Định hướng và giải pháp cơ bản để phát triển Kinh tế tư nhân ở Việt Nam - Pdf 12

Khoá luận tốt nghiệp
LỜIMỞĐẦU
Trong điều kiện toàn cầu hoá diễn ra như hiện nay, kinh tế tư nhân (KTTN)
ngày càng thể hiện rõ vai trò tích cực của mình trong quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế. Đặc biệt, trong những năm thập niên cuối của thế kỷ XX vàđầu thế kỷ
XXI, khi Thuyết tự do hoáđược vận dụng rộng rãi ở nhiều nước và trào lưu cải
cách, mở cửa, thúc đẩy kinh tế thị trường trở thành phương thức chính thức thúc
đẩy tăng trưởng của nhiều nước đang phát triển vàđặc biệt là các nền kinh tế
chuyển đổi, KTTN một lần nữa khẳng định là một trong những cấu thành quan
trọng của mọi nền kinh tế quốc dân. Điều này cũng không ngoại lệ với Việt Nam.
Việt Nam chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, do vậy vai
trò của khu vực KTTN đang được chú trọng rất nghiêm túc vàđúng đắn.
Nghị quyết Trung ương 5 (khoá IX) đã chỉ rõ: “ Hơn 10 năm qua, thực hiện
đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, được sựđồng tình hưởng
ứng của nhân dân, KTTN gồm kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân,
hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư
nhân, đã phát triển rộng khắp trong cả nước đóng góp quan trọng vào phát triển
kinh tế, huy động các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định
chính trị- xã hội của đất nước”.
Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn gặp
nhiều vướng mắc, còn nhiều rào cản hạn chế sự phát triển và hoạt động kinh doanh
của khu vực kinh tế này.
Để tạo điều kiện cho KTTN phát triển đúng với tiềm năng của nó cần phải
có nhận thức đúng, cũng như cóđánh giáđúng về những đóng góp của khu vực
KTTN với sự phát triển kinh tếở Việt Nam. Chính vì vậy, em chọn đề tài “ Kinh tế
tư nhân Việt Nam - thực trạng và giải pháp” làm khoá luận tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu đề tài là phân tích KTTN trên phương diện lý luận và
thực tiễn để tìm ra những nguyên nhân cụ thể và những rào cản cản trở sự phát
triển của khu vự kinh tế tư nhân, qua đó có thểđưa ra các giải pháp cũng như
phương hướng giúp thành phần kinh tế này có sự phát triển đúng hướng đạt hiệu

trên cơ sở chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và sử dụng lao
động làm thuê. Trong điều kiện quáđộ lên chủ nghĩa xã hội thành phần kinh tế này
đóng góp vai tròđáng kể. Xét về phương diện phát triển lực lượng sản xuất, xã hội
hoá sản xuất, đặc điểm của thành phần kinh tế này do một nhà tư bản trong và ngoài
nước đầu tưđể sản xuất. Thành phần kinh tế tư bản tư nhân bao gồm doanh nghiệp
tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh.
Kinh tế cá thể là thành phần kinh tế sở hữu mà thu nhập dựa hoàn toàn vào
lao động, vốn của bản thân và gia đình. Kinh tế cá thể tiểu chủ cũng là hình thức
kinh tế tư hữu nhưng có thuê lao động, tuy nhiên thu nhập chủ yếu dựa vào sức lao
động vốn có của bản thân và gia đình. Thành phần kinh tế này cũng giữ một vị trí
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
quan trọng trong nhiều ngành nghề. Cóđiều kiện phát huy nhanh và hiệu quả về
vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình.
Như vậy, khu vực kinh tế tư nhân theo quan điểm chính thức ở Việt Nam
bao gồm các hình thức kinh tế sau đây:
- Kinh tế cá thểđược hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một
cá nhân hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động
của chính hộ hay cá nhân đó, không thuê mướn lao động làm thuê.
- Kinh tế tiểu chủ là hình thức kinh tế do một chủ tổ chức, quản lý vàđiều
hành, hoạt động trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và có sử dụng lao
động thuê mướn ngoài lao động của chủ; quy mô vốn đầu tư và lao động nhỏ hơn
của các hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty
cổ phần.
