MỤC LỤC
i
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Bên cạnh những
tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, các tín ngưỡng dân gian… còn xuất
hiện nhiều loại hình tôn giáo mới, các “đạo lạ”. Những năm gần đây, hoạt
động của các tín đồ, tổ chức tôn giáo diễn ra hết sức phong phú, đa dạng và
phức tạp. Điều này tạo nên những khó khăn nhất định trong công tác quản lý
tôn giáo cũng như giữ gìn an ninh, trật tự xã hội tại các địa phương.
Ở Việt Nam hiện nay, tín ngưỡng, tôn giáo đã trở thành nhu cầu tinh
thần của một bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân trong đó có cả cán bộ,
đảng viên, sinh viên,… Hoạt động tôn giáo không chỉ diễn ra sôi động, phong
phú trên phạm vi toàn quốc mà còn mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo
nước ngoài. Một số tôn giáo mới từ bên ngoài đã xâm nhập vào Việt Nam,
nhiều tổ chức hội đoàn trong nước khôi phục, phát triển không xin phép chính
quyền,… Ở một số địa phương, giáo hội có xu hướng hoạt động lấn lướt
chính quyền, tìm cách thoát khỏi sự quản lý của Nhà nước trong các hoạt
động tôn giáo. Tại một số vùng dân tộc thiểu số phía Bắc, đồng bào theo
truyền thống thờ cúng tổ tiên và các hình thức tín ngưỡng dân gian gần đây
cũng chuyển sang theo đạo Tin Lành.
Trong âm mưu diễn biến hòa bình chống phá Nhà nước Việt Nam, các
thế lực thù địch luôn coi tôn giáo là một lĩnh vực nhạy cảm, có thể tạo “ngòi
nổ” gây mất ổn định chính trị và xã hội. Bên cạnh các hoạt động xuyên tạc
chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng, các thế lực thù địch tăng cường vu
cáo Việt Nam đang đàn áp tôn giáo, vi phạm nhân quyền; ráo riết kích động,
chỉ đạo các phần tử cực đoan phản động chống đối Nhà nước nhằm gây ra
tình hình phức tạp về an ninh, trật tự, dẫn tới những xung đột về chính trị ở
1
các vùng tôn giáo, tạo cớ quốc tế hóa vấn đề tôn giáo để can thiệp, gây sức ép
về chính trị, kinh tế - xã hội đối với nước ta.
giáo sẽ là tư liệu hữu ích góp phần hoàn thiện các quy định, điều luật liên
quan tới hoạt động tôn giáo.
Chính vì tính thời sự của tình hình tôn giáo ở Việt Nam và vai trò quan
trọng không thể thiếu của hoạt động quản lý nhà nước đối với tôn giáo nên
học viên đã chọn đề tài: “Quản lý hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay:
Thực trạng và giải pháp”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tôn giáo và vấn đề công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động
tôn giáo là đề tài được các nhà khoa học hết sức quan tâm nghiên cứu. Trong
thời gian qua, nhất là từ sau Đổi mới, chủ đề này các học giả quan tâm nghiên
cứu và đề cập trong nhiều tài liệu, các công trình, đề tài khoa học khác nhau.
Điển hình như:
- Bùi Đức Luận với công trình Quản lý hoạt động tôn giáo cơ sở lý
luận và thực tiễn (2005), NXB Tôn giáo, HN;
- Ban Tôn giáo Chính phủ với Tôn giáo và Công tác quản lý nhà nước
đối với các hoạt động tôn giáo (2008), NXB Tôn giáo, HN;
- Hoàng Quốc Bảo với Quản lý xã hội về tôn giáo (2010), NXB Chính
trị - Hành chính, HN;
- Nguyễn Hữu Khiển với Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
trong điều kiện xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay,
NXB Công an nhân dân, HN;
- Nguyễn Đức Lữ, Lê Hữu Nghĩa với Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn
giáo và công tác tôn giáo (2003);
- Nguyễn Đức Lữ, Nguyễn Thị Kim Thanh với Một số quan điểm của
Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo (2009), NXB Chính trị quốc gia,…
Các công trình trên đã đề cập đến nội dung cơ bản về tôn giáo, cơ sở lý
luận cũng như thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn
3
giáo dưới những khía cạnh nghiên cứu khác nhau và là nguồn tài liệu quý để
học viên lựa chọn, tiếp thu.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và của Đảng ta về tôn giáo. Đồng thời, luận văn dựa trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật
lịch sử.
