Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại ở việt nam và đề xuất giải pháp phù hợp để hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất thải nguy hại ở việt nam - Pdf 10

Đánh giá tình hình quản lý chất thải nguy hại
ở Việt Nam và đề xuất giải pháp phù hợp để
hoàn thiện về thể chế chính sách quản lý chất
thải nguy hại ở Việt Nam Lê Thị Bích Thủy Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường
Luận văn ThS. ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
Người hướng dẫn: PGS.TS. Trần Yêm
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Đánh giá thực tế về tình hình quản lý Chất thải nguy hại (CTNH) trên địa
bàn toàn quốc, trong đó tập trung vào các tỉnh có phát sinh nhiều chất thải nguy hại
như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu,
Bình Dương. Nghiên cứu, phân tích các mô hình quản lý CTNH hiện có trên thế giới
và khả năng áp dụng tại Việt Nam. Đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp, bao gồm
cả nội dung xây dựng, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật.

Keywords. Quản lý chất thải; Chất thải nguy hại; Chính sách quản lý; Khoa học môi
trường Content
MỞ ĐẦU
Quản lý chất thải nguy hại (CTNH) là một vấn đề tương đối bức xúc trong công tác
bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Theo Báo cáo hiện trạng môi trường năm 2004, tổng lượng
CTNH phát sinh hàng năm của Việt Nam trong năm 2003 vào khoảng 160 ngàn tấn và sẽ

tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam.
Luận văn được trình bày theo các chương, phần như sau:
- Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu;
- Chương 2. Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu;
- Chương 3. Kết quả nghiên cứu;
- Kết luận và kiến nghị;
- Tài liệu tham khảo. CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về chất thải nguy hại
1.1.1. Khái niệm chất thải nguy hại
Chất thải nguy hại là gì?
Công ước Basel không đưa ra một định nghĩa cụ thể về CTNH mà đưa ra các phụ lục
trong Công ước, trong đó xác định những chất thuộc Phụ lục I và có ít nhất một thuộc tính
trong Phụ lục III, hoặc các chất do nước sở tại quy định trong luật pháp của nước đó, được
coi là CTNH.
Theo Luật BVMT 2005: “Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng
xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác”.
Định nghĩa về CTNH trong Luật BVMT 2005 nhìn chung là đầy đủ và rất phù hợp
trong điều kiện luận án lấy bối cảnh nghiên cứu là Việt Nam. Vì vậy, ta thống nhất sử dụng
định nghĩa này làm định nghĩa chung cho CTNH trong luận án này. Đồng thời, cũng trong
phạm vi của luận án, CTNH được đề cập chủ yếu là CTNH dạng rắn. Để cụ thể hoá định
nghĩa này, Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT đã đưa ra danh mục các CTNH theo nguồn thải.
1.2. Khái niệm quản lý chất thải và quản lý CTNH
Quản lý chất thải là quá trình bao gồm thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế hoặc tiêu
hủy, và quan trắc các loại chất thải. Mục đích của quản lý chất thải là nhằm làm giảm các
nguy cơ, tác động của chất thải tới sức khỏe con người và môi trường. Theo Luật BVMT
2005, quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng,

