tỷ giá hối đoái và đổi mới chính sách quản lý tỷ giá hối đoái ở việt nam hiện nay - Pdf 10

Tỷ giá hối đoái
Mục Lục
Lời mở đầu
Chơng I: Tổng quan lý luận chung về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ
giá hối đoái
I/- Tỷ giá hối đoái
1. Tỷ giá hối đoái là gì ?
2. Các nhân tố tác động lên quá trình hình thành tỷ giá
3. Tại sao tỷ giá hối đoái là quan trọng
II/-Lý thuyết về sự can thiệp của nhà nớc vào tỷ giá hối đoái
1. Vai trò của Ngân hàng trung ơng và các công cụ điều chỉnh tỷ giá
1.1- Các loại hình can thiệp của Ngân hàng Trung ơng
1.2- Mục đích ,khả năng can thiệp của Ngân hàng TW
1.3- Các công cụ can thiệp
2. Luận cứ lựa chọn chính sách tỷ giá
2.1- Chế độ tỷ giá tối u
2.2- Các yêu cầu khi lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái
2.3- Tỷ giá hối đoái với điều chỉnh hoạt động k/tế đối ngoại
III/-Lịch sử phát triển chế độ tỷ giá hối đoái trên thế giới
1. Chế độ bản vị vàng
2. Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods 1944
3. Chế độ tỷ giá thả nổi
Chơng II: Thực trạng tỷ giá hối đoái và chính sách quản lý
1
tỷ giá hối đoái ở Việt Nam hiện nay
I/- Nhìn lại sự phát triển của hệ thống tỷ giá ở Việt Nam
1. Giai đoạn từ năm 1955 đến 1989
2. Giai đoạn từ năm 1989 đến 1992
3. Giai đoạn từ năm 1992 đến 1995
4. Giai đoạn từ năm 1996 đến nay
II/- Đánh giá về cơ chế điều hành tỷ giá ở Việt Nam

4.2- Đối với chính sách tiền tệ, không ngừng chú trọng
hoàn thiện công cụ nghiệp vụ thị trờng mở nội tệ, công
cụ chủ chốt trong việc phối hợp chính sách.
4.3- Đối với chính sách tài chính, nguồn vốn trong nớc là
giải pháp khả dĩ cho việc bù đắp thâm hụt ngân sách.
5. Hoàn thiện công tác quản lý ngoại hối.
Lời kết.3
Lời mở đầu
Gắn liền công cuộc đổi mới và mở cửa ở nớc ta, có nhiều yêu cầu phải
giải quyết cùng lúc: Vừa ổn định, vừa phát triển kinh tế trong nớc, vừa mở
rộng giao lu thơng mại quốc tế, thu hút vốn đầu t nớc ngoài Nhu cầu mở
rộng lợng tiền cung ứng ngày càng lớn, dẫn đến sự xác lập quan hệ cung cầu
mới về tiền tệ, bắt đầu có tác dụng mạnh hơn đến sự vận động của tỷ giá hối
đoái; Trong khi đó vẫn tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô với hạt nhân là ổn định
tiền tệ, tạo lập nền tảng cho phát triển duy. Tình hình tỷ giá biến chuyển không
kém phần phức tạp kể từ sau năm 1992, một thời kỳ mà lạm phát đã nằm trong
vòng kiềm toả của Ngân hàng nhà nớc (gọi là thời kỳ hậu lạm phát).
Bám sát tình hình để từng bớc hoàn thiện và đổi mới chính sách quản lý
tỷ giá hối đoái là yêu câù khá bức xúc hiện nay. Song đây là vấn đề có thể nói
vẫn còn mới mẻ đối với Việt Nam, nên cha thấy đợc nghiên cứu một cách quy
mô, đầy đủ. Và đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế nhiều thuộc
tính và đặc trng mới đã xuất hiện nhng cha đợc định hình rõ ràng nên việc điều
hành tỷ giá trong quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trờng ở nớc ta vẫn cha đợc giải
quyết thoả đáng tơng xứng với vị trí của nó trong hệ thống lý luận thực tiễn.
