Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam hiện nay đang là một trong những quốc gia có quá trình đô
thị hoá diễn ra mạnh mẽ. Đô thị hoá được xem là nhiệm vụ trọng tâm trong
quá trình hiện đại hoá và công nghiệp hoá của đất nước. Tốc độ đô thị hóa càng
nhanh đã buộc các nhà quản lý đô thị phải xem xét thực trạng cơ sở hạ tầng của đô
thị mình có đáp ứng được yêu cầu của quá trình đô thị hoá hay không?
Là một đô thị có tầm quan trọng đối với phát triển chung của đất nước,
trong những năm gần đây cơ sở hạ tầng của đô thị Hải Phòng đã có nhiều
bước phát triển với nhiều kết quả quan trọng trong các lĩnh vực như hệ thống
giao thông đô thị, hệ thống cấp, thoát nước, hệ thống cung cấp điện chiếu
sáng …Cơ sở hạ tầng của đô thị có những tác động tích cực đến tốc độ tăng
trưởng và sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung, nhưng so với nhu cầu thực tế,
đặc biệt là hệ thống cấp nước của đô thị còn chậm và thiếu đồng bộ so với tăng
quy mô chung của đô thị, làm mất cân đối nghiêm trọng giữa cung và cầu.
Hiện trạng hệ thống cấp nước của thành phố Hải phòng tuy đã được cải thiện
nhiều trong những năm qua, nhiều dự án đầu tư đã được triển khai, công suất
cấp nước tăng, phạm vi phục vụ không ngừng phát triển nhưng vẫn còn tồn tại
và có nhiều vấn đề còn bất cập. Với mong muốn có thể đáp ứng được nhu cầu
của người dân thành phố, đồng thời được sự giúp đỡ tận tình của các cô chú
tại cơ quan thực tập, qua thời gian tìm hiểu và thu thập tài liệu liên quan đến
lĩnh vực cấp nước trên địa bàn thành phố, em đã hoàn thành đề tài: “Bước đầu
đánh giá dự án xây dựng nhà máy nước Hòa Bình nhằm nâng cao công tác
quản lý hệ thống cấp nước ở thành phố Hải Phòng”.
Luận văn tốt nghiệp
2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Đề tài nghiên cứu, xem xét công tác quản lý hệ thống cấp nước ở
thành phố Hải Phòng quanh khu vực dự án được triển khai.
+ Thời gian nghiên cứu của đề tài trong khoảng thời gian từ năm 2004
đến năm 2020.
C. Mác đã từng viết: “Tất cả mọi sự lao động xã hội trực tiếp và lao
động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều
cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện
những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn cơ thể sản xuất
khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu
vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc
trưởng”. Như vậy quản lý ra đời để tạo ra hoạt động hiệu quả cao hơn.
Ngày nay thuật ngữ về quản lý có nhiều cách hiểu. Có người cho rằng quản lý
là hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua
những nỗ lực của người khác .Có tác giả lại cho rằng quản lý là công tác phối
hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng một tổ
chức. Cũng có người cho rằng quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm
phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm.
Từ những quan điểm trên có thể hiểu: Quản lý là sự tác động của chủ
thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều
kiện biến động của môi trường. Quản lý bao gồm những yếu tố:
- Phải có một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và một đối
tượng bị quản lý phải tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý tạo ra. Tác
động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo cho cả đối tượng và chủ thể,
mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
Luận văn tốt nghiệp
- Chủ thể phải thực hành việc tác động.
- Chủ thể có thể là một người, nhiều người, một thiết bị. Còn đối tượng
có thể là con người (một hoặc nhiều người) hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết
bị, đát đai, thông tin, hầm mỏ…) hoặc giới sinh vật (vật nuôi, cây trồng).
Tóm lại,quản lý mang những đặc điểm sau:
- Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể và đối tượng.
- Quản lý bao giờ cũng có liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều
có mối liên hệ ngược.
thực hiện tất cả các chức năng quản lý và chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi
kết quả của đơn vị mình. Mối liện hệ giữa các thành viên trong hệ thống được
thực hiện thông qua đường thẳng.