Bên cạnh đó, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp phân tích, tổng hợp, xử lý số liệu,…
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng rõ cơ sở lý luận cho công tác quản lý
nhà nước về tôn giáo.
- Khái quát diện mạo tôn giáo và tình hình quản lý các hoạt động tôn
giáo của Đảng, Nhà nước thông qua các công cụ là hệ thống pháp luật và bộ
máy quản lý các cấp về tôn giáo.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn cơ sở khoa học
cho việc xây dựng và hoàn thiện các chính sách tôn giáo phục vụ cho công tác
quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ta hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 2 chương 5 tiết.
5
NỘI DUNG
Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO
1.1. Lý luận về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước đối với các
hoạt động tôn giáo
1.1.1. Quản lý nhà nước
quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện
pháp luật của cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dân
các cấp).
1.1.2. Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
1.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử - xã hội tồn tại lâu đời song cũng
như nhiều khái niệm, khái niệm tôn giáo cũng được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau. Trong các văn bản luật quản lý về tôn giáo, khái niệm này hiện
nay vẫn còn bỏ ngỏ.
Thuật ngữ tôn(g) giáo – religion có nguồn gốc từ tiếng La tinh là
legere, relegere mang nghĩa là thu lượm thêm sức mạnh siêu nhiên. Thời kỳ
đầu khi mới ra đời, religion là thuật ngữ dùng để chỉ Ki tô giáo, trong ngôn
ngữ Pháp cổ, chỉ có nghĩa đen là tu viện (monastère). Tới khoảng thế kỷ XVI
khi cuộc đại phân liệt lần thứ nhất của đạo Ki tô diễn ra, cho ra đời hai nhánh
là đạo Tin Lành và Công giáo, trên các diễn đàn khoa học và thần học châu
Âu, thuật ngữ religion mới trở thành một thuật ngữ chung dùng để chỉ hai tôn
giáo cùng thờ chung một Chúa. Cùng với sự bành trướng của chủ nghĩa tư
bản, sự tiếp xúc giữa các tôn giáo thuộc nền văn minh khác Ki tô giáo, thuật
ngữ religion được dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên toàn
thế giới. Đến thế kỷ XVIII, thuật ngữ religion được dịch ra thành tôn giáo
xuất hiện ở Nhật Bản, sau tới Trung Quốc và vào Việt Nam vào cuối thế kỷ
7
XIX. Tuy nhiên, ở Việt Nam thuật ngữ này được đọc khác đi thành tông giáo
vì kỵ húy vua Thiệu Trị.
Như vậy, ban đầu thuật ngữ tôn giáo được sử dụng để chỉ một tôn giáo
cụ thể ở châu Âu là Ki tô giáo, nhưng trong quá trình phát triển, giao thoa
giữa các nền văn hóa, thuật ngữ này được sử dụng nhằm chỉ chung các loại
hình tôn giáo khác nhau.
Theo GS. Đặng Nghiêm Vạn, đối tượng tôn giáo là “thế giới bên kia
nhau khi bàn về thuật ngữ “tôn giáo” và “tín ngưỡng”. Theo quan điểm truyền
thống, tín ngưỡng là sản phẩm của xã hội ở trình độ phát triển thấp hơn so với
tôn giáo, dùng để chỉ các tôn giáo sơ khai. Quan điểm khác lại đồng nhất giữa
tôn giáo và tín ngưỡng, gọi chung là tôn giáo nhưng có sự phân biệt giữa các
hình thức tôn giáo như: tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo dân tộc, tôn giáo thế
giới.
Ta có thể phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng dựa trên các khía cạnh sau:
Nội
dung
Tín ngưỡng Tôn giáo
Về mặt
tổ chức
Chưa hình thành tổ chức riêng
biệt; thường gắn với cá nhân và
cộng đồng làng xã
Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá
chặt chẽ với hệ thống giáo chức
từ trung ương tới cơ sở
Nơi thờ
tự
Nơi thờ cúng nhỏ lẻ, phân tán,
không quy mô. Chưa thành hệ
thống thần điện, còn mang tính
chất đa thần, tản mạn.
Nơi thờ cúng riêng, quy mô, có
hệ thống. Thần điện đã thành hệ
thống duới dạng đa thần hay
nhất thần giáo.
Hệ
thống
tổ chức tôn giáo, hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo, tín đồ tôn giáo.
• Niềm tin tôn giáo
Niềm tin tôn giáo là đặc điểm chung của tín ngưỡng và tôn giáo, là yếu
tố tiên quyết đối với bất kỳ tôn giáo, tín ngưỡng nào. Bởi lẽ nó là nền tảng
đầu tiên và trên cơ sở đó các yếu tố khác của tôn giáo như tín đồ, tổ chức tôn
giáo, giáo lý, luật lệ, lễ nghi, được hình thành.