Vấn đề tỷ giá hối đoái nói chung và chính sách quản lý tỷ giá hối đoái nói
riêng luôn đợc Chính phủ các nớc và các nhà kinh tế quan tâm xem xét, nghiên
cứu hàng ngày vì là yếu tố có ảnh hởng lớn đến cả nền kinh tế và là một mảng

dung và tác động lên quá trình hình thành TGHĐ .Đó là:
+ Sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nớc hữu quan
+ Trạng thái cán cân thanh quốc tế toán trực tiếp ảnh hởng đến cung
cầu ngoại tệ thông qua đó tác động lên mức tỷ giá và kéo theo sự dao động
của tỷ giá lệch khỏi sức mua của các đồng tiền
+ Chênh lệch mức lãi suất giữa các nớc ,giữa thị trờng tín dụng nội địa
và quốc tế
6
+ Thực trạng hoạt động của các thị trờng tài chính ,ngoại hối và các xu
hớng nghiệp vụ đầu cơ ảnh hởng đến tỷ giá
+ Hệ số tín nhiệm đối với các đồng tiền trên thị trờng tài chính trong
nớc và quốc tế
+ Các phơng thức ,công cụ điều chỉnh can thiệp của nhà nớc
+ Các cú sốc kinh tế ,chính trị,xã hội và các quyết sách lớn của nhà nớc
trong lĩnh vực kinh tế ,tài chính, tiền tệ.
3. Tại sao tỷ giá là quan trọng
Tỷ giá là quan trọng vì nó tác động đến giá cả tơng đối của hàng hoá
trong nớc và hàng hoá nớc ngoài
Khi đồng tiền của một nớc tăng giá ( tăng giá trị so với đồng tiền khác )
thì hàng hoá của nớc đó tại nớc ngoài trỏ thành đắt hơn và hàng hoá nớc ngoài
trở thành rẻ hơn ( gía nội địa tại hai nớc giữ nguyên).Ngợc lại khi đồng tiền
của một nớc sụt giá,hàng hoá của nớc đó tại nớc ngoài trở thành rẻ hơn trong
khi hàng hoá nớc ngoài tại nớc đó trở thành đắt hơn.
Một việc tăng giá của một đồng tiền có thể làm cho những nhà sản xuất
nớc đó khó khăn trong việc bán hàng của họ ở nớc ngoài và có thể tăng sự
cạnh tranh của hàng nớc ngoài tại nớc mình bởi vì giá nó giảm đi .Nh vậy
TGHĐ tác động đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trờng quốc tế.
II/- Lý thuyết về sự can thiệp của nhà n ớc vào TGHĐ
1. Vai trò của NHTW và nội dung các công cụ điều chỉnh tỷ giá
a/- Các loại hình can thiệp của NHTW

* Phơng pháp lãi suất chiết khấu
Đây là phơng pháp thờng sử dụng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị
trờng. Với phơng pháp này , khi tỷ giá hối đoái đạt đến mức báo động cần phải
can thiệp thì NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu . Do lãi suất chiết khấu tăng ,
8
lã suất cho vay trên thị trờng cũng tăng lên Kết quả là vốn vay ngắn hạn trên
thị trờng thế giới sẽ dồn vào để thu lãi suất cao hơn . Nhờ thế mà sự căng thẳng
về nhu cầu ngoại tệ sẽ bớt đi , làm cho tỷ giá không có cơ hội để tăng nữa
Tuy nhiên chính sách lãi suất chiết khấu cũng có những hạn chế nhất
định , vì quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá chỉ là quan hệ tác động qua lại một
cách gián tiếp , chứ không phải là trực tiếp nhân quả.
Lãi suất do quan hệ cung cầu của vốn vay quyết định. Nó có thể biến
động trong phạm vi tỷ suất lợi nhuận bình quân , và chỉ trong trờng hợp thật
đặc biệt nó có thể vợt qua tỷ suất lợi nhuận bình quân . Còn tỷ giá thì do quan
hệ cung cầu về ngoại tệ quyết định . Quan hệ này bị chi phối chủ yếu bởi tình
hình của cán cân thanh toán . Điều này có nghĩa là các yếu tố để hình thành
lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do vậy mà biến động của lãi suất không
nhất thiết kéo theo sự biến động của tỷ giá
* Các nghiệp vụ thị trờng hối đoái.