Ưu điểm của cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến tạo thuận lợi cho việc thực
hiện chế độ một thủ trưởng. Tuy nhiên cơ cấu tổ chức theo kiểu này lại hạn chế
việc sử dụng các chuyên gia có trình độ cao về từng lĩnh vực quản lý, hạn chế sự
phối hợp công việc, chức năng giữa các đơn vị hoặc cá nhân ngang quyền thuộc
các tuyến khác nhau và đòi hỏi người lãnh đạo phải có kiến thức tổng hợp, toàn
diện về các lĩnh vực chức năng quản lý. Cơ cấu này chỉ áp dụng chủ yếu đối với
các đơn vị tổ chức quy mô nhỏ, phổ biến theo nhóm, tổ, đội.
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức quản lý trực tuyến.
3.2. Cơ cấu tổ chức quản lý chức năng.
Là kiểu cơ cấu tổ chức theo chức năng với những nhiệm vụ quản lý
được phân chia cho các đơn vị riêng biệt thực hiện, hình thành nên các phân
hệ chuyên môn hoá và những người lãnh đạo chức năng.
Ưu điểm cơ bản của cơ cấu tổ chức quản lý theo kiểu chức năng là
chuyên môn hoá cao các loại lao động quản lý. Do đó thu hút được các
chuyên gia giỏi lành nghề, nhiều kinh nghiệm vào công tác lãnh đạo quản lý.
Song nó cũng có những nhược điểm là người thừa hành có quá nhiều thủ
trưởng – vi phạm chế độ quản lý một thủ trưởng – làm cho các kênh thông
tin trong hệ thống dễ có sự nhẩm lẫn, rối loạn sự phối hợp các mệnh lệnh
quản lý khó thống nhất, thậm chí các mệnh lênh trái ngược nhau.
Người lãnh đạo tổ chức
A
Người lãnh đạo
tuyến B
1
Người lãnh đạo
tuyến B
chức năng
A2
Lãnh đạo
chức năng
An
Lãnh đạo
tuyến B1
Luận văn tốt nghiệp
Theo kiểu cơ cấu tổ chức này, những nhược điểm của các kiểu cơ cấu
tổ chức trước được khắc phục về cơ bản, vì thế nó được áp dụng rộng
rãi, phổ biến và đặc biệt ở các hệ thống quản lý quy mô lớn, phức tạp.
3.4. Kiểu cơ cấu hỗn hợp: Trực tuyến - chức năng – tham mưu.
Đây là kiểu cơ cấu tổ chức quản lý được áp dụng rất phổ biến ở các hệ
thống tổ chức kinh tế - xã hội quy mô lớn và phức tạp hiện nay. Nó là kiểu cơ
cấu tổ chức trực tuyến - chức năng, nhưng bên cạnh người lãnh đạo cao nhất
của mỗi cấp quản lý lại tổ chức một bộ phận tham mưu giúp việc (có thể là
một người, một tổ, một đơn vị). Bộ phận này bao gồm những chuyên gia,
những trợ lý, thư ký giỏi có động cơ trong sáng, giúp lãnh đạo có những quyết
định sáng suốt và giúp theo dõi thực hiện các quyết định quản lý đó.
4. Các phương pháp quản lý.
4.1. Phương pháp tổ chức - hành chính.
- Đây là phương pháp dựa vào quyền uy tổ chức của người quản lý để
bắt buộc người dưới quyền phải chấp hành mệnh lệnh quản lý. Phương pháp
này tạo ra sự bắt buộc, cưỡng chế với người thừa hành. Mọi thành viên trong
tổ chức bằng mọi cách phải hoàn thành nhiệm vụ được giao, không vì lí do cá
nhân mà cản trở hoàn thành các nhiệm vụ của tổ chức. Do đó ưu thế của
phương pháp này là công việc chung của tổ chức được thực hiện một cách
nhanh chóng, thống nhất, triệt để.
