XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN - Pdf 76

Luận văn tốt nghiệp cao học GVHD: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN PHI TẬP TRUNG Ở
VIỆT NAM VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
3.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 và
những năm tiếp theo đến năm 2020
3.1.1. Mục tiêu
Phát triển TTCK cả về quy mô và chất lượng hoạt động nhằm tạo ra kênh huy động
vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển, góp phần phát triển thị trường tài chính
Việt Nam; duy trì trật tự, an toàn, mở rộng phạm vi, tăng cường hiệu quả quản lý,
giám sát thị trường nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, từng
bước nâng cao khả năng cạnh tranh và chủ động hội nhập thị trường tài chính Quốc
tế.
3.1.2. Quan điểm và nguyên tắc phát triển thị trường chứng khoán
Phát triển TTCK phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, với các tiêu chuẩn và thông lệ Quốc tế, từng bước hội nhập với
thị trường tài chính khu vực và thế giới.
Xây dựng TTCK thống nhất trong cả nước, hoạt động an toàn, hiệu quả góp phần
huy động vốn cho đầu tư phát triển và thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa các DNNN.
Nhà nước thực hiện quản lý bằng pháp luật, tạo điều kiện để TTCK hoạt động và
phát triển; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và có chính sách khuyến khích các chủ
thể tham gia TTCK.
Bảo đảm tính thống nhất của thị trường tài chính trong phạm vi quốc gia, gắn với
việc phát triển TTCK với việc phát triển thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị
trường bảo hiểm.
3.1.3. Định hướng phát triển TTCK Việt Nam đến năm 2010 và những năm tiếp
theo đến năm 2020
Định hướng xây dựng và phát triển TTCK Việt Nam được căn cứ theo Định hướng
phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 và Luật chứng khoán
được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2006 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2007), cơ
chế xác định như sau:
Một là, mở rộng quy mô của thị trường chứng khoán tập trung, phấn đấu đưa tổng

 Khuyến khích và tạo điều kiện để các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế có
đủ điều kiện thành lập các công ty chứng khoán, khuyến khích các công ty
chứng khoán thành lập các chi nhánh, phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh ở các
tỉnh, thành phố lớn, các khu vực đông dân cư trong cả nước.
 Phát triển các công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán cả về quy mô và chất
lượng hoạt động. Đa dạng hóa các loại hình sở hữu đối với công ty quản lý quỹ
đầu tư. Khuyến khích các công ty chứng khoán thực hiện nghiệp vụ quản lý
danh mục đầu tư.
 Thành lập một số công ty định mức tín nhiệm để đánh giá, xếp loại rủi ro các
loại chứng khoán niêm yết và định mức tín nhiệm của các doanh nghiệp Việt
Nam.
Bốn là, phát triển các nhà đầu tư có tổ chức và các nhà đầu tư cá nhân, chi tiết như
sau:
Người thực hiện: Đỗ Xuân Lộc – TCDN/K15 Khoa sau ĐH/ĐH Kinh Tế Tp. HCM 2
Luận văn tốt nghiệp cao học GVHD: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
 Thiết lập hệ thống các nhà đầu tư có tổ chức bao gồm các ngân hàng thương
mại, các công ty chứng khoán, các công ty tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ đầu
tư…, tạo điều kiện cho các tổ chức này tham gia thị trường với vai trò là các
nhà đầu tư chuyên nghiệp và thực hiện chức năng của nhà tạo lập thị trường.
 Mở rộng và phát triển các loại hình quỹ đầu tư chứng khoán; tạo điều kiện cho
các nhà đầu tư nhỏ, các nhà đầu tư cá nhân tham gia vào thị trường chứng
khoán thông qua góp vốn vào các quỹ đầu tư.
3.2. Định hướng mô hình thị trường chứng khoán phi tập trung ở nước ta đến năm
2010 và những năm tiếp theo đến năm 2020
Khác với Sở giao dịch chứng khoán, TTCK phi tập trung không áp dụng hình thức
khớp lệnh giao dịch mà các giao dịch ở đây được thực hiện theo hình thức tự thỏa
thuận giữa các nhà đầu tư. Các công ty chứng khoán sẽ đóng vai trò là những người
đại diện cho khách hàng tiến hành những thỏa thuận này thông qua hệ thống điện
thoại hoặc hệ thống máy vi tính được nối mạng với nhau. Như vậy, không nhất
thiết phải có một nơi giao dịch tập trung, mà giao dịch có thể tiến hành ở bất cứ

