Giải pháp tín dụng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế ngoài quốc doanh tại SGDI - NHCTVN,doc - Pdf 10

lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đất nớc ta sau mời lăm năm đổi mới đã đạt đợc những thành tựu to lớn về
kinh tế trong đó sự nghiệp CNH, HĐH là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt thời kỳ
qúa độ lên CNXH. CNH, HĐH chính là qúa trình tiến hành cách mạng khoa học kỹ
thuật và công nghệ, qúa trình cơ khí hóa, HĐH nền sản xuất, nó phải đợc gắn liền
với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động xã hội. Song để làm đ-
ợc điều đó thì cần phải có những điều kiện nhất định mà một trong những tiền đề
quan trọng hàng đầu là phải có sự tích luỹ về vốn. Sự đáp ứng vốn cho quá trình
CNH, HĐH có thể xuất phát từ vốn trong nớc hoặc vốn nớc ngoài nhng về cơ bản
thì vẫn dựa chủ yếu nguồn vốn trong nớc nhằm phát triển nội lực quốc gia, tận dụng
một cách tối đa những tiềm lực tiềm năng sẵn có.
ở nớc ta hiện nay, hệ thống NH, các TCTD là nguồn cung cấp vốn lớn nhằm
phát triển kinh tế - xã hội. NH với các nghiệp vụ của mình đã tập hợp nguồn vốn
nhàn rỗi để thoả mãn nhu cầu về vốn cho đầu t phát triển kinh tế, cho vay đối với
các dự án, các DN sản xuất kinh doanh.
Nhng thực tế, trong thời gian gần đây hoạt động đầu t TD đối với khu vực
KTNQD cha đợc hệ thống NHTM quan tâm thích đáng cả về mặt số lợng lẫn chất
lợng. Hơn nữa, vốn TD của các NH cho vay đối với khu vực KTNQD cha đợc hợp
lý, hiệu quả cha cao và thậm chí còn nhiều rủi ro. Vì vậy, mở rộng quy mô cũng
nh nâng cao hiệu quả hoạt động TD đối với KTNQD đang là vấn đề cần đợc quan
tâm trong giai đoạn hiện nay. Giải quyết vấn đề này không những tạo điều kiện cho
các DN nâng cao hiệu quả trong hoạt động, giúp khu vực KTNQD phát huy vai trò
của nó trong nền kinh tế mà còn góp phần thực hiện thành công sự nghiệp CNH,
HĐH đất nớc.
Sau một thời gian thực tập tại SGDI - NHCTVN em nhận thấy SGDI cũng
đang gặp khó khăn trong việc mở rộng cho vay đối với khu vực KTNQD. Từ tính
cấp thiết của vấn đề này nên em đã chọn đề tài: "Giải pháp tín dụng nhằm thúc
1
đẩy phát triển kinh tế ngoài quốc doanh tại SGDI - NHCTVN" làm đề tài Khoá
luận tốt nghiệp.

đối với sự phát triển kinh tế ngoài quốc doanh.

1.1. Những vấn đề cơ bản về khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh.
1.1.1. Khái quát về kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong nền kinh tế Việt Nam, KTNQD là một bộ phận cấu thành của nền
kinh tế quốc dân bao gồm hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp, HTX đến các công ty
t nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần... hoạt động trên tất cả các lĩnh vực
công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Với lĩnh vực tham
gia rộng rãi nh vậy, thành phần KTNQD đã tạo ra một phần không nhỏ GDP,
thúc đẩy tốc độ tăng trởng kinh tế, thu hút lao động, tận dụng khai thác tiềm
năng của đất nớc.
ở nớc ta, Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định nớc ta có
các thành phần kinh tế nh sau: Kinh tế quốc doanh, Kinh tế tập thể, Kinh tế cá
thể, Kinh tế t bản t nhân và Kinh tế t bản nhà nớc. Trong đó kinh tế quốc doanh
thực hiện tốt vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể để trở thành nền tảng của
nền kinh tế quốc dân.
Đảng ta xuất phát từ thực tế của đất nớc và vận dụng quan điểm của
V.I.Lênin: "Coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trng của thời
kỳ quá độ". Từ đó sở hữu t nhân đợc thừa nhận, KTNQD đợc tồn tại và phát
triển bình đẳng cùng kinh tế Nhà nớc.
Kinh tế quốc doanh: Là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu nhà nớc
về t liệu sản xuất chủ yếu, gồm những đơn vị mà toàn bộ vốn thuộc về nhà nớc
hoặc phần của nhà nớc chiếm tỷ trọng khống chế. Đại diện của các thành phần
3
kinh tế này là các DNNN, đó là các TCKT do Nhà nớc đầu t vốn thành lập và
tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích nhằm thực hiện
các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nớc giao. (Luật DNNN - Điều 1).
Kinh tế hợp tác: Là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập thể, gồm những
đơn vị kinh tế do ngời lao động tự nguyện góp vốn, góp sức kinh doanh theo