Phương pháp tổ chức – hành chính tác động đến mỗi thành viên trong
tổ chức qua:
lương, tiền thưởng… Nói chung, việc sử dụng các phương pháp kinh tế có
liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng các quan hệ hàng hoá - tiền tệ. Để nâng
cao hiệu quả sử dụng các phương pháp kinh tế phải hoàn thiện hệ thống các
Luận văn tốt nghiệp
đòn bẩy kinh tế, nâng cao năng lực vận dụng các quan hệ hàng hoá - tiền tệ,
quan hệ thị trường.
Hai là, để áp dụng phương pháp kinh tế phải thực hiện sự phân cấp
đúng đắn giữa các cấp quản lý.
Ba là, sử dụng phương pháp này đòi hỏi cán bộ quản lý phải có đủ trình
độ và năng lực về nhiều mặt. Bởi vì sử dụng các phương pháp kinh tế đòi hỏi
cán bộ quản lý phải hiểu biết và thông thạo các vấn đề kinh tế, đồng thời phải
có phẩm chất lãnh đạo vững vàng.
4.3. Phương pháp giáo dục.
Phương pháp giáo dục là cách tác động vào nhận thức và tình cảm của
con người nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của họ trong việc
thực hiện nhiệm vụ.
Các phương pháp giáo dục có ý nghĩa lớn trong quản lý vì đối tượng
của quản lý là con người - một thực thể năng động, là tổng hoà của nhiều mối
quan hệ. Tác động vào con người không chỉ có hành chính, kinh tế, mà còn có
tác động tinh thần, tâm lý – xã hội…
Các phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các quy luật tâm lý.
Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục, tức là làm cho con người
phân biệt được phải – trái, đúng – sai, lợi - hại, đẹp - xấu, thiện – ác. Từ đó
nâng cao tính tự giác làm việc và sự gắn bó với tổ chức.
Các phương pháp giáo dục thường xuyên sử dụng kết hợp với các
phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt, vừa nhẹ nhàng vừa sâu
sát đến từng người lao động, đây là một trong những bí quyết thành công của
nhiều nhà lãnh đạo.
Tóm lại, mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng của nó và
không có phương pháp nào là hoàn hảo nên trong quá trình vận dụng phải có
Luận văn tốt nghiệp
Trên góc độ Nhà nước, quản lý Nhà nước đối với đô thị là sự can thiệp
bằng quyền lực của mình (bằng pháp luật, thông qua pháp luật) vào các quá
trình phát triển kinh tế - xã hội ở đô thị nhằm phát triển đô thị theo định hướng
nhất định.
Nhà nước, đại diện là các chính quyền đô thị thông qua các tổ chức
dưới quyền như các sở, ban ngành chức năng có vai trò quản lý tất cả các lĩnh
vực kinh tế, xã hội ở đô thị, truyền bá những tư tưởng hiện đại và lối sống văn
minh đô thị cho cộng đồng dân cư để giúp họ hướng tới một mục đích chung
của xã hội.
Mục tiêu chung của quản lý đô thị là nâng cao hiệu quả và tính hợp lý
trong quá trình sử dụng các nguồn lực của đô thị (con người, kỹ thuật, vật liệu,
thông tin, dịch vụ cơ sở hạ tầng và hệ thống kinh tế của sản xuất). Cụ thể là:
- Nâng cao chất lượng và sự hoạt động một cách tổng thể của đô thị.
- Đảm bảo sự phát triển và tái tạo bền vững của các khu vực đô thị.
- Cung cấp các dịch vụ đô thị và cơ sở hạ tầng cơ bản để đáp ứng các
nhu cầu chức năng của đô thị và các cư dân sống và làm việc trong đô thị đó,
nhằm cải thiện chất lượng sống và sức khoẻ của cư dân đô thị.
Quản lý đô thị trong nền kinh tế kế hoạch tập trung và kinh tế thị
trường:
Trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, Nhà nước có trách nhiệm phát
triển và cung cấp các dịch vụ và cơ sở hạ tầng đô thị.