tập trung quản lý và điều hành hoạt động thị trường chứng khoán phi tập trung.
3.2.3. Đối tượng tham gia thị trường chứng khoán phi tập trung
Bất kỳ tổ chức kinh doanh là công ty hay công ty trách nhiệm hữu hạn hay cá nhân
hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến chứng khoán đều có thể tham gia kinh
doanh trên thị trường chứng khoán phi tập trung nếu hội đủ các điều kiện quy định
của pháp luật.
3.2.4. Phương thức hoạt động
Về nguyên tắc TTCK phi tập trung cũng phải được tổ chức theo nguyên lý chung
về chứng khoán và thị trường chứng khoán cụ thể:
 Giao dịch chứng khoán trên TTCK phi tập trung vẫn phải thực hiện theo nguyên
tắc trung gian có nghĩa là việc mua bán chứng khoán ở thị trường này cũng phải
được thực hiện thông qua trung gian môi giới. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo
các loại chứng khoán được giao dịch là chứng khoán thực và thị trường hoạt
động lành mạnh, đều đặn, hợp pháp, phát triển bảo vệ được lợi ích của người
tiết kiệm và đầu tư. Vì những người này bản thân họ không tự xét đoán được
giá trị thực sự của từng loại chứng khoán và cũng không dự đoán được một
cách chính xác giá trị tương lai của nó. Do đó, nếu không có những nhà môi
giới có những phân tích cần thiết dựa trên những yếu tố xác đáng để có những
nhận xét kỹ lưỡng thì người mua chứng khoán không thể không bị nhầm lẫn
hoặc bị lừa gạt.
 Giá chứng khoán được hình thành theo nguyên tắc thỏa thuận. Cơ chế tạo giá
đối với loại chứng khoán được thực hiện theo phương thức cùng lúc có sự tham
gia của nhiều nhà tạo lập thị trường với sự tuân thủ nghiêm túc các yêu cầu quy
định sẽ cung cấp cho thị trường một giá tốt nhất. Cuối mỗi ngày giao dịch các
nhà tạo lập thị trường sẽ gởi các giá rao mua, chào bán của mình lên cơ quan
tổng hợp giá thị trường quốc gia để nơi đây phổ biến thành ấn phẩm.
 Sau khi chứng khoán được giao dịch, giá cả hình thành được đăng tải công khai
trên các thông tin đại chúng đồng thời các công ty chứng khoán cũng phải thực
hiện công bố thông tin theo quy định.
 Các thủ tục chi phối việc mua bán, giao nhận chứng khoán, phương thức thanh

thành lập tối thiểu 1 năm và có ít nhất 20% số cổ phiếu phát hành ra công
chúng.
 Trái phiếu của doanh nghiệp này đã thành lập tối thiều 2 năm, trong đó phải có
1 năm hoạt động có lãi.
Khu vực 2: dự kiến đăng ký giao dịch cho các doanh nghiệp có vốn trên 30 tỷ đồng
với điều kiện cơ bản sau:
 Cổ phiếu, trái phiếu của các CTCP có vốn điều lệ trên 30 tỷ đã thành lập tối
thiểu 2 năm và có ít nhất 10% số cổ phiếu phát hành ra công chúng.
 Trái phiếu của doanh nghiệp có vốn trên 30 tỷ, đã thành lập tối thiểu 5 năm,
trong đó phải có ít nhất 3 năm hoạt động kinh doanh có lãi.
 Trái phiếu công trình được sự đảm bảo thanh toán của một ngân hàng hay một
tổ chức tài chính.
 Trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương và các chứng khoán
niêm yết trên TTGDCK.
3.3.2. Cơ quan quản lý nhà nước
Nhìn chung, sự đa dạng của quá trình phát triển thị trường, mức độ phát triển của
thị trường và điều kiện cụ thể của mỗi nước sẽ dẫn đến sự đa dạng trong cơ chế và
mức độ quản lý thị trường. Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia, trên cơ sở những ưu
điểm của từng hình thức quản lý, hoạt động của TTCK đều đã sử dụng mô hình
quản lý nhà nước có sự kết hợp của chế độ tự quản.
Một trong những quan điểm cơ bản để xây dựng TTCK Việt Nam là nhà nước giữ
vai trò quyết định trong việc xây dựng, quản lý và phát triển TTCK. Nhà nước
thống nhất quản lý lĩnh vực chứng khoán tạo điều kiện cho thị trường này hoạt
động hiệu quả, an toàn, hỗ trợ cho việc thực hiện các mục tiêu của Nhà nước.
Người thực hiện: Đỗ Xuân Lộc – TCDN/K15 Khoa sau ĐH/ĐH Kinh Tế Tp. HCM 7
Luận văn tốt nghiệp cao học GVHD: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Khi áp dụng mô hình mới này, trong giai đoạn đầu do vai trò tự quản của TTGDCK
Hà Nội chưa cao nên UBCKNN sẽ phải thực hiện vai trò quản lý Nhà nước đối với
các hoạt động trên TTCK phi tập trung. UBCKNN với chức năng: định hướng và
trình cơ quan có thẩm quyền ban hành khung pháp lý cho hoạt động của thị trường,