- Kinh tế tư bản tư nhân bao gồm các doanh nghiệp đang hoạt động theo luật
doanh nghiệp của Việt Nam và chúng bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau:
+Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
+Công ty trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp trong đó thành viên chịu
trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong

nhuận là hàng đầu, chính vì vậy đây làđặc điểm khác biệt so với một số doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước.
Thứ hai: Kinh tế tư nhân có quy môđa dạng và khả năng tối ưu hoá tổ chức
sản xuất.
Với đặc điểm hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh nên
kinh tế tư nhân luôn phải lựa chọn các quy mô phù hợp để tối ưu hoá tổ chức sản
xuất, cũng chính vì lẽđó mà kinh tế tư nhân tồn tại với quy mô rất đa dạng, từcác
công ty xuyên quốc gia khổng lồ cho tới doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây cũng
làđiểm khác biệt với các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Các doanh nghiệp
thuộc sở hữu Nhà nước thường có quy mô khá lớn, rất ít các doanh nghiệp quy mô
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
nhỏ. Lý do tồn tại các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn ở một số nước bởi lẽ,
một số doanh nghiệp cung cấp hàng hoá công cộng hoặc vì một lý do nào đó mà
doanh nghiệp đóđược tồn tại độc quyền nên quy mô lớn mới hiệu quả. Tuy nhiên
trên thực tế các doanh nghiệp quy mô lớn thuộc sở hữu nhà nước thường mở rộng
quy mô không vì sự tối ưu hoá sản xuất mà vìđộng cơ muốn mở rộng doanh nghiệp
để có thêm các đặc quyền và uy lực của người lãnh đạo. Điều này khác với kinh tế
tư nhân, quy mô sản xuất có thể mở rộng hoặc thu hẹp đểđạt mục tiêu tối ưu hoá
sản xuất. Cũng chính vì khả năng lựa chọn quy mô sản xuất hợp lý mà các doanh
nghiệp thuộc khu vực tư nhân sử dụng lao động một cách hiệu quả. Các chủ doanh
nghiệp tư nhân thường căn cứ vào yêu cầu thực sự của công việc để tuyển chọn
người và căn cứ vào năng lực đóng góp của người lao động để có cơ chế trả công
hợp lý, khuyến khích được người lao động vàđào tạo được một đội ngũ doanh nhân
và công nhân kỹ thuật lành nghề cho nền kinh tế. Đồng thời chủ doanh nghiệp cũng
có thể sa thải ngay tức thì những lao động yếu kém, không hiệu quả. Đây cũng
làđiểm khác biệt với cơ chế trả công một cách bình quân chủ nghĩa trong các doanh
nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, vàđó là một vật cản lớn cho tính hiệu quả của các
doanh nghiệp này.
Thứ ba: Kinh tế tư nhân là các đơn vị kinh tế có tính năng động và linh hoạt

quyền quyết định hoàn toàn mọi quá trình sản xuất kinh doanh vàđương nhiên các
quyết định đóđi liền với quyền lợi và trách nhiệm của chính họ. Nguyên tắc hoạt
động của kinh tế tư nhân là “bốn tự”, đó là tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong kinh
doanh và tự bù lỗ. Đây là cơ chếđể gắn kết kết quả hoạt động (lợi ích) với năng lực
hoạt động của chính các chủ doanh nghiệp tư nhân. Kinh tế tư nhân hoạt động bởi
chính vốn liếng của mình (cho dù là vốn vay) nên mọi quyết định phải được cân
nhắc kỹ lưỡng và mang lại hiệu quả, tức phải sinh lời, phải làm cho hoạt động kinh
doanh luôn phát triển, đồng vốn phải không ngừng lớn lên. Điều này khác biệt với
các giám đốc doanh nghiệp Nhà nước hay nhà quản lý trong kinh tế tập thể, họ hoạt
động không dựa trên vốn hay không hoàn toàn trên đồng vốn của chính mình màđó
là vốn liếng của Nhà nước, của tập thể. Quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản
trong các đơn vị kinh tế này không có sự thống nhất, chính vì vậy mà trách nhiệm
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
và quyền lợi thường không đi liền với nhau, do đó các quyết định của họ sẽ có thể
không phản ánh sự thận trọng, kỹ lưỡng và tính hiệu quả. Mục đích lãnh đạo của họ
có thể không chỉ là làm cho doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận mà là các mục
đích khác như thăng tiến ở một chức vụ quản lý khác cao hơn.