thải công nghiệp nguy hại phát sinh tại Việt Nam.
Nguồn phát sinh chất thải công nghiệp nguy hại của một số tỉnh, thành phố
Hiện trạng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) ở Việt Nam khá phức tạp và đa
dạng về chủng loại, với số lượng gia tăng không ngừng.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện cả nước có 1.153 điểm tồn lưu hóa chất. Tổng cục
Môi trường đã phân loại được 240 điểm hóa chất thuộc danh mục gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, 95 điểm ở mức độ gây ô nhiễm. Nghệ An là địa
phương có nhiều điểm tồn lưu hóa chất nguy hại nhất - 193 điểm; sau đó phải kể đến các địa
phương là Hà Tĩnh 8 điểm; Thanh Hóa, Quảng Bình 7 điểm; Thái Nguyên 5 điểm Nhiều
địa phương mới chỉ thống kê 1- 2 điểm như Hà Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Bắc Giang,
Lạng Sơn, Yên Bái, Tuyên Quang Còn rất nhiều địa phương chưa thực hiện thống kê nên
danh mục các điểm tồn lưu đang danh mục mở. Trong số các điểm tồn lưu hóa chất có nhiều
kho thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu từ những năm 1960, 1962, 1964 với các loại hóa chất độc
hại và khó phân hủy trong môi trường như Lindan, Endrin, Wofatox, Ethyl parathion,
Falisan…
1.3.2. Tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam
1.3.2.1. Khung thể chế trong việc quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam.
Để thực hiện thống nhất quản lý chất thải trên cả nước, trong đó có chất thải rắn và
chất thải nguy hại, cần có một hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tương ứng từ trung ương
tới địa phương. Cần có sự phân công, phân cấp cụ thể giữa trung ương và địa phương, giữa
các bộ, ngành và các cơ quan, đơn vị có liên quan để tránh chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ. Mặt
khác, công việc này không chỉ có một cơ quan nào đó làm được mà đòi hỏi có nhiều ngành,
nhiều đơn vị cùng tham gia, phối hợp. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đã quy định trách
nhiệm quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trong đó có trách nhiệm quản lý chất thải rắn
và chất thải nguy hại thống nhất từ trung ương tới địa phương.
a) Bộ Tài nguyên và Môi trường
Theo Nghị định số 25/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi
trường thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong đó có lĩnh vực quản
lý chất thải rắn và chất thải nguy hại, gồm những nhiệm vụ cụ thể như sau: trình Chính phủ

môi trường được thành lập để giúp Tổng Cục trưởng Tổng cục Cảnh sát thống nhất quản lý,
tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn lực lượng Cảnh sát môi trường trong cả nước thực hiện các chủ
trương, kế hoạch, biện pháp bảo vệ môi trường; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội
phạm và các vi phạm pháp luật khác về môi trường, trong đó có quản lý chất thải nguy hại.
Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) có nhiệm vụ giám sát, phòng ngừa việc vận chuyển
xuyên biên giới bất hợp phát đối với phế liệu, chất thải.
c) Cấp địa phương:
Tại các địa phương, theo quy định tại Điều 122, chương XIII, Luật Bảo vệ môi trường
2005 quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Uỷ ban nhân dân các
cấp, trong đó có nhiệm vụ quản lý nhà nước về chất thải rắn và chất thải nguy hại, thì Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, trong đó
có quản lý chất thải trên địa bàn toàn tỉnh; Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng,
nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện và Uỷ ban nhân dân cấp
xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trên địa bàn xã.
Tương tự như các Bộ, ngành khác, các Sở Y tế, Sở Công Thương, Sở Xây dựng, Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở thuỷ sản, Công an tỉnh (phòng PC 36), Sở Giao
thông vận tải, Sở Kế hoạch và Đầu tư … thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi
trường, trong đó có quản lý chất thải thuộc lĩnh vực ngành tại địa phương.
1.3.2.2. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý chất thải nguy hại ở
Việt Nam.
Luật bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005
Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
Nghị định số 59/2007/ND-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 của chính phủ ban hành quy
định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức
liên quan đến quản lý chất thải rắn.
Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ về phí bảo
vệ môi trường đối với chất thải rắn.
Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/ NĐ-CP.

Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về quản lý CTNH
Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày
18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá
tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
Thông tư số 01/2012/TT-BTNMT ngày 16 tháng 3 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và kiểm tra, xác nhận việc thực
hiện đề án bảo vệ môi trường chi tiết; lập và đăng ký đề án bảo vệ môi trường đơn giản
Quyết định 60/2002/QD-BKHCNMT ngày 7 tháng 8 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ
Khoa học, công nghệ và môi trường về việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải
nguy hại.
Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế ban hành quy chế
quản lý chất thải y tế.
TCVN 6696-2000 quy định về bảo vệ môi trường cho các bãi chôn lấp hợp vệ sinh.
TCVN 6705:2009 quy định về phân loại chất thải rắn thông thường.
TCVN 6706:2009 quy định về phân loại chất thải nguy hại.
TCVN 6707:2009 dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa chất thải nguy hại.
TCVN 7380:2004: Lò đốt chất thải rắn y tế - Yêu cầu kỹ thuật
TCVN 7381:2004: Lò đốt chất thải rắn y tế - Phương pháp đánh giá và thẩm định
TCXDVN 261:2001 Bãi chôn lấp – Tiêu chuẩn thiết kế
TCXDVN 320:2004 Bãi chôn lấp chất thải nguy hại – Tiêu chuẩn thiết kế.
QCVN 02:2008 về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế
QCVN 07:2009 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về ngưỡng chất thải nguy hại
QCVN 25:2009 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải của bãi chôn lấp chất thải
rắn đô thị.
QCVN 07:2010/BXD – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia các công trình hạ tầng kỹ thuật
đô thị, Chương 9 Hệ thống thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý chất thải rắn và nhà vệ sinh
công cộng
QCVN 30:2010/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải

trở nên nghiêm trọng. Trong thời gian qua công tác tổ chức thu gom, lưu giữ, vận chuyển và
xử lý các loại hóa chất, vỏ bao bì hóa chất BVTV tồn lưu đã bị cấm sử dụng, quá hạn và hỏng
đã được nhiều tỉnh, thành phố thực hiện như: Nghệ An, Tuyên Quang, Vĩnh Long
1.2.4.3. Thu gom từ nguồn thải y tế
Theo thống kê của Bộ Y tế, có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải y tế và
90,9% bệnh viện thực hiện thu gom hàng ngày.
Một cuộc khảo sát thực hiện vào năm 2006 bởi Viện Y học lao động và Vệ sinh môi
trường- Bộ Y tế cho thấy khoảng 50% các bệnh viện trên tổng số 1.042 bệnh viện đã thu gom
chất thải theo đúng quy định trong Quy chế quản lý chất thải ngành y tế. Tuy nhiên việc phân
loại và thu gom vẫn chưa được thực hiện đúng quy định, gây tốn kém trong việc xử lý và ảnh
hưởng đến môi trường. Tỷ lệ bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải y tế đảm bảo vệ sinh theo quy
định mới chỉ đạt 45,3% trong tổng số các bệnh viện trên toàn quốc.
Chất thải y tế phải được chứa trong các thùng đựng chất thải nhưng chỉ có một số ít
bệnh viện đáp ứng được quy định này. Kết quả điều tra của Bộ Y tế cho thấy có 53% bệnh
viện có xe vận chuyển chất thải y tế có nắp đậy, 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải y tế
có mái che, trong đó chỉ có 45,3% là đạt yêu cầu theo quy chế.
Đối với công tác thu gom chất thải y tế, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có
bánh và/hoặc xe tay để thu gom và vận chuyển chất thải tại chỗ. Xe tay và thùng có bánh có
thể được sử dụng đồng thời tại một số bệnh viện. Chất thải được lưu giữ trước khi xử lỷ tại
chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài bệnh viện. Theo kết quả khảo sát của JICA đối với
172 bệnh viện trong cả nước năm 2010 cho thấy chỉ gần 1/3 các bệnh viện có khu vực lưu giữ
được trang bị điều hoà và hệ thống thông gió theo quy định, 31 bệnh viện sử dụng phòng
chung để lưu giữ chất thải tạm thời và 45 bệnh viện sử dụng phòng không có hệ thống điều
hoà và thông gió. Đáng chú ý hơn là 30 bệnh viện không có phòng lưu giữ chất thải riêng cho
chất thải y tế. Đặc biệt, một nửa trong số bệnh viện tại Thừa Thiên Huế không có khu vực lưu
giữ chất thải y tế. Kết quả này cho thấy mặc dù việc phân loại rác tại nguồn tương đối tốt,
nhưng bước quản lý tại chỗ tiếp theo như thu gom và lưu giữ còn bộc lộ nhiều hạn chế tại các
bệnh viện.
Hiện tại, hầu hết các bệnh viện trong cả nước đều ký hợp đồng xử lý chất thải y tế với
các công ty môi trường đô thị của tỉnh/thành phố từ khâu vận chuyển đến xử lý cuối cùng.