các thành viên cùng góp vốn cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tơng ứng
với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong
phạm vi vốn góp của mình vào công ty.
DN t nhân: Là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp
định, do một cá nhân làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về mọi hoạt động của DN.
Bên cạnh các thành phần kinh tế cơ bản kể trên cũng còn một số hình thức
kinh tế khác cùng song song tồn tại đó là những hình thức liên doanh liên kết
giữa các chủ thể trong nớc cũng nh trong nớc với nớc ngoài.
1.1.2. Đặc điểm và xu hớng phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh.
1.1.2.1. Đặc điểm của khu vực KTNQD.
Suốt một thời gian dài, nớc ta xây dựng kinh tế XHCN theo mô hình
"Quốc doanh hoá" và "Tập thể hoá", các thành phần KTNQD gần nh bị xoá bỏ.
KTNQD mới thực sự khởi sắc sau khi có Luật DN t nhân và Luật công ty đợc
Nhà nớc ban hành năm 1991. Chính những biến cố lịch sử nói trên đã quyết
định nên đặc điểm của thành phần KTNQD ở nớc ta.
Thứ nhất là cơ sở sản xuất phân tán, manh mún, thiết bị kỹ thuật công
nghệ lạc hậu rất nhiều so với thế giới. Phần lớn các dây chuyền máy móc thuộc
thập kỷ 60 - 70 nên năng suất lao động thấp, chất lợng xấu, giá thành cao, sức
cạnh tranh của sản phẩm kém. Hiện tại các DNNQD có công nghệ tiên tiến,
hiện đại không nhiều chỉ có một số xí nghiệp liên doanh, công ty có vốn đầu t
nớc ngoài đợc trang bị máy móc dây chuyền mới, còn hầu hết các đơn vị có
5
vốn đầu t trong nớc còn sử dụng công nghệ thủ công, dây chuyền thiết bị chắp
vá, thiếu đồng bộ. Theo các số liệu điều tra năm 1998 chỉ có 25% số DN và
20,5% số công ty t nhân sử dụng công nghệ hiện đại, 33,5% số DN và 18,7%
số công ty t nhân sử dụng công nghệ truyền thống, 38,5% số DN và 60,5% số
công ty t nhân kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại.
Hơn nữa trong cơ chế quản lý kinh tế bao cấp, lại bị Mỹ cấm vận trong
nhiều năm trớc đây nên thông tin về công nghệ, kỹ thuật mới còn thiếu, khả