Trên đây là các đặc điểm rõ nét nhất về khu vực kinh tế tư nhân ở các nước
khi so sánh với khu vực kinh tế công cộng vàđây cũng là những ưu thế của kinh tế
tư nhân so với kinh tế công cộng trong tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên kinh tế tư nhân cũng có mặt trái của nó mà chính vì lẽđó, sự tồn
tại khu vực kinh tế công cộng ở mọi quốc gia là khách quan và cần thiết bởi vai trò
của chúng trong việc cung cấp hàng hoá công cộng và một số hàng hoá - dịch vụ
khác mà khu vực tư nhân cung cấp không hiệu quả xét về khía cạnh hiệu quả xã hội.
Đối với các nước đang phát triển vàđang chuyển đổi, khu vực kinh tế tư
nhân có một sốđặc điểm sau:
+ Kinh tế tư nhân ở các nước chuyển đổi được hình thành từ nhiều con
đường khác nhau, ngoài hình thức tự phát triển, thành lập mới các doanh nghiệp tư
nhân thì còn một con đường khác là chuyển đổi sở hữu, tư nhân hoá các xí nghiệp

Có thể khẳng định ở mọi quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, khu
vực kinh tế tư nhân có vai trò rất quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Do
tính năng động, linh hoạt và hiệu quả nên kinh tế tư nhân luôn có tốc độ tăng trưởng
cao hơn khu vực kinh tế công cộng và sựđóng góp này tạo động lực cho tăng trưởng
kinh tế các nước. Mức độđóng góp của khu vực kinh tế này vào GDP thường dao
động từ 40-70% GDP của nền kinh tếở hầu hết các quốc gia.
Nguồn vốn là yếu tốđầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất. Trong một nền
kinh tếđang phát triển nguồn vốn rất khan hiếm vàđặc biệt đối với các nền kinh tế
chuyển đổi như Việt Nam thì nguồn vốn càng khan hiếm hơn, khi các tổ chức tài
chính chưa phát triển và không có khả năng huy động tiền tiết kiệm từ dân cư, cũng
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
như hạn chế của ngân sách trong việc phân bổ vốn cho đầu tư. Do đó khả năng huy
động vốn của khu vực KTTN trở nên rất quan trọng.
Nếu các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN được đặt trong môi trường kinh
doanh bình đẳng vàđược tạo cơ hội thuận lợi thì các chủ doanh nghiệp có thể tự tin
mạo hiểm với khoản tiền tiết kiệm quý giá của bản thân họ, thậm chí của họ hàng và
bạn bè họđể theo đuổi mục tiêu lợi nhuận. Môi trường kinh doanh bình đẳng sẽ
khiến các chủ doanh nghiệp có thể kiểm soát ở mức độ nào đó các hoạt động và số
phận kinh doanh của họ. Tuy nhiên do hệ thống tài chính kém phát triển nên các
khoản tiền tiết kiệm có thể trở thành vốn sẵn có của các doanh nghiệp nhưng lại tồn
tại dưới hình thức khác nhau nằm ngoài các thể chế tài chính chính thức.
Thứ hai: Phát triển kinh tế tư nhân góp phần tạo ra các cơ hội việc làm. Một
kết quả của việc huy động vốn và hình thành vốn của các doanh nghiệp tư nhân là
tạo ra cơ hội việc làm cho các thành viên khác trong cộng đồng. Việc làm sẽ mạng
lại thu nhập cao cho những người lao động và nâng cao mức sống của gia đình họ.