Ngày 22 tháng 4 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
64/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng. Cho đến nay đã có 12/15 kho thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng đã được
xử lý không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chiếm 80%; 03 kho thuốc bảo vệ
thực vật đang triển khai xử lý ô nhiễm triệt để, chiếm 20%. Tuy nhiên trên thực tế cho thấy
nhiều kho chứa thuốc bảo vệ thực vật tuy đã được xử lý, xây hầm bê tông chôn thuốc tồn lưu,
nhưng nhiều điểm có hiện tượng lún sụt, mùi thuốc bảo vệ thực vật bốc lên khi thời tiết thay
đổi gây ô nhiễm môi trường. Số lượng các kho thuốc bảo vệ thực vật được xử lý chỉ chiếm
5% trong tổng số 240 điểm hóa chất tồn lưu cần được ưu tiên xử lý từ nay tới năm 2015, nếu
không sẽ tiếp tục phát tác ô nhiễm nặng nề tới môi trường sống và sức khỏe của người dân.
1.2.5.3. Xử lý chất thải y tế nguy hại
Theo thống kê có 73,3% bệnh viện xử lý chất thải rắn y tế nguy hại bằng phương pháp
thiêu đốt trong các lò đốt chuyên dụng, còn lại 26,7% bệnh viện thiêu đốt thủ công ở ngoài trời
hoặc thực hiện phương pháp chôn lấp.
Hiện nay, tại Việt Nam tồn tại một số mô hình xử lý chất thải rắn y tế nguy hại như
sau:
 Thiêu đốt:
 Chôn lấp:
 Chôn lấp sau khi đóng gói:
 Hóa rắn:
Công nghệ phổ biến để xử lý chất thải rắn y tế nguy hại tại Việt Nam là thiêu đốt. Có khoảng
73,3% bệnh viện tuyến tỉnh, huyện đã xử lý chất thải bằng lò đốt tại chỗ hoặc lò đốt tập trung
cho cụm bệnh viện hoặc cả thành phố. Tuy nhiên chỉ có 42,7% bệnh viện có lò đốt 2 buồng
đạt tiêu chuẩn về kỹ thuật và môi trường