Thông qua các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ điều chỉnh tỷ giá hối đoái
là một trong những biện pháp rất quan trọng của nhà nớc để giữ vững sự ổn
định sức mua của đồng tiền quốc gia . Đây là biện pháp trực tiếp tác động vào
tỷ giá hối đoái
Việc mua bán ngoại tệ đợc thực hiện trên nguyên tắc diễn biến giá cả
ngoại tệ trên thị trờng và ý đồ can thiệp mang tính chất chủ quan của nhà nớc.
Việc can thiệp này không nên áp đặt máy móc và vi phạm các quy luật kinh
tế mà phải là hành động có cân nhắc cân nhắc, tính toán kỹ lỡng những nhân
tố thực tại cũng nh chiều hớng phát triển trong tơng lai của kinh tế , thị trờng
tiền tệ và giá cả.
Điều chỉnh tỷ giá theo phơng pháp này, chính phủ thờng gặp phải

sự tăng giảm của tỷ giá hối đoái
10
Giải pháp phá giá đồng tiền là một biện pháp mạnh ,cực đoan ,chỉ đợc
sử dụng trong trờng hợp hết sức cần thiết .Phá giá không chỉ bao gồm cả nội
dung về chính trị và xã hội . Vì vậy nó là một bài toán không phải lúc nào
cũng vận dụng đợc và không phải ai cũng có thể dùng nó để giải quyết những
vấn đề kinh tế gay cấn của đất nớc.
Bên cạnh việc giảm giá sức mua đồng bản tệ là việc nâng giá sức mua
đông bản tệ.
Việc nâng giá sức mua của đồng bản tệ đối với ngoại tệ thờng xảy ra
trong trờng hợp sau đây :
+ Giá hàng hoá và dịch vụ trong xuất khẩu đợc xác định thấp so với
giá trên thị trờng thế giới.
+ Hạn chế xuất khẩu do sức ép của các nớc bạn hàng nhằm tạo thế cân
bằng trong thơng mại quốc tế
+ Tăng khả năng nhập khẩu cũng nh kiềm chế lạm phát
Việc nâng giá đồng bản tệ cũng có thể xuất phát từ tình trạng phải tiếp
nhận các ngoại tệ đang bị mất giá và trở thành một công cụ hữu hiệu để ngăn
ngừa cá ngoại tệ đang bị mất giá chạy vào nớc mình.
2. Luận cứ lựa chọn chính sách tỷ giá và quan hệ của nó với chính sách
tài chính, tiền tệ.
a/- Chế độ tỷ giá tối u
Khi có câu trả lời đúng ,dứt khoát về một nớc nhỏ sẽ có lợi khi áp dụng
chế độ TGHĐ cố định hay linh hoạt .Nói chung sự quản lý tối u TGHĐ phụ
thuộc v ào các mục tiêu kinh tế của các nhà hoạch định chính sách ,vào nguồn
gốc của các cơn sốc đối với nền kinh tế và đặc trng cơ cấu của nền kinh tế
đang xét.Vì vậy các giả thiết khác nhau về nhân tố đó có thể dẫn đến sự thay
đổi về mức độ tối u của chế độ TGHĐ
Vấn đề tiêu chuẩn tối u về nguyên tắc cần phải đợc cụ thể hoá .Trong
thực tế các phân tích hiện đại đã tập trung vào tiêu chuẩn tơng đối hẹp của ổn

khó mà áp dụng các tiêu chuẩn đó cho các trờng hợp cụ thể .Các khó khăn đó
không những liên quan đến các vấn đề thực tiễn ,sự nhận biết nguồn gốc các
12
cơn sốc và các đặc trng cơ cấu mà còn liên quan đến mâu thuẫn tiềm tàng
giữa các mục tiêu chính sách khác nhau .