Trong nền kinh tế thị trường vai trò của khối tư nhân rất lớn trong việc
cung cấp các dịch vụ đô thị.
Trong những năm qua, các cấp khác nhau của chính quyền Nhà nước
đã có trách nhiệm cung cấp cơ sở hạ tầng căn bản và dịch vụ đô thị để phục
vụ các đô thị và các hình thức định cư của con người. Trong nền kinh tế kế
hoạch tập trung, Nhà nước có trách nhiệm chính trong việc phát triển và cung
Luận văn tốt nghiệp
cấp phần lớn cơ sở hạ tầng công cộng và các dịch vụ đô thị. Các chính quyền
bản trong vấn đề quan tâm chủ yếu của quản lý đô thị từ Nhà nước với vai trò
người tạo ra và cung cấp chính các dịch vụ đô thị, sang khối tư nhân có vai trò
cung cấp các dịch vụ đô thị.
Sơ đồ: Sự chuyển đổi từ Nhà nước sang tư nhân trong việc cung cấp
cơ sở hạ tầng
Vai trò của Nhà nước trong quản lý đô thị
Vai trò của chính quyền thành phố trong việc quản lý và cung cấp các
dịch vụ và phát triển đô thị không còn được coi là duy nhất. Câu hỏi cần được
đặt ra là ai là người sẽ tham gia cung cấp và tạo ra các dịch vụ đô thị.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của chính quyền Nhà nước ở mọi
cấp đều đã thay đổi. Nhà nước không còn là nguồn duy nhất sản xuất và cung
cấp các dịch vụ đô thị. Nhà nước đảm nhận những vai trò mới trong lĩnh vực
làm việc với khối tư nhân như hình vẽ dưới đây. Những vai trò được minh
hoạ theo sơ đồ sau:
Sơ đồ: Vai trò mới của nhà nước
Nhà phát
triển
Người hỗ
trợ
Người
điều phối
Người khuyến
khích
Nhà nước tìm cách cách cải
thiện tính hiệu quả của việc
tạo ra các dịch vụ đô thị
Nhà nước tìm các cách
khác nhau để cung cấp dịch
vụ đô thị
Luận văn tốt nghiệp
đất đai, quy hoạch, kiến trúc, kết cấu hạ tầng, môi trường, tài chính, giảm
nghèo ở đô thị… Đồng thời đề suất các kiến nghị với các cấp trong việc
nghiên cứu xây dựng các chính sách cho quản lý đô thị.
Quản lý đô thị không tách rời quản lý nền kinh tế quốc dân.
Đô thị là một bộ phận của nền kinh tế; đô thị và nông thôn có mối quan
hệ chặt chẽ. Các chính sách phát triển đô thị là một bộ phận của chính sách
phát triển kinh tế quốc dân.
Quản lý đô thị là hoạt động tổng hợp, là khoa học và nghệ thuật.
Quản lý đô thị vận dụng kiến thức tổng hợp của nhiều ngành, nhiều
lĩnh vực.
Quản lý đô thị là một nghề.
Để quản lý đô thị có hiệu quả, cán bộ quản lý đô thị cần được đào tạo
bài bản và hiểu biết về đô thị nói chung và đô thị mình đang tham gia quản lý.
Muốn vậy cán bộ quản lý cần có thâm niên và kinh nghiệm trong công việc,
phải coi đó là nghề nghiệp của mình.
4. Các chức năng của quản lý đô thị.
Chức năng quản lý đô thị theo quá trình quản lý.
- Chức năng kế hoạch.
- Chức năng tổ chức.
- Chức năng chỉ đạo phối hợp.
- Chức năng kiểm soát.
Chức năng quản lý đô thị theo các lĩnh vực quản lý.