trong việc lập kế hoạch tài chính. Việc lập kế hoạch tài chính, xây dựng phơng
án sản xuất có hiệu quả phụ thuộc vào nhiều nhân tố nh: trình độ, khả năng
quản lý kinh doanh của các DN, khả năng dự đoán về sự biến động của ngành,
của nền kinh tế... Do vậy DNNQD khó có thể xây dựng đợc kế hoạch tài chính,
phơng án sản xuất kinh doanh khả thi, trong khi thói quen sử dụng các dịch vụ
t vấn mang tính chuyên nghiệp cha hình thành. Đa số các DN t nhân quản lý
DN bằng kinh nghiệm theo cách suy nghĩ, hiểu biết của riêng mình. Nhiều ngời
trong số họ cha qua trờng lớp đào tạo nên ít hiểu biết về pháp luật, yếu kém về
năng lực và kiến thức.
Thứ năm, môi trờng sản xuất kinh doanh cha ổn định. Các thành phần
KTNQD phát triển thất thờng lúc lên, lúc xuống tuỳ thuộc vào chính sách quản
lý cụ thể của Nhà nớc (chính sách thuế, lãi suất cho vay, chính sách xuất nhập
khẩu...). Môi trờng kinh doanh đối với các thành phần KTNQD không thuận lợi
ngay từ khâu ban đầu là thủ tục đăng ký kinh doanh và thành lập DN. Thủ tục
này kể từ khi có Luật DN (đợc bắt đầu thực hiện từ ngày 1.1.2000) đã giảm đi
đợc nhiều khâu, song vẫn còn gây khó khăn cho các nhà kinh doanh muốn
thành lập DN, nh đăng ký kinh doanh đối với các loại hình DN thuộc mọi
ngành nghề đều phải tập trung về Sở kế hoạch - đầu t tỉnh, gây khó khăn cho
các tổ chức cá nhân muốn thành lập DN ở địa phơng xa tỉnh. Bên cạnh đó còn
7
có sự sách nhiễu, phiền hà của các cán bộ đăng ký kinh doanh làm cho các cá
nhân, tổ chức tốn kém cả về thời gian lẫn tiền bạc.
Việc thanh tra, kiểm soát chồng chéo hiện nay của các lực lợng thanh tra,
kiểm tra đang gây nhiều khó khăn cho các DN. Mỗi lực lợng tiến hành thanh
tra, kiểm tra theo cách của mình, thậm chí sai pháp luật, vợt quá quyền hạn và
phạm vi thanh tra.
Một trong những lĩnh vực mà khu vực DNNQD không có nhiều u đãi so
với các DNNN là quan hệ TD với NH. DNNQD luôn bị coi là những khách
hàng nhỏ, hoạt động theo kiểu chộp giật, quy mô hoạt động nhỏ, vốn tự có thấp
và uy tín cha cao, ngoài trừ DN có vốn đầu t nớc ngoài, DN liên doanh. Ngoài

1.1.2.2. Xu hớng phát triển của kinh tế ngoài quốc doanh.
1.1.2.2.a. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vốn đầu t trong nớc.
Với chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nớc đã kích thích phát huy nội
lực trong nền kinh tế. Các chủ thể kinh tế đợc tự do kinh doanh theo quy định
của pháp luật. Thành phần KTNQD có vốn đầu t trong nớc đã phát huy đợc thế
mạnh của nó, khu vực này bao gồm hai loại hình: DNNQD và Kinh tế hộ gia
đình.
Loại hình DN: Bao gồm những công ty đăng ký với số vốn không thấp
hơn mức vốn pháp định do Nhà nớc quy định, hoạt động theo Luật doanh
nghiệp. DNNQD hoạt động dới nhiều hình thức: DN t nhân do một t nhân làm
chủ, công ty cổ phần do những ngời nắm giữ cổ phiếu làm chủ, hoặc tham gia
dới hình thức HTX. Trong điều kiện nớc ta hiện nay phổ biến nhất là hai loại
hình công ty t nhân và công ty TNHH bởi nhiều lý do, trong đó lý do quan
trọng nhất là số vốn cần thiết cho việc thành lập và hoạt động nhỏ, còn sự phát
triển của công ty cổ phần vẫn còn tơng đối mới mẻ ở Việt Nam.
Trong những năm qua số lợng DNNQD tăng lên khá nhanh, theo ớc tính
hiện nay có khoảng 25.000 DNNQD đang hoạt động. Trong khi đó số DNQD
9
lại có xu hớng giảm xuống do tiến trình cổ phần hoá hoặc do kinh doanh kém
hiệu quả dẫn đến giải thể, phá sản của một loạt các DNNN. Vì vậy một bộ
phận lớn ngời lao động có trình độ, tay nghề đã chuyển từ DNNN sang làm
việc ở khu vực kinh tế t nhân do khu vực này đang làm ăn có hiệu quả.
Nhng một hạn chế lớn nhất đối với các DNNQD ở nớc ta là vốn cho đầu t
mở rộng sản xuất. Với nguồn vốn tự có chủ yếu dới dạng nhà xởng, máy móc
thiết bị do vậy sau một thời gian hoạt động sản xuất trang thiết bị trở nên lỗi
thời không còn thích ứng đợc với nhu cầu thị trờng. Để tồn tại và phát triển thì
phải đổi mới dây chuyền thiết bị, trang bị công nghệ hiện đại. Trong khi đó
nguồn vốn tự có lại có hạn, nguồn vốn đi vay cũng bị hạn chế bởi quy mô và tài
sản có. Nh vậy, trong tơng lai không xa một xu hớng tất yếu xảy ra đối với các
DN này là sự sát nhập cùng chung vốn vào sản xuất kinh doanh. Đó là tiền đề