Tiêu chuẩn để lựa chọn một chế độ TGHĐ thích hợp còn phụ thuộc vào
các mục tiêu chính sách do chính phủ đặt ra .Các nghiên cứu về các lợi thế của
TGHĐ cố định và linh hoạt hầu nh là dành cho trờng hợp một nền kinh tế nhỏ
không trải qua lạm phát cao và nói chung ở trạng thái cân bằng ngoại ,và chịu
tác động của các cơn sốc tạm thời .Trong lợc đồ đó,nên tập trung vào ổn định
tổng sản phẩm ,thay cho cân bằng cán cân thanh toán quốc tế là mục tiêu
chính sách chủ yếu .Thực vậy tổng sản phẩm sẽ ổn định bởi chính cán cân
thanh toán quốc tế làm chức năng hấp thụ các cơn sốc,để triệt tiêu tác động
của các thay đổi đột biến lên trên tổng sản phẩm . Tuy vậy mâu thuẫn của
chính sách có thể xảy ra khi một cán cân thanh toán quốc tế cũng đợc coi là
mục tiêu chính sách .Mâu thuẫn này đặc biệt rõ nét ở các nớc đang phát
triển ,là những nớc thờng thiếu dự trữ ngoại tệ .Nếu vị trí cán cân thanh toán
quốc tế tạo nên sự hạn chế thì TGHĐ cần phải đợc dùng nh là cộng cụ để tạo
mục tiêu cán cân thanh toán quốc tế thay đổi cho ổn định tổng sản phẩm .Mặt
khác khi lạm phát là vấn đề nổi lên hàng đầu thì TGHĐ có thể là chức năng hỗ
trợ cho việc ổn định mặt bằng giá cả .
c/- Tỷ giá hối đoái với điều chỉnh hoạt động kinh tế đối ngoại.
* Xác định TGHĐ cân bằng.
Nói chung có hai tiếp cận để xác định TGHĐ thực cân bằng .Tiếp cận
đơn giản và phổ biến là dựa vào khái niệm tỷ giá theo sức mua so sánh
.Nguyên lý trung tâm của tỷ giá so sánh sức mua là tỷ giá thực cân bằng tỷ lệ
với các mức giá tơng đối giữa một nớc với đối tác ngoại thơng của mình.tức là
đối với các sức mua so sánh giữa các đồng tiền các quốc gia .Nh vậy tỷ giá sức
mua so sánh đợc coi là chỉ số thích hợp cho cân bằng tỷ giá giữa các đồng
tiền ,với tỷ lệ lạm phát quy định tỷ lệ thay đổi của tỷ giá danh nghĩa theo thời

hai loại tiền theo bản vị vàng là so sánh số đơn vị cho mỗi ounce từ nớc này
sang nớc khác . Trong chế độ bản vị vàng thì biên độ giao động của tỷ giá , gọi
là điểm vàng ( bằng ngang giá vàng cộng hoặc trừ chi phí vận chuyển ) .
Những gánh nặng về tài chính của thế chiến thứ nhất buộc Anh phải bán phần
lớn vàng dự trữ của họ và Bản vị vàng chấm dứt từ đó .
2. Chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods năm 1944
Hội nghị các đại diện Ngân hàng trung ơng của phe đồng minh và Anh,
Mỹ cuối năm 1994 . Họ đã thiết lập IMF , WB và bản vị vàng hối đoái . Theo
chế độ này tỷ giá chính thức giữa đồng tiền của các nớc thành viên đợc hình
thành trên cơ sở so sánh hàm lợng vàng của USD (1USD =0.888671 gram vàng
nguyên chất ). Các tỷ giá này chỉ đợc phép giao động trong biên độ 1% của tỷ
giá chính thức đã đợc đăng ký tại IMF. Tại thời điểm đó , một ounce vàng đợc
thoả thuận bằng 35 USD , giá trị trung bình của đồng bảng Anh là 2.4USD;
FRF là 0.18 USD và DM là 0.2732 USD. Trong trờng hợp tỷ giá vợt quá biên
độ 15 thì Ngân hàng trung ơng phải can thiệp bằng cách mua vào và bán ra
một lợng USD nhất định .
Tuy nhiên sau một loạt các biến động về kinh tế và chính trị thé giới ,
vào năm 1971 , chế độ tỷ giá cố định Bretton Woods đã bị sụp đổ.