Phòng thành viên: Chịu trách nhiệm theo dõi và khuyến khích các công ty thành
viên tuân thủ quy chế môi giới, giám sát việc tuân thủ các nghĩa vụ của nhà môi
Người thực hiện: Đỗ Xuân Lộc – TCDN/K15 Khoa sau ĐH/ĐH Kinh Tế Tp. HCM 8
Luận văn tốt nghiệp cao học GVHD: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
giới, giám sát việc tuân thủ các nghĩa vụ của nhà môi giới, ngân hàng giám sát, các
thành viên khác của hệ thống giao dịch.
Phòng niêm yết: Một trong những nhiệm vụ của phòng này là giám sát công ty
niêm yết, đảm bảo các công ty niêm yết tuân thủ các quy định về hoạt động niêm
yết mà cụ thể là tuân thủ các yêu cầu đối với niêm yết lần đầu và tuân thủ các nghĩa
vụ về công bố thông tin.
Phòng thông tin thị trường: Phòng thông tin thị trường có trách nhiệm phối hợp với
phòng niêm yết trong việc giám sát hoạt động công bố thông tin cùa các tổ chức
niêm yết. Phòng thông tin thị trường nhận thông tin chưa xử lý từ các phòng nghiệp
vụ khác và qua các kênh thông tin khác, sau đó phòng thông tin thị trường tiến hành
xử lý những thông tin cần thiết trước khi đưa ra thị trường.
3.3.5. Hệ thống giao dịch
Đến nay, theo xu hướng phát triển của thị trường OTC, ngoài phương thức truyền
thống của thị trường là phương thức thoả thuận, hệ thống giao dịch trên thị trường
OTC đã được thay đổi do tích hợp nhiều phương thức giao dịch hiện đại nhằm đa
dạng hoá các hình thức giao dịch với mục đích phục vụ tối đa cho các nhà đầu tư.
Việc đưa ra nhiều phương thức giao dịch khác nhau áp dụng trong thị trường này sẽ
làm cho các hoạt động giao dịch sôi động và các chứng khoán trên thị trường sẽ có
tính thanh khoản cao
Hiên tại, TTGDCK Hà Nội đang áp dụng 2 phương thức giao dịch đó là: giao dịch
thoả thuận và giao dịch báo giá.
Đối với giao dịch thoả thuận: Vẫn thực hiện hoạt động giao dịch như hiện nay
nhưng phải được thiết kế với nhiều tính năng hiện đại với công suất lớn, trong đó
bỏ qua hình thức giao dịch qua đại diện giao dịch tại sàn (hiện nay đang được thực
hiện tại TTGDCK Hà Nội) và thực hiện đặt lệnh từ xa thông qua mạng máy tính
điện tử diện rộng để tiết kiệm nhân lực và chi phí vận hành.