quốc tế.
1.1.2.2.b. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vốn đầu t nớc ngoài.
Kể từ khi Nhà nớc thực hiện chính sách mở cửa, tham gia vào các quan hệ
kinh tế quốc tế, đã xuất hiện nhiều tổ chức nớc ngoài đầu t vào Việt Nam, hàng
năm khu vực này đóng góp một tỷ lệ lớn vào GDP, góp phần chuyển giao công
nghệ, khoa học quản lý hiện đại, thu hút lao động trong nớc với mức lơng cao,
đào tạo công nhân kỹ thuật, rèn luyện phong cách lao động công nghiệp hoá.
Trong những năm gần đây, hoạt động đầu t nớc ngoài đang đợc nhiều ng-
ời quan tâm và trên thực tế hoạt động này đã và đang đóng góp một phần không
nhỏ vào sự tăng trởng kinh tế đất nớc, mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế
quốc tế, từng bớc hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Hoạt động đầu t nớc ngoài
vào Việt Nam bắt đầu từ cuối năm 1987 và đợc đánh dấu bằng sự ra đời Luật
đầu t nớc ngoài. Từ đó tới nay hoạt động đầu t nớc ngoài ngày một tăng lên cả
về tổng số vốn đầu t, số lợng dự án đầu t, số nớc tham gia và các lĩnh vực đầu t.
Tuy vậy, từ năm 1997 đến nay hoạt động đầu t nớc ngoài có phần giảm sút so
11
với các năm trớc, đây đang là vấn đề đợc sự quan tâm chú ý của nhiều nhà kinh
tế. Phải thừa nhận rằng đầu t nớc ngoài giảm sút trong mấy năm qua có nhiều
nguyên nhân nh ảnh hởng của các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu
á, môi trờng đầu t cha hấp dẫn, thủ tục hành chính rờm rà, chính sách thuế
thiếu ổn định. Nhng với lợi thế ở nớc ta có nguồn lao động dồi dào, chịu khó,
có nguồn nguyên liệu rẻ, cùng với việc thực hiện các biện pháp khuyến khích
đầu t nớc ngoài của Chính phủ nh cải cách thủ tục hành chính, chính sách thuế,
giảm giá cho thuê đất. Chắc chắn trong tơng lai khu vực kinh tế có vốn đầu t n-
ớc ngoài sẽ phát triển một cách nhanh chóng, sẽ có ngày càng nhiều những dự
án kinh doanh có hiệu quả tạo công ăn việc làm cho ngời lao động và thúc đẩy
nền kinh tế phát triển.
1.1.3. Vai trò của kinh tế ngoài quốc doanh.
Trong những năm qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn song đợc sự
khuyến khích của Đảng và Nhà nớc, khu vực KTNQD đã dần dần khẳng định