Về nguyên tắc, quản lý Nhà nước phải bao trùm tất cả các lĩnh vực hoạt
động xã hội, và như vậy tại đô thị có bao nhiêu lĩnh vực hoạt động xã hội
Luận văn tốt nghiệp
sẽ có bấy nhiêu lĩnh vực quản lý Nhà nước. Điều này phản ánh rõ trong cơ
cấu bộ máy quản lý Nhà nước tại đô thị. Tuy nhiên nói tới quản lý đô thị
người ta thường nghiên cứu sâu về quản lý các lĩnh vực hoạt động đô thị
được quan tâm như:
- Quản lý kinh tế đô thị.
được. Sau đó là công tác quản lý chưa tốt và ý thức của công dân chưa được
nâng cao.
Hiện tượng đục đường ống nước bừa bãi, các vòi nước công cộng không
được trông nom bảo quản, không có người chịu trách nhiệm, để nước lãng phí,
trong khi đó các nơi khác thì không có nước dung là tương đối phổ biến.
Bảng: Các chỉ số về cấp nước ở các đô thị
Thành phố
Các chỉ tiêu về nước
Lượng
nước
sạch
(m
3
/
ngày
đêm)
Tỷ lệ
người
được
dùng
nước
máy
(%)
Tỷ lệ
người
được
dùng
nước
giếng
(%)
Bắc Ninh
330.000
720.000
120.000
-
-
80
65
64
14
-
20
35
36
86
100
95
124
68
85
-
120
-
100
-
-
150
153
120
120
Hệ thống cấp nước có thể phân ra các loại sau:
- Theo đối tượng phục vụ:
+ Hệ thống cấp nước đô thị
+ Hệ thống cấp nước công nghiệp
+Hệ thống cấp nước nông nghiệp
+ Hệ thống cấp nước đường sắt
- Theo chức năng phục vụ:
+ Hệ thống cấp nước sinh hoạt
+ Hệ thống cấp nước sản xuất
+ Hệ thống cấp nước chữa cháy
+ Hệ thống cấp nước kết hợp
- Theo phương pháp sử dụng:
+ Hệ thống cấp nước chảy thẳng: nước dung xong thải đi ngay
+Hệ thống cấp nước tuần hoàn: nước chảy tuần hoàn trong một chu
trình kín. Hệ thống này tiết kiệm nước vì chỉ cần bổ sung một nước hao
hụt trong quá trình tuần hoàn, thường dung công nghiệp
+ Hệ thống cấp nước dung lại: nước có thể dung một vài lần rồi mới
thải đi, thường áp dụng trong công nghiệp
- Theo phương pháp vận chuyển nước:
+ Hệ thống cấp nước có áp: nước chảy trong ống chịu áp lực do bơm
hoặc bể nước trên cao tạo ra.
+ Hệ thống cấp nước tự chảy: nước tự chảy theo ống hoặc mương hở
do chênh lệch địa hình.
- Theo phương pháp chữa cháy:
+ Hệ thống chữa cháy áp lực thấp: áp lực nước ở mạng lưới đường ống
cấp nước thấp nên phải dung bơm đặt trên xe chữa cháy nhằm tạo ra áp
Luận văn tốt nghiệp
lực cần thiết để dập tắt đám cháy. Bơm có thể hút trực tiếp từ đường
ống thành phố hay từ thùng chứa nước trên xe chữa cháy.
+ Hệ thống chữa cháy áp lực cao: áp lực nước trên mạng lưới đường
2
S…
• Chứa nhiều khoáng chất hoà tan chủ yếu là sắt, mangan, canxi, magie, flo
• Không có hiện diện của vi sinh vật
- Nước biển: thường có độ mặn cao. Hàm lượng muối trong nước biển
thường có nhiều chất lơ lửng, càng gần bờ nồng độ càng tăng.
- Nước lợ: ở cửa song và các vùng ven bờ biển, nơi gặp nhau của các dòng
nước ngọt chảy từ song ra, các dòng thấm từ đất liền chảy ra hoà trộn với nước
biển. Do ảnh hưởng của của thuỷ triều và do sự hoà trộn giữa nước ngọt và nước
biển làm cho độ muối và hàm lượng huyền phù trong nước ở khu vực này luôn
thay đổi và có trị số cao hơn tiêu chuẩn cấp nước cho sinh hoạt.