Niềm tin tôn giáo là trạng thái tâm lý đặc biệt của chủ thể nhận thức,
thể hiện sự tin tưởng, ngưỡng mộ, sùng bái của chủ thể nhận thức vào một
thực thể siêu việt như Thần, Phật, Thượng đế, Niềm tin tôn giáo mang tính
thiêng liêng, cao cả. Nó được hình thành trên cơ sở tình cảm tôn giáo, những
xúc cảm, rung động, sùng kính trước các biểu tượng tôn giáo.
• Tổ chức tôn giáo
Tổ chức tôn giáo là là một tổ chức xã hội đặc biệt, liên kết của những
tín đồ theo một tôn giáo nhất định, trong đó một tập hợp những người có thứ
bậc nội bộ theo chức năng, ít hay nhiều dựa vào quyền uy, định ra một tập
10
hợp quy chế và chuẩn mực nội bộ được hợp thức hóa nhằm duy trì, phát triển
và truyền bá giáo lý, tổ chức nghi lễ, đảm bảo sự sống còn của bản thân tôn
giáo. Điều 3, khoản 3 Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đưa ra định nghĩa: “tổ
chức tôn giáo là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống lễ nghi và tổ
chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận”.
Tổ chức tôn giáo thường bao gồm cơ cấu tổ chức (cơ quan quyền lực –
giáo quyền) từ trung ương đến cơ sở, hệ thống nơi thờ tự, tu viện, các trường
đào tạo chức sắc, cùng với hội đoàn tôn giáo và nguồn tài chính duy trì các
hoạt động tôn giáo,…
• Hệ thống giáo lý
Giáo lý là hệ thống những quan niệm về thế giới, xã hội, con người; về
quyền năng tuyệt đối của lực lượng siêu nhiên cùng thái độ của con người đối
với quyền năng đó. Chính vì đặc thù này mà giáo lý các tôn giáo mang tính
triết học và xã hội. Có những tôn giáo, giáo lý của nó là học thuyết triết học
Điều 3 Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo (2004) định nghĩa: “Hoạt động
tôn giáo là việc truyền bá, thực hành các giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ
chức của tôn giáo”. Nói cách khác hoạt động tôn giáo gồm 3 mặt: truyền đạo,
hành đạo, quản đạo và một số hoạt động khác do tổ chức, cá nhân tôn giáo
thực hiện nhằm phục vụ cho hoạt động tôn giáo.
Truyền bá giáo lý, giáo luật (truyền đạo) là việc tuyên truyền những lý
lẽ về sự ra đời, về luật lệ của tôn giáo. Thông qua hoạt động truyền đạo, niềm
tin tôn giáo của các tín đồ được củng cố, luật lệ trong tôn giáo được các tín đồ
thực hiện. Đối với những người chưa phải tín đồ tôn giáo, hoạt động truyền
đạo giúp họ hiểu, tin và theo tôn giáo. Thông qua đó, các tôn giáo có thể mở
rộng ảnh hưởng và phát triển tín đồ.
12
Thực hành giáo luật, lễ nghi (hành đạo) là hoạt động của tín đồ, nhà tu
hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật, thỏa mãn đức tin tôn
giáo của các cá nhân tôn giáo hay cộng đồng tín đồ.
Hoạt động quản lý tổ chức của tôn giáo (quản đạo) nhằm thực hiện quy
định của giáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm
bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo
Từ các khái niệm quản lý, quản lý nhà nước, hoạt động tôn giáo, chúng
ta có thể đưa ra khái niệm về quản lý nhà nước đối với tôn giáo theo những
khía cạnh sau:
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo là
quá trình dùng quyền lực nhà nước của cơ quan nhà nước theo quy định của
pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình mà tôn giáo và các
hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với
pháp luật đạt được những mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước nước đối với các hoạt động tôn giáo
là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ
quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh mọi hành vi hoạt động tôn giáo
Ba là, nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng. Công tác vận động quần chúng phải động viên được các đồng bào nêu
cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập, thống nhất Tổ quốc, thông qua
14
việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo
đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng
bào các tôn giáo.
Bốn là, công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Hiện
nay, các tôn giáo có hàng chục triệu tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, phân bố ở
mọi vùng miền, địa phương trong cả nước. Vì thế, sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cấp, các ngành trong công tác quản lý tôn giáo là điều không thể bỏ qua.