Nhìn chung, chủ doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN khác với các nhà quản
lýở các doanh nghiệp nhà nước ở chỗ họ có quyền quyết định lớn hơn trong việc
thuê mướn lao động (số lượng, kỹ năng cần thiết của người lao động). Vì vậy không
những các doanh nhân hoàn toàn có thể tăng số lượng lao động làm thuêtheo ý họ

sẽ làm họ bỏ qua vấn đề môi trường tạo ô nhiễm môi trường và vấn đề công bằng
xã hội mà nền kinh tế nào cũng mong muốn đạt tới.
Như vậy KTTN có vai trò rất tích cực trong qúa trình thúc đẩy sự phát triển
kinh tế, nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại những mặt tiêu cực mang tính chất kìm hãm
sự phát triển của nền kinh tế và của khu vực này. Để hạn chế những tiêu cực này
đòi hỏi Nhà Nước phải có biện pháp can thiệp thích hợp và những chính sách cụ
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
thểđể có thể làm cho khu vực KTTN phát huy hết những vai trò tích cực của nó và
hạn chế tối đa những mặt tiêu cực mà nó có thể gây ra.
1. 3 KINHNGHIỆMPHÁTTRIỂN KTTN ỞMỘTSỐQUỐCGIA:
1. 3. 1 Phát triển kinh tế tư nhân ở một số nước:
* Hungary:
Trên thế giới hiện nay có hơn 180 quốc gia có nền kinh tế thị trường với khu
vực tư nhân làm nòng cốt. Tuy nhiên chỉ có hơn 30 quốc gia trong sốđó trở nên
giàu có một số nước trước đây đi theo mô hình kế hoạch hoá tập trung, phủ nhận sự
tồn tại của khu vực KTTN do đó mà nền kinh tếđã lâm vào tình trạng trì trệ kém
phát triển.
Sự tồn tại của KTTN trong nền kinh tế thị trường là tất yếu. Tuy nhiên để
phát triển bền vững cần có các điều kiện sau:
- Tự do hoá nền kinh tế, mở rộng tự do cạnh tranh, phát huy tối đa thế mạnh
của cơ chế thị trường tạo điều kiện phát triển KTTN phát huy được vai tròđịnh
hướng điều tiết của Nhà Nước bằng chiến lược và các công cụ chính sách.
- Các nước có khu vực KTTN phát triển đãđạt được những thành công lớn
trong phát triển kinh tế là các nước NIC, Tây Âu, các nước thuộc Châu Á Thái Bình
Dương. Đây là những nước có khu vực KTTN phát triển năng động nhất.
Hungary là nước đầu tiên ở Trung Âu thực hiện cải cách kinh tế và chính trị,
tiên phong trong số các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện công cuộc cải cách sang
nền kinh tế thị trường. Về mặt lịch sử, Hungary đã thực hiện những bước đi đầu tiên
trong việc tự do hoá chính sách kinh tế của mình bằng việc đưa ra một “cơ chế kinh

sẻ. Quá trình chuẩn bị tư nhân hoá những doanh nghiệp lớn thực hiện tốt do đã lựa
chọn được đối tượng cóđủ khả năng vật chất để tiếp tục duy trì hoạt động có hiệu
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
quả trên cơ sởđổi mới công nghệ. Việc tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước lớn
được thực hiện từ 1993 – 1996 (ngân hàng, doanh nghiệp ngành năng lượng… )
Tư nhân hoáở Hungary được thực hiện đại trà từ 1993 – 1997. Năm 1994 do
có bầu cử một số thay đổi cơ cấu chính trị nên quá trình tư nhân hoá chậm lại. Đỉnh
cao của quá trình tư nhân hoá là năm 1995: 1/3 số doanh nghiệp được tư nhân hoá
trong năm 1995, kể cả các ngành chiến lược nhưđiện, năng lượng…
Chính phủ Hungary đã xây dựng cơ sở pháp lý cho việc tư nhân hoá bằng
việc ban hành một số luật. Luật công ty đảm bảo cơ sở cho các công ty cổ phần và
các loại hình công ty hoạt động. Năm 1995, Hungary ban hành luật tư nhân hoá, luật
tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần và công ty trách nhiệm
hữu hạn. Toàn bộ doanh nghiệp nhà nước của Hungary đều được chuyển sang hoạt
động theo luật công ty trước khi tư nhân hoá.