CHƢƠNG II. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU

CTNH được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép gia tăng hàng năm. Tính đến tháng 10
năm 2011, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp được 93 Giấy phép hành nghề vận chuyển
CTNH, 47 Giấy phép hành nghề xử lý CTNH và 06 Giấy phép hành nghề quản lý CTNH cho
các cá nhân, tổ chức đăng ký. Hàng năm, Tổng cục Môi trường và các Sở Tài nguyên và Môi
trường địa phương đều thành lập các đoàn kiểm tra/thanh tra các cá nhân, tổ chức được cấp
phép để đảm bảo việc thực thi và tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trường và quản lý chất thải
nguy hại, tuy nhiên thực tế cho thấy hiệu quả giám sát việc thực thi pháp luật của các doanh
nghiệp còn thấp, chưa tạo chuyển biến tích cực về nhận thức và chưa đưa ra những hướng
dẫn cụ thể để các doanh nghiệp thực hiện nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực
của chất thải đến sức khỏe cộng đồng và môi trường.
3.1.1. Tình hình cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải
Tính đến năm 2011, số lượng các chủ nguồn thải CTNH đăng ký với Sở Tài nguyên
và Môi trường để được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải tăng lên rõ rệt tại các địa phương có
phát triển các hoạt động công nghiệp, điển hình như Sở Tài nguyên và Môi trường Tp.Hồ Chí
Minh, tính từ năm 2007 đến nay, đã cấp khoảng hơn hai nghìn Sổ đăng ký chủ nguồn thải so
với con số vài chục trước khi có Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và
Môi trường
3.1.2. Về công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại
Số lượng CTNH được thu gom, xử lý cũng gia tăng theo các năm. Theo kết quả thống
kê từ năm 2008 đến nay dựa trên báo cáo của các chủ xử lý (không tính các chủ xử lý do địa
phương cấp phép), lượng CTNH được xử lý tăng từ 85.264 tấn trong năm 2008 lên đến
129.688 tấn trong năm 2010 (tăng 34%), tính đến năm 2011, tổng lượng chất thải nguy hại
được thu gom là chiếm số lượng chất thải nguy hại phát sinh (bảng ). Việc xử lý chất thải
nguy hại hiện nay được thực hiện theo các hình thức
- Chôn lấp có kiểm soát tại các bãi chôn lấp,hầm chôn lấp, thường áp dụng đối với các
Công ty môi trường đô thị, công ty của nhà nước nơi có mặt bằng rộng, phù hợp quy hoạch
lâu dài như Công ty môi trường đô thị Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Xử lý bằng các công nghệ xử lý chất thải nguy hại tại các Công ty được cấp phép
hành nghề xử lý chất thải nguy hại.
- Lưu giữ và xử lý tại các cơ sở phát sinh chất thải nguy hại (thường hay áp dụng đối

của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại
+ Có sự phối hợp tích cực giữa các Bộ, ngành các cấp trong việc triển khai các quy
định pháp luật về bảo vệ môi trường đối với công tác quản lý chất thải nguy hại.
- Khó khăn:
+ Thiếu cán bộ có trình độ chuyên môn sâu về chất thải nguy hại
+ Công tác kiểm tra, kiểm soát lượng chất thải nguy hại phát sinh phần lớn dựa trên
chứng từ, sổ đăng ký chủ nguồn thải được thống kê thủ công do rất tốn thời gian và nhân lực,
thiếu chính xác.
+ Các quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại chưa cụ
thể, chi tiết nên việc áp dụng còn gặp nhiều khó khăn.
+ Hầu hết tại các địa phương, năng lực thu gom xử lý của các đơn vị hành nghề quản
lý chất thải nguy hạ mới chỉ đáp ứng một phần lượng chất thải nguy hại phát sinh.
+ Chưa có các hướng dẫn, khuyến cáo về loại hình công nghệ xử lý chất thải nguy hại
khiến cho việc đầu tư còn manh mún, công nghệ lạc hậu, hiệu quả xử lý chưa cao.
+ Chưa có quy hoạch chi tiết cho công tác quản lý chất thải nguy hại.
+ Chưa có đơn giá xử lý đối với các nhóm,mã chất thải nguy hại với phương pháp xử
lý cụ thể; chưa có các chính sách ưu tiên đối với công tác quản lý chất thải nguy hại.
+ Nhận thức và ý thức về bảo vệ môi trường và quản lý CTNH còn hạn chế: Công tác
phố biến thông tin, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho cộng đồng, cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, làng nghề, y tế cũng như công tác thanh tra, kiểm tra, cưỡng chế chưa
được triển khai toàn diện để tạo sự chuyển biến rõ rệt dẫn đến việc chưa hình thành được ý
thức bảo vệ môi trường của toàn thể nhân dân.
+ Đầu tư tài chính cho quản lý CTNH chưa tương xứng: Việc thu gom, xử lý CTNH
nói chung và CTNH công nghiệp nguy hại nói riêng cần được đầu tư thỏa đáng về công nghệ
và vốn. Đầu tư cho công tác quản lý CTR còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
Cho đến nay nguồn kinh phí đầu tư chủ yếu từ ngân sách nhà nước và các nguồn vốn ODA.
Trong khi đó, mức phí thu gom, xử lý CTNH còn tương đối thấp, vì vậy việc thu gom, vận
chuyển và xử lý CTNH còn manh mún, tự phát và không hiệu quả.
+ Xã hội hóa trong thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH chưa được thực hiện một cách
đồng bộ và có hiệu quả: Hiện nay việc xã hội hóa cho thu gom, xử lý CTR sinh hoạt và y tế