3. Chế độ tỷ giá thả nổi .
Chế độ này ra đời ngay sau khi chế độ tỷ giá cố định BrettonWoods sụp
đổ .Với chế độ tỷ giá thả nổi này ,tỷ giá đợc hình thành trên cơ sở diễn biến
cung cầu ngoại hối trong nền kinh tế ,không do chính phủ quy định mắc dù
chính phủ có can thiệp .
Chế độ tỷ giá thả nổi bao gồm :
+ Chế độ tỷ giá thả nổi tự do : Tỷ giá thị trờng tự do đợc xác định trên
cơ sở cung cầu tiền tệ .Bị tác động bởi thay đổi mức giá các mức lãi suất khác
nhau và tăng trởng kinh tế
15
+ Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý : Phần lớn các quốc gia có nền kinh
tế theo cơ chế thị trờng đã thông qua sự can thiệp của Ngân hàng trung ơng để

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sau, Nhà nớc bắt đầu thực hiện công
cuộc đổi mới nền kinh tế, từng bớc xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung
chuyển dần sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Đây là thời kỳ có
sự chuyển biến mạnh mẽ trong t duy quản lý và điều hành kinh tế của Nhà n-
ớc, nhất là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ. Tỷ giá hối đoái, khâu đột phá có vai
trò cực kỳ quan trọng đối với quá trình cải cách đợc đặc biệt quan tâm. Tháng
3/1989 Nhà nớc chính thức công bố xoá bỏ tỷ giá kết toán nội bộ, xoá bỏ mọi
chế độ trợ giá cho các hoạt động ngoại thơng, thống nhất thành mội loại tỷ giá
duy nhất áp dụng cho mọi loại hình trao đổi. Phơng pháp xây dựng tỷ giá cũng
đợc đổi mới, trớc đây tỷ giá chính thức đợc xây dựng trên cơ sở "đồng sức
mua" (PPP) bằng việc lập ra một rổ hàng hoá tiêu dùng qua đó so sánh giá cả
trong và ngoài nớc để từ đó xác định tỷ giá. Việc xây dựng tỷ giá bằng phơng
pháp này thiếu chính xác và không phản ánh đúng mức đợc tình hình thị trờng.
Năm 1989, tỷ giá chính thức đợc Ngân hàng nhà nớc công bố căn cứ vào chỉ
số lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán, tham khảo diễn biến tỷ giá trên thị tr-
ờng tự do và giá vàng trên thị trờng quốc tế và trong nớc. Trên cơ sở tỷ giá này,
các Ngân hàng thơng mại xây dựng một tỷ giá riêng cho mình trong giao dịch
hàng ngày với biên độ dao động cho phép. Nhìn chung những giải pháp trên đã
góp phần cải tạo phần nào tình hình trên thị trờng ngoại hối, xoá bỏ tình trạng
bất hợp lý trong mua bán, thanh toán, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu. Tuy nhiên tỷ giá trên thị trờng vẫn biến động mạnh, chúng ta có thể thấy
rõ điều này qua bảng số liệu sau:
18
Tỷ giá hối đoái VND/USD từ năm 1989 đến 1992
Đơn vị VND/USD
Tháng 1 Tháng 3 Tháng 6 Tháng 9 Tháng 12
1989
- Ngân hàng 3500 4200 4350 4100 4200
- T nhân 5200 5350 4400 4225 4575
1990

tại Hà Nội trong tháng năm 1993 là 10.300 đến 10.400 VND/USD.
Tình trạng USD giảm nhanh đã ảnh hởng xấu đến xuất khẩu và kích
thích nhập khẩu quá mức, nên Ngân hàng nhà nớc phải can thiệp nhằm tăng
giá đồng đô la. Từ tháng 3/1993, USD đã lên giá dần và duy trì xu hớng lên giá
một cách ổn định.
Tháng 9/1994, thị trờng ngoại tệ liên Ngân hàng đợc thành lập, Ngân
hàng nhà nớc thực hiện vai trò ngời mua bán cuối cùng trong ngày, tỷ giá
chính thức vẫn đợc Ngân hàng nhà nớc công bố, chỉ có biến động là có sự thay
đổi. Từ cuối năm 1994, USD liên tục mất giá so với các đồng tiền chủ chốt
khác, đặc biệt là so với Yên Nhật, nhng trên thị trờng Việt Nam giá đô la vẫn
tơng đối ổn định và tăng ở mức độ nhỏ tạo điều kiện cân đối lợi ích giữa xuất
khẩu và nhập khẩu, phù hợp với chiến lợc kinh tế hớng ngoại.