Từ năm 1992 – 1995, các quy định của nhà nước đã thay đổi nhiều lần: Nội
dung điều chỉnh chủ yếu là những doanh nghiệp nhà nước cần duy trì mức sở hữu
50%, 60% hay 100%. Đến năm 1995 đãđịnh nghĩa chính xác doanh nghiệp không
tư nhân hoá bao gồm một số công ty dịch vụ công cộng, chiến lược hoặc quốc
phòng. Hiện nay đã xác định nhà nước sẽ nắm giữ cổ phần lâu dài trong các công ty
điện lực (duy trì mức sở hữu 51%) công ty bán buôn, bán lẻ dược phẩm, công ty
thép và sẽ duy trì lâu dài sở hữu nhà nước trong 3 doanh nghiệp thuộc ngành năng
lượng, 3 doanh nghiệp hàng không, 27 nông trường, 17 lâm trường, 24 doanh
nghiệp giao thông liên tỉnh và một ngân hàng…
Các hình thức tư nhân hoáở Hungary được quy định rõ ràng trong luật tư
nhân hoá cụ thể:
- Đấu thầu công khai là hình thức chủ yếu được áp dụng. Hơn 90% tài sản
nhà nước được tư nhân hoá thông qua đấu thầu công khai. Nhờđóđãđạt được tính
chất minh bạch rõ ràng. Trên thực tế, việc tư nhân hoá những công ty lớn được thực

Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
Hungary không có chiến lược quáưu đãi cho người mua nội địa thông qua
phiếu đền bù và tín dụng ngân hàng. Hungary có chương trình cổ phần hoá cho
người lao động nhưng thực ra quy mô không lớn vì tư nhân hoá nhằm mục tiêu
hiệu quả và chọn đối tượng có vốn nhiều nhất.
Hungary có chính sách khuyến khích người nước ngoài tham gia cổ phần
hoá. Khoảng 60 -62% tài sản doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá cho người
nước ngoài. Sản xuất của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng
30% GDP.
Tuy nhiên trong quá trình tư nhân hoáở Hungary nổi lên một vấn đề quan
trọng là nợ lẫn nhau giữa các doanh nghiệp nhà nước và nợ ngân hàng rất lớn.
Sau đây là hình ảnh mà khu vực kinh tế tư nhân Hungary cóđược trong
những năm cuối 1980.
Bảng 1.1: Tăng trưởng công nghiệp tư nhân vừa và nhỏ và của thương nghiệp bán
lẻ tư nhân ở Hungary.
Năm
Số lượng thợ
thủ công làm
riêng(%)
Số công nhân
của các thợ
thủ công(%)
Số tư thương
bán lẻ (%)
Số lao động
của các tư
thương (%)
1984 100 100 100 100
1985 104. 8 108. 1 113. 7 121. 5

vàđạt được những thành tựu to lớn hàng năm doanh nghiệp tư nhân mới xuất hiện,
đồng thời các doanh nghiệp yếu kém lại đào thải, giải quyết nhiều công ăn việc làm,
kích thích tính cạnh tranh trong nền kinh tế, hoàn thiện thị truờng và thu hút vốn
đầu tư nước ngoài.
* Trung Quốc:
Bước vào đột phá Trung Quốc hướng vào kinh doanh hộ gia đình quy mô
nhỏ vàđặc biệt trong nông nghiệp. Tầm quan trọng của các hộ kinh doanh qui mô
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
ngoài nông nghiệp cũng đã tăng lên rất đáng kể ( số liệu dưới đây sẽ cho ta thấy
điều này).
Bảng 1. 2: Sự phát triển khu vưc tư nhân phi nông nghiệp.