Năm là, vấn đề theo đạo và truyền đạo. Mọi tín đồ đều có quyền tự do
tham gia hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của
pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận hoạt động theo
pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được mở trường đào tạo các chức sắc,
nhà tu hành, xuất bản, in ấn kinh sách và giữ gìn, sửa chữa, xây dựng các cơ
sở thờ tự tôn giáo của mình theo quy định của pháp luật.
Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt động khác đều phải tuân thủ Hiến
pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt
động mê tín dị đoan, không được ép buộc người dân theo đạo.
1.1.2.3. Phương pháp quản lý các hoạt động tôn giáo
Phương pháp quản lý là cách thức mà các cơ quan nhà nước sử dụng để
tác động vào đối tượng quản lý nhằm mục đích thực hiện mục tiêu quản lý.
Để thực hiện các mục tiêu trong quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn
giáo đã đề cập trên đây, có thể kể tới một số phương pháp căn bản sau :
Phương pháp giáo dục, thuyết phục
Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12-3-2003 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX Về công tác tôn giáo đã khẳng định: “Nội dung cốt lõi
của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng”. Mục đích chính của
15
Hai là, bắt buộc: Chủ thể tham gia quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều
chỉnh của pháp luật về hoạt động tôn giáo phải thực hiện những hành vi nhất
định. Chẳng hạn như, tổ chức giáo hội muốn tổ chức đại hội đồng, bắt buộc
phải làm đơn xin phép các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo có thẩm
quyền.
Ba là, đăng ký và thông báo: Chủ thể tham gia quan hệ xã hội thực hiện
các hoạt động tôn giáo sau khi đăng ký hoặc thông báo với chính quyền các
cấp về nội dung hoạt động. Ví dụ: đăng ký thành lập hội đoàn, thông báo sửa
chữa cơ sở thờ tự…
Bốn là, cấm đoán: Biện pháp này thực hiện khi các cá nhân, tổ chức tôn
giáo hoạt động tôn giáo trái với pháp luật gây ra hậu quả nghiêm trọng, hoặc
lợi dụng tôn giáo vào những mục đích xấu.
Phương pháp tổ chức
Phương pháp tổ chức là phương pháp nhằm tập hợp đông đảo công dân
mà trọng tâm là các tín đồ tôn giáo vào trong các tổ chức xã hội để thực hiện
sự quản lý. Đồng thời, thông qua việc hoạt động tại các tổ chức xã hội, tín đồ
có thể nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mình đối với công cuộc xây
dựng xã hội, xây dựng đất nước nói chung.
Phương pháp kinh tế
Thực chất phương pháp này là dùng những lợi ích kinh tế để tác động
vào đối tượng quản lý, qua đó hướng hoạt động của đối tượng quản lý phù
hợp với ý chí của nhà quản lý. Trong việc quản lý các hoạt động tôn giáo,
17
phương pháp này tập trung vào việc đảm bảo lợi ích kinh tế của quần chúng
nhân dân trong đó có tín đồ tôn giáo, thức đẩy việc nâng cao đời sống của
nhân dân các vùng có đạo.
Phương pháp cưỡng chế
Các quyết định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đều phải
được tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc thực hiện nghiêm chỉnh.
Trường hợp họ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo pháp luật,
thời gian nội dung nào là trọng tâm, trọng điểm cần được dự báo (có kế
hoạch) để áp dụng biện pháp quản lý thích hợp, chủ động và có hiệu quả.
1.1.2.5. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta đã kế thừa và phát huy sáng tạo trong
bối cảnh mới nhằm giải quyết các vấn đề tôn giáo hiện nay. Điều này thể hiện
trong những nguyên tắc nền tảng cho việc xây dựng đường lối, chính sách tôn
giáo, cụ thể là:
- Nhà nước tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và
tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân. Mọi công dân đều bình đẳng
về nghĩa vụ và quyền lợi trước pháp luật, không phân biệt người theo đạo hay
không theo đạo cũng như giữa những tôn giáo khác nhau.
19
- Mọi cá nhân và tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ
Hiến pháp và pháp luật; có nghĩa vụ bảo vệ lợi ích của Tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa; giữ gìn độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia.
- Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những cơ sở thờ tự hợp
pháp, kinh bổn và các đồ thờ cúng của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật
bảo hộ.
- Đoàn kết gắn bó đồng bào tôn giáo và không tôn giáo trong khối đại
đoàn kết toàn dân.