đối với các cơ sở vận chuyển, xử lý cho các chủ nguồn thải trên địa bàn tỉnh, thành phố.
- Quy định đối với các cơ sở tái chế quy mô nhỏ hoặc loại hình tái chế ít gây ô nhiễm môi
trường thì không cần phù hợp với quy hoạch. Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết
về các quy mô và các loại hình này.
- Quy định Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra quy định về việc
thu gom, xử lý chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại các cơ sở y tế để giải quyết đặc thù của
từng địa phương.
- Quy định khuyến khích việc chuyển giao CTNH từ địa phương này sang địa phương khác
để xử lý đạt các yêu cầu về môi trường.
b. Các điều sửa đổi
Điều khoản
trong Luật
BVMT 2005
Đề xuất sửa đổi,
bổ sung trong
Luật BVMT
Lý do đề xuất
Khoản 1, Điều
70
Bỏ nội dung yêu
cầu bên tiếp nhận
quản lý CTNH
phải lập hồ sơ,
đăng ký với cơ
quan chuyên môn
về BVMT cấp
tỉnh.

gộp lại thành giấy phép hành nghề quản lý CTNH
Khoản 4 Điều
73
- Bỏ nội dung xác
nhận của cơ quan
chuyên môn về
BVMT cấp tỉnh
về hợp đồng
chuyển giao trách
nhiệm xử lý
- Thực tế việc này không cần thiết do các đơn vị hành
nghề quản lý CTNH có trách nhiệm gửi báo cáo định kỳ CTNH giữa chủ
có hoạt động làm
phát sinh chất thải
và bên tiếp nhận
trách nhiệm xử lý
chất thải.

Khoản 2 Điều
74
Bỏ

Bản và Hàn Quốc. Theo đó, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, là chủ các nguồn thải
CTNH sẽ buộc phải đăng ký và khai báo cáo thông tin liên đến tình hình sản xuất và phát
sinh CTNH của mình cho cơ quan chức năng về quản lý môi trường để phục vụ các mục tiêu
quản lý chất thải theo luật định KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Nhiệm vụ sẽ tạo ra thông tin cơ bản, toàn diện về tình hình quản lý CTNH trong cả
nước để từ đó xây dựng các giải pháp, chính sách phù hợp, thúc đẩy hoạt động xử lý CTNH
theo hướng thân thiện với môi trường.
Kết quả của nhiệm vụ sẽ góp phần hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp quy trong
lĩnh vực quản lý CTNH ở các cấp quản lý từ trung ương đến địa phương.
Trong khuôn khô
̉
cu
̉
a luâ
̣
n văn na
̀
y , tác giả đã tổng hợp, phân tích về và có cnhững
đánh giá cơ bản về tình hình quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam, Cụ thể, các kết quả đạt
được của luâ
̣
n văn như sau:
1. Để có cách nhìn tổng quát, khách quan và các thong tin cơ bản về công tác quản lý
CTNH, tác giả đã tổng hợp các thông tin trong nước và quốc tế về các khái niệm pháp lý và
cách hiểu thông thường về chất thải nguy hại, quản lý chất thải nguy hại; hiện trạng thu gom,
vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại, công tác đăng ký chủ nguồn thải, hiện trạng công nghệ
áp dụng, tình hình thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật.

5. Trung Tâm Môi trường Đô thị và Công nghiệp. Số liệu điều tra năm 2009.
6. Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại.
7. Báo cáo định kỳ của các Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương gửi Tổng Cục
Môi trường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status