực tư nhân
phát triển như xây dựng luật doanh nghiệp cá thể, luật công ty hợp danh, luật công
ty …vv
- Mở cửa thị trường cho doanh nghiệp tư nhân, sau khi gia nhập WTO thị
trường Trung Quốc đã mở cửa cho nhiều đối tác nước ngoài và khuyến khích các
doanh nghiệp tham gia hội nhập. Tuy nhiên một số lĩnh vực mà các doanh nghiệp tư
nhân vẫn chưa được phép tham gia như tài chính, thị trường đất đai, trước sự khôi
phục nhanh chóng của khu vực tư nhân Trung Quốc cho rằng phải nhanh chóng có
các chính sách mở cửa các lĩnh vực này để doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia
phá vỡ thế độc quyền nhà nước.
19
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
- Thúc đẩy sự hình thành và ra đời các tổ chức trung gian để tìm kiếm các cơ

với Việt Nam hiện nay cũng đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, cần thấy được vai trò quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh
tế đất nước mà cũng phải tham khảo kinh nghiệm phát triển của các nước trên thế
giới. Dưới đây là một số kinh nghiệm, bài học Việt Nam cần rút ra cho quá trình
phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
Thứ nhất : Thống nhất nhận thức, quan điểm về kinh tế tư nhân.
Từ kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của Hungary và Trung Quốc
chúng ta có thể thấy rằng khu vực kinh tế tư nhân hoàn toàn có thể phát triển năng
động trong môi trường kinh tế thị trường. Đảng cộng sản, Nhà nước hoàn toàn có
khả năng quản lý, giám sát và định hướng sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân.
Có một thực tế là ở Việt Nam và Trung Quốc cam kết chính trị gần như đóng
vai trò quyết định cho sự phát triển kinh tế tư nhân. Tại Trung Quốc khu vực tư
nhân đã phát triển mạnh mẽ sau chuyến công du của Đặng Tiểu Bình. Tuyên bố của
ông đã có tác động mạnh mẽ hơn nhiều các đạo luật, chính sách, đã thực sự giải
phóng tư tưởng, tâm lý và những vướng mắc cản trở sự phát triển của kinh tế tư
nhân lúc đó. Với Việt Nam, chúng ta cần thống nhất nhận thức rằng khu vực tư nhân
thực sự là động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng, là khu vực chủ yếu giải quyết
việc làm, phát huy mọi tiềm lực của người dân. Để thúc đẩy phát triển kinh tế tư
nhân năng động này Việt Nam cần những cam kết từ phía Đảng và Chính phủ để
giải phóng tư tưởng đối với kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân không là “mầm mống
của bạo loạn”, “nguyên nhân gây mất ổn định chính trị, xã hội” mà đã “góp phần
giữ vững ổn định chính trị – xã hội đất nước”, “những Đảng viên đang làm chủ
doanh nghiệp tư nhân chấp hành tốt điều lệ Đảng và Pháp luật, chính sách của nhà
nước thì vẫn là Đảng viên của Đảng”.
21
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
Vấn đề tiếp theo là quan niệm về sự “bóc lột”. Chúng ta không thể coi một
doanh nhân bỏ vốn đầu tư tạo việc làm mang lại thu nhập ổn định cho người lao
động đồng thời phải chịu rủi ro trong kinh doanh là bóc lột.

chóng nhìn nhận khách quan thực tiễn trong và ngoài nước để đẩy mạnh KTTN phát
triển đúng với tiềm năng của nó, để đưa nền kinh tế vào đúng quỹ đạo của nền kinh
tế toàn cầu.
23
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM

2. 1. QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
TỪ 1986 ĐẾN NAY.
Giai đoạn trước đổi mới(1986) do các yếu tố khách quan và chủ quan dẫn
đến quan điểm, nhận thức của Việt Nam về khu vực kinh tế tư nhân còn hạn chế,
không thấy được vai trò của KTTN đối với nền kinh tế, cũng như chưa thấy được
sự tồn tại của KTTN là một sự khách quan, là một đòi hỏi tất yếu của lịch sử phát
triển của nhân loại. Giai đoạn này nhìn chung KTTN không được thực sự thừa
nhận, các doanh nghiệp tư nhân chủ yếu giới hạn trong khu vực hộ kinh doanh,
thường không có tư cách pháp nhân chắc chắn và hoạt động chủ yếu ở thị trường
ngầm. Tuy nhiên đến cuối thập kỷ 80, có rất nhiều thương nhân hoạt động khắp đất
nước và nhiều hoạt động tư nhân quy mô nhỏ ở cả khu vực nông thôn và thành thị,
mặc dù họ không được chấp nhận chính thức.
Chính tư tưởng không đúng đắn này đã làm cho nền kinh tế ngày càng khủng
hoảng và suy sụp, nền kinh tế tiêu điều, đời sống nhân dân ngày càng đi xuống.
Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước đã đưa ra những chính sách cấp bách nhằm
cứu vãn tình hình. Những chính sách này đã tạo điều kiện cho KTTN hồi sinh và
phát triển trở lại và ngày một khẳng định vai trò của nó trong nền kinh tế quốc dân.
Cụ thể: số hộ kinh doanh tăng từ khoảng 0.84 triệu năm 1990 lên 2.2 triệu hộ năm
1996 và 3 triệu hộ tính đến cuối 2004, ngoài ra cả nước còn có khoảng 130.000
trang trại và trên 10 triệu hộ nông dân sản xuất hàng hoá.
Như vậy là thấy được rằng sự phục sinh của khu vực KTTN là một yếu tố

Sau thời kì đổi mới này Việt Nam đã áp dụng nhiều chính sách quan trọng và
đồng bộ để xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang kinh tế thị trường.
25
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT

Trích đoạn Khó khăn trong việc tiếp cận khoa học công nghệ. 1 Bối cảnh kinh tế mới: Quan điểm định hướng Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân: Về phía Nhà nước: 2 Về phía doanh nghiệp:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status