- Những hoạt động tôn giáo ích nước, lợi dân, phù hợp với nguyện
vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được đảm bảo. Những giá trị
văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát
huy.
- Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn
giáo, ép buộc công dân theo đạo hoặc bỏ đạo, vi phạm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của công dân,… Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo để làm mất
trật tự an toàn xã hội, phương hại đến nền độc lập dân tộc, phá hoại chính
sách đoàn kết toàn dân, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
thiếu trong đời sống tâm linh của người Việt. Các hoạt động tín ngưỡng hòa
quyện, giao thoa với các hoạt động tôn giáo tạo nên đời sống tâm linh vô cùng
phong phú, độc đáo và đậm đà bản sắc dân tộc.
Ở Việt Nam tồn tại nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau, căn cứ vào
hình thức, đối tượng thờ cúng, có thể phân chia các loại hình tín ngưỡng cụ
thể như sau:
21
- Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên (gia tộc, dòng họ, quốc gia), Tô tem
giáo.
- Tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng.
- Tín ngưỡng vòng đời người (nghi lễ sinh đẻ, nghi lễ cưới xin, thờ
thần bản mệnh, tang ma,…)
- Tín ngưỡng nghề nghiệp (tín ngưỡng nông nghiệp: nghi lễ phồn
thực, thờ Thần nông, thờ tứ pháp,…Thờ Thánh sư; Thờ Thần tài; các tín
ngưỡng của ngư dân,…)
- Tín ngưỡng thờ Thần (đạo Mẫu, thờ Đức Thánh Trần, thờ Tứ bất tử,
thờ các anh hùng dân tộc,…)
Như vậy, đời sống tôn giáo ở Việt Nam hết sức phong phú, sôi động. Ở
nước ta có sự hiện diện của những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông
như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo, các tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây
như Công giáo, Tin Lành; có cả tôn giáo ngoại nhập và tôn giáo nội sinh, có
các tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tổ chức,…),
có cả các tôn giáo sơ khai đa thần (tín ngưỡng dân gian ),… Một mặt, các tôn
giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam tồn tại, phát triển khoan dung, hiếu hòa góp
phần gìn giữ truyền thống đoàn kết toàn dân, không phân biệt tín ngưỡng tôn
giáo, góp phần tạo nên một nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Bên cạnh đó cũng đặt ra những vấn đề không đơn giản cho Đảng và Nhà nước
ta trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo nói chung và
đối với từng tôn giáo cụ thể nói riêng.
1.2.2. Các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng gắn bó, đồng hành cùng
giàu đẹp, văn minh, hiện đại” [22, tr.14].
23
“Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”
là đường hướng đồng hành cùng dân tộc của Giáo hội Công giáo Việt Nam.
Đường hướng này được thể hiện trong Thư chung 1980 của Hội đồng Giám
mục Việt Nam. Lịch sử truyền giáo phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam đến
thời điểm 1980 đã là hơn ba trăm năm mươi năm, nhưng đây là lần đầu tiên,
xét về mặt quan phương, Giáo hội Công giáo ở Việt Nam tuyên bố “gắn bó
với dân tộc và đất nước”. Sự gắn bó hòa mình này đưa tới những nhiệm vụ cụ
thể trong đó tập trung ở hai điểm chính: xây dựng trong Hội thánh một nếp
sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc và tích cực
góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc.
Các tôn giáo khác như Tin Lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hỏa,… sau
khi được Nhà nước công nhận đều đưa ra đường hướng hành đạo gắn bó với
dân tộc. Cụ thể như đường hướng xác tín của đạo Tin Lành là: “Sống phúc
âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”; phương châm hành
đạo của đạo Cao Đài là: “Nước Vinh, đạo Sáng”; đường hướng hành đạo của
Phật giáo Hòa Hảo là: “Vì đạo pháp, vì dân tộc”,…
Cùng với việc đưa ra phương hướng hoạt động gắn bó với dân tộc, các
tổ chức tôn giáo còn thể hiện bằng các hoạt động từ thiện nhân đạo thiết thực
nhằm xây dựng đất nước như: các hoạt động giáo dục công ích, quyên góp
tiền cứu trợ thiên tai, xây dựng nhà tình nghĩa, xây dựng cầu đường, phục vụ
miễn phí cơm, nước cho các bệnh nhân nghèo tại bệnh viện,…
Bên cạnh đó, sự gắn bó của các tôn giáo đối với quốc gia còn được thể
hiện qua sự hội nhập mạnh mẽ của văn hóa tôn giáo trong dòng chảy văn hóa
dân tộc, góp phần vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc.
24