4. Giai đoạn từ năm 1996 đến nay.
Năm 1996 mức thâm hụt cán cân thơng mại ở nớc ta lên đến 4 tỷ đô la,
tỷ lệ nhập siêu so với GDP lên đến 16%, nhu cầu về USD tăng tạo sức ép giảm
giá lên VND. Do vậy Ngân hàng nhà nớc đã mở rộng biên độ giao động của tỷ
giá từ 0,5% lên 1% và tháng 2/1997 là 5%, bên cạnh đó tỷ giá chính thức cũng
nâng lên dần. Ngày 2/7/1997 ngòi nổ của cuộc khủng hoảng tiền tệ châu á bắt
đầu phát ra từ Thái Lan, Việt Nam cũng bị ảnh hởng về mặt buôn bán, thanh
toán và cả về tâm lý. Ngày 13/10/1997, Ngân hàng nhà nớc công bố quyết
20
định nới rộng biên độ tỷ giá mua bán ngoại tệ lên 10% so với tỷ giá chính
thức. Cầu ngoại tệ trên thị trờng rất cao nên hầu nh việc mua bán ngoại tệ của
các Ngân hàng thơng mại thờng xuyên bám sát mức trần cho phép. Đầu năm
1998, Ngân hàng nhà nớc đã đa ra một loạt các biện pháp nhằm ổn định thị tr-
ờng nh: Quy chế về giao dịch ngoại hối, các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ mới,
quy định về trạng thái ngoại tệ, trạng thái tiền đồng đối với các tổ chức tín
dụng đợc phép kinh doanh ngoại tệ. Đặc biệt là hai lần chủ động điều chỉnh tỷ
giá. Lần thứ nhất ngày 16/2/1998 Ngân hàng nhà nớc quyết định nâng tỷ giá từ
11.175 VND/USD lên 11800 VND/USD làm tỷ giá giao dịch của Ngân hàng

vào thực hiện các mục tiêu đã nêu, nhng chủ yếu mới thiên về "hớng nội", nổi
bật là khuyến khích tích luỹ giá trị dới dạng nội tệ hơn là ngoại tệ (chủ yếu là
đồng đô la), thu hút vốn đầu t nớc ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho nhập khẩu
máy móc, thiết bị, kỹ thuật và công nghệ nớc ngoài đáp ứng yêu cầu sản xuất
kinh doanh trong nớc. Bên cạnh đó, xu hớng cố định hoá tỷ giá hối đoái năm
1992 đến gần nửa cuối năm 1997 (trớc khủng hoảng tiền tệ châu á) cũng góp
phần thúc đẩy làn sóng đô la hoá khuyến khích đầu cơ ngoại tệ qua Ngân
hàng, tăng rủi ro tỷ giá hối đoái và khả năng thanh toán.
1.2- Mắc kẹt trong vòng "kim cô" đợc hình thành bởi sự neo giữ chặt
và cứng nhắc tỷ giá VND vào đô la Mỹ.
Một mặt, do luồng vốn đấu t bên ngoài đợc đón nhận ngày càng nhiều
(bao gồm FDI, ODA, vay thơng mại, ) luôn hình thành xu hớng cung USD
tăng vợt cầu, thờng xuyên gây áp lực trực diện gia tăng lợng tiền cung ứng,
nhằm trung hoà ngoại tệ. Dẫn đến tiềm ẩn khả năng kích thích lạm phát một
khi Ngân hàng nhà nớc còn thiếu công cụ điều hoà nhanh nhạy lợng tiền cung
ứng (cha có nghiệp vụ thị trờng mở).