 Cấp độ 3: Cho phép các nhà tạo lập thị trường trên hệ thống được đặt các lệnh
mua và bán chứng khoán được cấp phép kinh doanh. Các lệnh này sẽ được hiển
thị lập tức trên hệ thống. Để được cấp phép hoạt động ở cấp độ 3, các thành
viên của thị trường phải là các nhà tạo lập thị trường. Hệ thống cung cấp cho
các thuê bao tất cả các dịch vụ của cấp độ 1 và cấp độ 2 cho phép nhà tạo lập thị
trường có đăng ký được cập nhật, sữa chữa báo giá về bất kỳ chứng khoán nào
mà họ là nhà tạo lập thị trường.
Các nhà kinh doanh chứng khoán phải báo cáo về giá và khối lượng giao dịch lên
trung tâm thông qua các thiết bị đầu cuối trong vòng 180 giây sau khi giao dịch
được thực hiện.

Tiếp theo là mô tả giao dịch thông qua hệ thống nhà tạo lập thị trường: giao dịch
được thực hiện thông qua các bước sau:
 Bước 1: Công ty chứng khoán sẽ nhận lệnh từ khách hàng và đặt lệnh đó cho
nhà tạo lập thị trường A – là người đưa ra mức giá tốt nhất trên hệ thống.
 Bước 2: Nhà tạo lập thị trường A nhận được lệnh từ công ty chứng khoán
chuyển tới ngay lập tức thoả thuận với công ty chứng khoán dựa trên mức giá
mà mình đưa ra, đồng thời điều chỉnh lại báo giá và công bố thông tin có liên
quan trên hệ thống. Trong trường hợp, lệnh của công ty chứng khoán không
khớp với mức báo giá mà nhà tạo lập A đưa ra, nhà tạo lập thị trường A sẽ lưu
lệnh đó cho đến khi báo giá của mình khớp được lệnh của công ty chứng khoán.
Người thực hiện: Đỗ Xuân Lộc – TCDN/K15 Khoa sau ĐH/ĐH Kinh Tế Tp. HCM 10
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
BAN TỔNG GIÁM ĐỐC
P. NHÂN SỰ& ĐÀO TẠO
P. NHÂN SỰ& ĐÀO TẠO
Luận văn tốt nghiệp cao học GVHD: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
 Bước 3: Khi công ty chứng khoán có được kết quả thoả thuận, công ty chứng

3.3.6. Hệ thống đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán
Ở Việt Nam , do việc phát hành ra công chúng của các công ty cổ phần còn nhiều
hạn chế, các chứng khoán phát hành dưới dạng chứng chỉ vật chất. Các dịch vụ
đăng ký, lưu ký, thanh toán tập trung còn chưa phát triển, chưa tạo điều kiện thuận
lợi cho người sử dụng. Chính vì vậy, chứng khoán giao dịch trên TTCK trước mắt
Người thực hiện: Đỗ Xuân Lộc – TCDN/K15 Khoa sau ĐH/ĐH Kinh Tế Tp. HCM 11
Luận văn tốt nghiệp cao học GVHD: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
có thể dưới dạng chứng chỉ vật chất, ghi sổ, ghi danh, hoặc là vô danh, được lưu ký
tập trung hoặc không đưa vào lưu ký để tạo thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư.

Tuy nhiên, trước khi tiến hành giao dịch trên Trung tâm giao dịch, chứng khoán
buộc phải được đưa vào lưu ký tập trung. Về lâu dài, khi các dịch vụ lưu ký, thanh
toán tập trung phát triển hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người sử dụng, có thể
áp dụng bắt buộc sử dụng các hình thức này để tạo điều kiện giám sát dễ dàng hơn
cho các nhà quản lý thị trường. Trước mắt chỉ nên khuyến khích sử dụng hình thức
này.
Kinh nghiệm của các nuớc trên thế giới cho thấy, các hoạt động của hệ thống lưu
ký, thanh toán bù trừ các giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung cũng như
phi tập trung đều được thực hiện chủ yếu qua Trung tâm lưu ký chứng khoán.
Ngoài ra, cần phải có một hệ thống thanh toán tiền phục vụ riêng cho TTCK để đáp
ứng được những đòi hỏi mới của hệ thống thanh toán bù trừ về độ an toàn, tốc độ
xử lý và tính chính xác trong hoạt động thanh toán tiền cho các giao dịch chứng
khoán. Ngoài ra, trên cơ sở đánh giá năng lực hiện tại của mình, ngân hàng cũng
cần xây dựng phương án kết nối để truyền và nhận tin trên cơ sở thống nhất các
phương án kết nối với các thành viên lưu ký, TTGDCK Hà nội và Trung tâm lưu
ký. Mục đích cuối cùng của phương án này chính là nhằm đảm bảo cơ chế xác
nhận, truyền tin giữa ngân hàng với TTGDCK Hà Nội, Trung tâm lưu ký sao cho
chứng khoán chỉ được chuyển đi khi tiền đã được thanh toán.
3.3.7. Hệ thống công bố thông tin trên thị trường
Đối với các chứng khoán giao dịch thông qua hệ thống nhà tạo lập thị trường thì