- Nước khoáng: khai thác từ tầng sâiu dưới đất hay từ các suối do phun
trào từ long đất ra, nước có chứa một vài nguyen tố ở nồng độ cao hơn nồng
độ cho phép đối với nước uống và đặc biệt có tác dụng chữa bệnh. Nước
khoáng sau khi qua khâu xử lý thông thường như làm trong, loại bỏ hoặc nạp
lại khí CO
2
nguyên chất được đóng vào chai để cấp cho người tiêu dung.
- Nước chua phèn: nước bị nhiễm phèn là do tiếp xúc với đất phèn, loại
đất này giàu nguyen tố lưu huỳnh và một vài nguyen tố kim loại khác như
nhôm, sắt. Đất phèn được hình thành do kiến tạo địa chất.
- Nước mưa: có thể xem như nước cất tự nhiên nhưng không hoàn toàn
tinh khiết bởi vì nước mưa có thể bị ô nhiễm bởi khí, bụi và thậm chí cả vi
khuẩn có trong không khí. Khi rơi xuống, nước mưa tiếp tục bị ô nhiễm do
tiếp xúc với các vật thể khác nhau. Hơi nước gặp không khí chứa nhiều khí
oxyt nitơ hay oxyt lưu huỳnh sẽ tạo nên các trận mưa axit. Hệ thống thu
gom nước mưa dung cho mục đích sinh hoạt gồm hệ thống mái, máng thu
Luận văn tốt nghiệp
gom và bể chứa. Nước mưa có thể dự trữ trong các bể chứa có mái che để
dung quanh năm.
Quản lý lĩnh vực cấp nước là nhằm thực hiện chức năng quản lý của
Nhà nước, các cấp trong quá trình xây dựng và phát triển hệ thống cấp nước ở
nước ta. Mục tiêu của quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực cấp nước :
- Đặc điểm của hệ thống cấp nước chủ yếu là các công trình nằm dưới
mặt đất nên việc cải tạo mở rộng hệ thống cấp nước gặp rất nhiều khó
khăn và tốn kém, ảnh hưởng xấu đến các công trình khác và nhiều khi
không thể tiến hành được. Do vậy quản lý cấp nước phải được lập
quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống cấp nước trong thời gian dài
từ 20 đến 25 năm trên cơ sở quy hoạch phát triển đô thị đã được
duyệt.
- Quản lý việc khai thác sử dụng, bảo dưỡng duy tu các công trình
trong hệ thống cấp nước.
- Thanh tra, kiểm tra phát hiện những vi phạm và giải quyết các khiếu
nại của người dân.
- Xử lý các vi phạm như lấn chiếm, gây hư hại đến các công trình trong
hệ thống cấp nước.
- Tổ chức điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các bộ phận
nhằm đạt được các mục tiêu, chương trình, kế hoạch đã đề ra.
3. Nhiệm vụ của tổ chức quản lý hệ thống cấp nước
Quản lý Nhà nước tạo ra môi trường thuận lợi để quản lý hệ thống cấp
nước. Tuy nhiên hệ thống cấp nước vận hành hiệu quả đến mức nào còn phụ
thuộc vào công tác quản lý hệ thống cấp nước ở cơ quan, tổ chức được giao
Luận văn tốt nghiệp
nhiệm vụ trực tiếp quản lý. Công tác quản lý hệ thống cấp nước hiệu quả khi
tổ chức hay cơ quan thực hiện được những nhiệm vụ sau:
- Nghiệm thu và kiểm tra xem tất cả những quy định có lien quan tới
việc xây dựng mạng lưới của hệ thống cấp nước hay không?
• Kiểm tra đô dốc đặt các đường ống và độ thẳng trong quá trình thi
công xây dựng.
• Kiểm tra vật tư kỹ thuật và các thiết bị có lien quan đến việc lắp đặt