luôn đổi mới, hoàn thiện để tồn tại và phát triển.
Thứ hai, sự phát triển KTNQD đã thu hút một lực lợng lớn lao động,
giảm sức ép về tình hình thất nghiệp cho đất nớc.
Nh chúng ta đã biết, khu vực KTNQD với quy mô vốn đầu t không nhiều
có thể dễ dàng thành lập bởi một cá nhân hay một số cổ đông liên kết lại dới
dạng công ty TNHH, công ty cổ phần... có mặt trong tất cả các ngành nghề nh:
nông nghiệp, công nghiệp, thơng mại và dịch vụ nên rất linh hoạt, có khả năng
tạo việc làm cho ngời lao động nhanh nhất, dễ dàng hơn nhiều so với khu vực
KTQD.
Từ khi chuyển sang cơ chế thị trờng, kinh tế tập thể đã thu hẹp lại, kinh tế
t nhân, cá thể phát triển nhanh chóng cả về số lợng, chất lợng cũng nh quy mô
hoạt động, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu t trong dân c vào mọi lĩnh vực sản
xuất vật chất và dịch vụ.
13
Trong những năm gần đây, cùng với số lao động đợc giải quyết việc làm
bằng vốn đầu t của ngân sách Nhà nớc chiếm 40% - 50% mỗi năm, và có 80 -
85 vạn lao động có thêm việc làm do các đơn vị t nhân bỏ vốn vào sản xuất
kinh doanh. Hiện nay, với chủ trơng giảm biên chế, khu vực KTNQD sẽ là nơi
thu hút lao động dôi ra từ các đơn vị, cơ quan nhà nớc và hành chính sự nghiệp.
Thứ ba, KTNQD phát triển góp phần tăng thu ngân sách cho Nhà nớc.
Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề tạo ra nguồn thu cho ngân sách
Nhà nớc. Khu vực KTNQD tồn tại và phát triển sẽ là nguồn đóng góp lớn cho
ngân sách Nhà nớc thông qua thuế. Hàng năm khu vực KTNQD đóng góp vào
ngân sách Nhà nớc khoảng 30%. Nguồn ngân sách Nhà nớc sẽ đợc dùng để đầu
t vào các ngành kinh tế mũi nhọn hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng hay giúp đỡ, hỗ
trợ một số ngành kinh tế yếu kém. Nói cách khác, khu vực KTNQD có vai trò
điều hoà thu nhập cũng nh đóng góp vào ngân sách Nhà nớc.
Thứ t, trong giai đoạn hiện nay, khi nớc ta đang thực hiện chính sách mở
cửa, từng bớc hội nhập với kinh tế thế giới thì các DNNQD sẽ trở thành cầu nối
cho sự hòa nhập đó.

1.2.1. Khái niệm tín dụng Ngân hàng.
Từ tín dụng xuất phát từ tiếng La-tinh "credo" có nghĩa là "sự giao phó"
hay "tôi đặt niềm tin vào đó", hoặc từ tiếng La-tinh "credittum" có nghĩa là "sự
tín nhiệm".
TD NH là một phạm trù kinh tế tồn tại qua nhiều hình thức xã hội khác
nhau. Tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau ta có những cách biểu hiện khác
nhau. Theo quan niệm truyền thống TD là mối quan hệ kinh tế trong đó một
ngời chuyển giao cho ngời khác, TCKT khác quyền sử dụng một lợng giá trị
hoặc một lợng hiện vật nào đó với những điều kiện đợc hai bên thoả thuận trớc,
những điều kiện đó thờng về số lợng, chất lợng, thời gian hoàn trả và lợng giá
15
trị tăng thêm. Hay nói cách khác, TD là sự chuyển nhợng tạm thời một lợng giá
trị từ ngời sở hữu sang ngời sử dụng để sau một thời gian sẽ thu hồi đợc một l-
ợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Theo Luật các TCTD: Cấp tín dụng là việc TCTD thoả thuận để khách
hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ
cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ khác.
Hoạt động TD có từ rất xa xa và phát triển qua các chế độ xã hội khác
nhau. TD nặng lãi tồn tại phổ biến trong xã hội phong kiến và hiện nay vẫn còn
tồn tại ở một số nơi, một đặc điểm của hình thức tín dụng này là lãi suất cho
vay rất cao từ vài chục cho đến hàng trăm %. Tín dụng nặng lãi không thúc đẩy
nền sản xuất mà nó chỉ nhằm mục đích phục vụ những nhu cầu tối thiểu của
con ngời.
Nền sản xuất kinh doanh hàng hoá ngày càng phát triển, các nhà kinh
doanh t bản hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận là chủ yếu, họ phải xem xét tới chi
phí vay vốn của mình, để có lãi trong kinh doanh nhà t bản không vay vốn với
lãi suất cao hơn tỷ suất lợi nhuận. Do đó, xuất hiện một hình thức tín dụng phù
hợp hơn đó là tín dụng thơng mại.
Tín dụng thơng mại là hình thức mua bán chịu lẫn nhau giữa các nhà sản
xuất hàng hoá, giữa các thơng nhân với nhau, giữa các nhà sản xuất với các th-

- Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất
nh phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên
liệu...
- Cho vay các định chế tài chính bao gồm cấp TD cho các NH, công ty
tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các
định chế tài chính khác.
17
- Cho vay cá nhân là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nh
mua sắm các vật dụng đắt tiền, các khoản cho vay để trang trải các chi phí
thông thờng của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
- Cho thuê. Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê
vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động
sản, trong đó chủ yếu là máy móc - thiết bị.
Thời hạn cho vay.
Theo căn cứ này cho vay đợc chia ra làm 3 loại sau:
- Cho vay ngắn hạn. Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và đợc sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lu động của các DN và các nhu cầu chi tiêu
ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn. Theo quy định hiện nay của NHNN Việt Nam, cho
vay trung hạn có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm.
TD trung hạn chủ yếu đợc sử dụng để đầu t mua sắm tài sản cố định, cải
tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng
các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Trong nông
nghiệp, chủ yếu cho vay trung hạn để đầu t vào đối tợng sau: máy cày, máy
bơm nớc, xây dựng các vờn cây công nghiệp nh cà phê, điều...
Bên cạnh đầu t cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình
thành vốn lu động thờng xuyên của các DN, đặc biệt là những DN mới thành
lập.
- Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối
đa có thể lên đến 20 - 30 năm, một số trờng hợp cá biệt có thể lên đến 40 năm.

+ Có tín nhiệm với TCTD cho vay trong việc sử dụng vốn vay và trả nợ
đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi.
19
+ Có dự án đầu t, hoặc phơng án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi, có
khả năng hoàn trả nợ; hoặc có dự án, phơng án phục vụ đời sống khả thi, phù
hợp với quy định của pháp luật.
+ Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
+ Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của
TCTD nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng TD; cam kết
trả nợ trớc hạn nếu không thực hiện đợc các biện pháp bảo đảm bằng tài sản.
Tổng mức cho vay không bảo đảm và điều kiện cho vay không bảo đảm
do NHNN quy định.
Phơng pháp hoàn trả.
Dựa vào căn cứ này cho vay của NHTM đợc chia làm hai loại:
- Cho vay có thời hạn là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thể
theo hợp đồng. Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ (hay còn gọi là phi trả góp) là loại cho
vay thanh toán một lần theo thời hạn đã thoả thuận.
+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể hay còn gọi là cho vay trả góp:
Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ. Loại
cho vay này chủ yếu đợc áp dụng trong cho vay bất động sản nhà ở thơng mại,
cho vay tiêu dùng, cho vay đối với những ngời kinh doanh nhỏ (cho vay chợ),
cho vay để mua sắm máy móc - thiết bị.
+ Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhng không có kỳ hạn nợ cụ thể, mà việc
trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của ngời đi vay. Hoặc cho vay này đợc
áp dụng theo kỹ thuật thấu chi.
Đối với loại cho vay có thời hạn khách hàng có thể trả nợ trớc hạn, nhng
NH đợc quyền thu lãi toàn bộ kỳ hạn trả nợ theo hợp đồng, trừ trờng hap có
những thoả thuận khác.
+ Cho vay không có thời hạn cụ thể.