Mặt khác, cung vợt cầu về USD trong lúc tỷ giá hối đoái danh nghĩa th-
ờng xuyên bị neo giữ (khoảng 10800 đến 11175 VND/USD) từ 1992 đến 1997,
22
dần dần khiến VND luôn bị đánh giá quá cao một cách giả tạo so với USD,
trong khi USD trong cùng thời gian đã lên giá khoảng 20% trên thị trờng tiền
tệ thế giới. Kết quả ngoài nh đã phân tích ở động thái thứ nhất, còn đa đến
giảm ý nghĩa mọi sự khuyến khích đối với xuất khẩu, tăng tỷ lệ nội tiêu sản
phẩm của cả khu vực có vốn đầu t nớc ngoài, gây thâm hụt lớn cán cân vãng
lai (khoảng 13-14% GDP năm 1995, 1996), nợ nớc ngoài gia tăng, dự trữ
ngoại tệ tăng chậm so với tốc độ tăng trởng xuất khẩu, nguy cơ đổ vỡ cán cân
thanh toán quốc tế luôn rình rập, báo hiệu khủng hoảng nợ nớc ngoài.
Trớc xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thị trờng tài chính, tiền tệ thế giới
dấy lên hết sức mạnh mẽ từ đầu thập niên 90 đến nay, ngày càng cho thấy
những mặt trái không thể xem thờng của nó, mà bằng chứng là từ tháng

chính thức của Ngân hàng nhà nớc công bố, lần lợt lên 5% rồi 10% từ mức
0,5% - 1% từng áp dụng suốt 2 năm 1995, 1996.
Trớc ảnh hởng dội vào của cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Nam á, VND
vẫn bị đánh giá cao tơng đối khoảng 10-40% so với những đồng tiền trong khu
vực. Lúc này bản thân việc điều chỉnh không thôi các mức biên độ cha đủ tạo
chuyển biến lớn về điều hành tỷ giá thích ứng tình hình mới. Thực chất điều
hành tỷ giá bằng cơ chế công bố tỷ giá chỉ đạo của Ngân hàng nhà nớc
(NHNN) gắn với biên độ qui định là nhằm tránh công khai phá giá tiền tệ về
danh nghĩa. Việc áp dụng biên độ giao dịch cho phép các Ngân hàng thơng
mại (NHTM) áp dụng linh hoạt tỷ giá hối đoái thực tế tuỳ thuộc tình hình tiền
tệ và mục tiêu chính sách kinh tế chung. Còn tỷ giá hối đoái danh nghĩa vẫn
thờng xuyên đợc cố định (tính đến cuối năm 1997 trong khoảng 10890 - 11175
VND/USD).
Tuy nhiên, theo kinh nghiệm nhiều nớc nếu quá ỷ lại vào biên độ tỷ giá,
thay vì điều chỉnh hợp lý tỷ giá chính thức sẽ khiến việc điều hành của NHNN
cứng nhắc về kỹ thuật và ít có tác dụng khi tình hình tiền tệ bất ổn định buộc
24
NHNN thờng xuyên phải điều chỉnh biên độ này. Điều này vô hình chung tạo
kẽ hở lợi dụng cho các lực lợng thị trờng. Các NHTM đua nhau giao dịch theo
tỷ giá sát trần mà NHNN khó kiểm soát trạng thái ngoại hối của họ. Hơn nữa,
các nguồn ngoại tệ trong và ngoài luồng chính thức thờng xuyên hoà trộn
nhau, đầu cơ chênh lệch tỷ giá kiếm lời nảy sinh (qua giao dịch trên tài khoản,
qua diễn biến lãi suất nội, ngoại tệ). Chẳng hạn, vào quý IV/1997 tỷ giá công
bố của NHNN suốt hơn 1 năm là 11170-11175 VND/USD, với biên độ đợc
phép là 10% thì tỷ giá giao dịch thờng xuyên của thị trờng ngoại tệ liên Ngân
hàng là 11175 VND x 1,10 = 12292 - 12293 VND. Chênh lệch thấp tới khoảng
7-8% so tỷ giá thực tế thị trờng (đã vọt lên trên mức 13000 VND ăn 1 USD từ
tháng 11/1997).
Các hiện tợng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ gây căng thẳng giả tạo cung cầu
ngoại tệ, làm phức tạp hoá quản lý ngoại hối của Nhà nớc, phần nào có nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status