Năm 1981(nghìn) 1988(nghìn) 1988/1981(%)
Số các xí
nghiệp tư nhân
1829 14527 794
Số lao động
trong xí nghiệp
tư nhân
2274 23049 1. 014
Nguồn: Beijing Review,27-2-1989 và Peoples Daily 11-3-1989
Các lĩnh vực hoạt động chủ yếu được thừa nhận thấy trong hình thức này là
sửa chữa và bảo dưỡng, vận chuyển hành khách và hàng hoá, xây dựng, thương
nghiệp bán lẻ, ăn uống, và các dịch vụ khác.
Trung Quốc có rất nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, trước đây Trung
Quốc đã xây dựng nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp và sự kém phát triển, trì
trệ là không tránh khỏi. Sự chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, vai trò
KTTN trong nền kinh tế thị trường đã làm cho Trung Quốc “thay da đổi thịt” nền
kinh tế. Có thể nói thay đổi quan trọng nhất trong nền kinh tế Trung Quốc những
năm 90 là việc tư nhân hoá. Theo thống kê, 80% doanh nghiệp do nhà nước sở hữu

trường Trung Quốc đã mở cửa cho nhiều đối tác nước ngoài và khuyến khích các
doanh nghiệp tham gia hội nhập. Tuy nhiên một số lĩnh vực mà các doanh nghiệp tư
nhân vẫn chưa được phép tham gia như tài chính, thị trường đất đai, trước sự khôi
phục nhanh chóng của khu vực tư nhân Trung Quốc cho rằng phải nhanh chóng có
các chính sách mở cửa các lĩnh vực này để doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia
phá vỡ thếđộc quyền nhà nước.
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
- Thúc đẩy sự hình thành và ra đời các tổ chức trung gian để tìm kiếm các cơ
hội kinh doanh, quan hệ với các cơ quan công quyền, đào tạo thu thập thông tin, duy
trì trật tự thị trường.
Một số vấn đề cần tiếp tục được giải quyết trong phát triển kinh tế tư nhân ở
Trung Quốc:
Về tài chính có 3 cách để các doanh nghiệp tư nhân tiếp cận các nguồn tài
chính: vay phi chính thức, vay từ ngân hàng và huy động vốn thông qua thị trường
chứng khoán.
Tính phi chính thức của doanh nghiệp tư nhân (cái cản trở tiềm năng phát
triển kinh tế tư nhân)
- Các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ không
thực hiện ghi chép sổ sách kế toán đầy đủ, nhiều trường hợp doanh nghiệp tư nhân
cốý sửdụng mánhkhoé trong việc ghi chép và lưu trữ nhiều loại sổ sách kế toán.
- Doanh nghiệp tư nhân dường như không cóý thức tuân thủ pháp luật.
- Các doanh nghiệp tư nhân không có cơ chế quản lý nội bộ hợp lý, không
minh bạch rõ ràng.
- Các doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa đánh giáđúng nguồn vốn con người.
Chẳng hạn 80 doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệpFDI, các doanh nghiệp tư
nhân thường trả một mức lương thấp cho các sinh viên mới tốt nghiệp.
Trên đây là kinh nghiệm của một số nước có nền kinh tế tương đồng như
Việt Nam. Trước đây các nước này đều theo cơ chế tập trung. Sau khi đổi mới họđã
nhận thức được vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân vàđã kịp thời nắm bắt cơ hội

nghiệp tư nhân chấp hành tốt điều lệĐảng và Pháp luật, chính sách của nhà nước thì
vẫn làĐảng viên của Đảng”.
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
Vấn đề tiếp theo là quan niệm về sự “bóc lột”. Chúng ta không thể coi một
doanh nhân bỏ vốn đầu tư tạo việc làm mang lại thu nhập ổn định cho người lao
động đồng thời phải chịu rủi ro trong kinh doanh là bóc lột.
Thứ hai: Cải cách doanh nghiệp nhà nước:
Khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, một trong những nội dung quan
trọng mà các nước chuyển đổi phải thực hiện là xây dựng khu vực kinh tế tư nhân
lớn mạnh. Do đó, vấn đề cải cách doanh nghiệp nhà nước là mục tiêu hàng đầu.