Nghiệp vụ thanh tín hay còn gọi là mua các khoản phải thu là một hình
thức tài trợ vốn ngắn hạn. Nghiệp vụ này thờng do các công ty mua nợ thực
hiện.
Ngoài các loại cho vay trên đây, NH còn thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh
cho khách hàng bằng uy tín của mình. Đối với nghiệp vụ này NH không phải
cung cấp bằng tiền, nhng khi ngời đợc bảo lãnh không thực hiện đợc nghĩa vụ
theo hợp đồng thì ngời bảo lãnh phải thay thế để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Chính vì lý do trên, mà ngời ta gọi hành vi cam kết bảo lãnh của NH là TD
bằng chữ ký.
1.2.3. Vai trò của TD NH đối với sự phát triển khu vực KTNQD.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI khẳng định sự tồn tại của khu vực
KTNQD nh một tất yếu khách quan, đợc hoạt động sản xuất kinh doanh một
cách hợp pháp với những quy định, thể chế... Đặc biệt trong những năm gần
đây, sự tiếp cận của các NH đối với các DNNQD đã đóng một vai trò to lớn, đã
hỗ trợ kịp thời các điều kiện về vốn sản xuất, tạo điều kiện phát triển, nâng cao
hiệu quả kinh tế xã hội. Pháp lệnh NH ra đời với những quy chế TD, các chế độ
kiểm tra, kiểm soát và xử lý nợ chặt chẽ các khoản TD đã góp phần thúc đẩy
các DN hoạt động có hiệu quả. Ngoài ra, NH còn là nơi cung cấp vốn dồi dào
và an toàn nhất. Điều này không chỉ đúng với những nớc đang phát triển mà
còn thể hiện ngay ở những nơi mà thị trờng tài chính rất phát triển. Chẳng hạn
nh Mỹ là một nớc có thị trờng chứng khoán phát triển vào bậc cao nhất thế
giới, các DN có thể vay vốn thông qua thị trờng chứng khoán. Những số liệu
thống kê cho thấy vốn vay từ NH vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn
vay cuả DN Mỹ. Song không phải DN nào cũng có thể tham gia vào thị trờng
chứng khoán mà chỉ có những DN lớn, có uy tín. Quay trở lại Việt Nam, ta
thấy rằng các DNNQD, khi mà tình hình tài chính, sản xuất còn yếu kém và thị
trờng chứng khoán còn cha phát triển thì họ rất cần sự hỗ trợ từ các NH. Vì vậy
TD NH có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của khu vực KTNQD.
22
TD NH tạo điều kiện ra đời các DNNQD. TD NH có tác dụng điều tiết, h-

Nhận thức sâu sắc về vai trò to lớn của TD NH đối với việc phát triển nền
kinh tế nói chung và đối với khu vực KTNQD, chúng ta cần có biện pháp đúng
đắn để tạo điều kiện cho TD NH phát triển mạnh mẽ hơn nữa nhằm đáp ứng sự
phát triển không ngừng đối với nền kinh tế quốc dân.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hởng đến TD NH đối với khu vực KTNQD.
1.2.4.1. Nhóm nhân tố khách quan.
Một là, nhân tố kinh tế: Nền kinh tế là một thực thể gồm nhiều hoạt động
kinh tế có quan hệ biện chứng, ràng buộc lẫn nhau. Bất kỳ một sự biến động
của hoạt động kinh tế trong lĩnh vực nào đó cũng sẽ gây ảnh hởng đến việc sản
xuất kinh doanh của các lĩnh vực còn lại. Hoạt động TD NH chịu ảnh hởng của
các biến động kinh tế, do vậy sự biến động của nền kinh tế sẽ tác động mạnh
mẽ tới hoạt động TD NH đối với DN nói chung và DNNQD nói riêng.
Thật vậy, khi nền kinh tế ở tình trạng hng thịnh, tốc độ tăng trởng cao và
ổn định, môi trờng kinh doanh ít biến động thì nhu cầu vay vốn của DN tăng
lên để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm kiếm thêm lợi nhuận. Khi
đó hoạt động TD NH sẽ phát triển và ngợc lại, trong môi trờng kinh tế suy
thoái, TD NH sẽ bị thu hẹp, hoặc chí ít thì cũng không thể phát triển đợc.
Hai là, nhân tố xã hội bao gồm các nhân tố nh: trật tự an ninh, an toàn xã
hội, trình độ dân trí... có ảnh hởng trực tiếp tới quan hệ TD NH. Thật vậy, nếu
một nơi nào đó trật tự an ninh không đảm bảo, an toàn xã hội kém sẽ gây ra
tâm lý không yên tâm cho các chủ đầu t. Do đó nhu cầu vay vốn cũng bị hạn
chế, ảnh hởng đến việc mở rộng TD của các NH. Ngợc lại, nơi nào có trật tự an
ninh tốt, ít tệ nạn xã hội sẽ an toàn cho hoạt động đầu t. Điều đó khuyến khích
các chủ đầu t mở rộng quy mô hoạt động của mình. Nh vậy nhu cầu vay vốn
tăng lên, TD NH có cơ hội đợc phát triển.
24
Ba là, nhân tố pháp lý: Trong nền kinh tế thị trờng, mọi thành phần kinh
tế đều có quyền tự chủ về hoạt động sản xuất kinh doanh nhng phải đảm bảo
trong khuôn khổ pháp luật. Hoạt động TD NH cũng vậy, phải tuân theo mọi
quy định của NHNN, Luật các TCTD, Luật dân sự và các quy định khác. Nếu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status