Việc kết hợp cải cách doanh nghiệp nhà nước với phát triển kinh tế ngoài
quốc doanh phụ thuộc trước hết vào định hướng chiến lược của quốc gia về mối
quan hệ giữa phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân. Đối với các nước
chuyển đổi ởĐông Âu như Hungary thìđịnh hướng chiến lược phát triển kinh tế của
họ là dựa hẳn vào khu vực kinh tế tư nhân. Tư nhân hoá doanh nghiệp nhà nước là
yếu tố quan trọng nhất trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Việt Nam đang trong
quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tếthị trường,
cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước được coi là trọng tâm hàng đầu. Do vậy
cần sắp xếp lại và thúc đẩy cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
Định hướng chiến lược hoặc sựđiều chỉnh có tính chiến lược đối với hai khu
vực kinh tế của Trung Quốc được thực hiện theo hướng “nắm lớn, thu nhỏ”, kinh tế
nhà nước phải nắm giữ chi phối những ngành nghề lĩnh vực then chốt của nền kinh
tế quốc dân.
Cải cách doanh nghiệp nhà nước điều quan trọng là phải tiến hành đồng thời
các chính sách phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ngay từ khi bắt đầu các
chương trình cải cách doanh nghiệp nhà nước.
Ngoài ra việc cải cách các doanh nghiệp nhà nước tất yếu dẫn đến chuyển
dịch lao động giữa khu vực nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân. Do đó phải có
chính sách hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm mới ở khu vực ngoài quốc

Cụ thể: số hộ kinh doanh tăng từ khoảng 0.84 triệu năm 1990 lên 2.2 triệu hộ năm
1996 và 3 triệu hộ tính đến cuối 2004, ngoài ra cả nước còn có khoảng 130.000
trang trại và trên 10 triệu hộ nông dân sản xuất hàng hoá.
Như vậy là thấy được rằng sự phục sinh của khu vực KTTN là một yếu tố
khách quan của nền kinh tế. Năm 1986 là mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi về
quan điểm, nhận thức của Đảng ta về KTTN.
Nguyễn Xuân Hạnh - 47KTCT
Khoá luận tốt nghiệp
Năm 1985, mặc dù về hình thức, kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm hai thành
phần là quốc doanh và tập thể vẫn giữ tuyệt đối trong nền kinh tế. Song do đã xuất
hiện những hạn chế, những yếu kém của nền kinh tế giai đoạn này mà hai thành
phần kinh tế trên không thể khắc phục. Nền kinh tế lúc này rơi vào khủng hoảng và
sa sút nghiêm trọng, lạm phát gia tăng, sản xuất đình trệ, đời sống dân cư khó khăn.
Lúc này đã xuất hiện các quan điểm mới vềđổi mới nền kinh tế. Tất cả các yếu tố
khách quan và chủ quan đóđã dẫn đến một dấu ấn quan trọng trong nhận thức của
Đảng ta, đó làđại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ VI (tháng 12/1986) đãđề ra
đường lối đổi mới nền kinh tế. Đây là giai đoạn đánh dấu những thay đổi căn bản
trong nhận thức về KTTN, sựđổi mới đó của Đại hội là xác định mục tiêu xây dựng
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước và phát triển
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó thị trường tự do và những người sản
xuất thuộc khu vực tư nhân được chấp nhận như là những bộ phận không thể thiếu
trong quá trình phát triển kinh tế.
Dưới đây là những điểm đổi mới trong tư duy từĐại hội Đảng lần thứ VI:
Thứ nhất: Đại hội xác định cơ chế thị trường có thể và cần phải cùng tồn tại
trong xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai: thừa nhận vai trò chủ thểđộc lập của doanh nghiệp và các hộ gia
đình.
Thứ ba: xác định kinh tế tư nhân là bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, là chủ
thể kinh tế khác trong quan hệ cạnh tranh.
Các quan điểm này đãđược Đảng hoàn thiện trong các kìĐại hội Đảng tiếp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status