bảng điện tử, hệ thống máy tính nối mạng các công ty chứng khoán.
3.3.8. Giám sát hoạt động của thị trường
Việc giám sát TTCK được thực hiện trên phương thức giám sát các đối tượng tham
gia thị trường, phải được dựa trên các hoạt động cụ thể hoặc căn cứ vào các thông
tin, dữ liệu báo cáo do các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán, người hành
nghề kinh doanh chứng khoán,… cung cấp. Từ đó, phân tích, đối chiếu giữa các
thông tin, số liệu trong báo cáo với các tiêu chí đã được quy định trong các văn bản
pháp luật liên quan đến chứng khoán, thị trường chứng khoán nhằm phát hiện sớm
các dấu hiệu thiếu sót hoặc vi phạm.
Hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật về chứng khoán được thực hiện bằng 3
phương thức cơ bản sau:
 Giám sát việc tuân thủ các quy định liên quan đến hoạt động chứng khoán và
TTCK thông qua hệ thống báo cáo, công bố thông tin. Được thực hiện thông
qua việc theo dõi, phân tích thường xuyên các báo cáo của các đối tượng chịu
giám sát trên thị trường dựa trên những quy định về chứng khoán và TTCK liên
quan và tiêu chí giám sát cụ thể. Các đối tượng chịu sự giám sát, quản lý có
trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác và đảm bảo có tính pháp lý của
các thông tin, báo cáo theo quy định cho UBCKNN và TTGDCK. Thông qua
việc xử lý các dữ liệu, thông tin trong các báo cáo thường xuyên một cách liên
tục nhằm tìm ra và phát hiện kịp thời các trường hợp vi phạm trên thị trường.
 Giám sát thường xuyên qua các thông tin giao dịch hai chiều qua hệ thống giao
dịch: các thông tin, dữ liệu về giao dịch trên TTCK phi tập trung được phản ánh
qua hệ thống quản lý giao dịch, qua đó các quản lý nắm bắt và quản lý được
nhiều thông tin và các dữ liệu quan trọng về hoạt động giao dịch như: thông tin
báo giá, thông tin đặt lệnh, thông tin kết quả giao dịch, thông tin thanh toán giao
dịch, vị thế công ty thành viên trong giao dịch và nhiều thông tin khác… Những
thông tin này sẽ là cơ sở để lưu giữ, phân tích phát hiện ra các dấu hiệu sai
phạm trong hoạt động giao dịch và các hoạt động có liên quan trên TTCK phi
tập trung nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro.
Người thực hiện: Đỗ Xuân Lộc – TCDN/K15 Khoa sau ĐH/ĐH Kinh Tế Tp. HCM 13

Một trong những nhân tố quan trọng trên thị trường OTC là hệ thống các nhà tạo
lập thị trường, vì với số lượng chứng khoán hạn chế có thể dẫn đến khả năng giao
dịch của thị trường kém sôi động. Do vậy, cần thiết phải xây dựng các nhà tạo lập
thị trường với hoạt động của TTCK phi tập trung.
Thứ nhất là xác định điều kiện của nhà tạo lập thị trường:
Người thực hiện: Đỗ Xuân Lộc – TCDN/K15 Khoa sau ĐH/ĐH Kinh Tế Tp. HCM 14
Luận văn tốt nghiệp cao học GVHD: TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên
Hoạt động của nhà tạo lập thị trường là mua bán chứng khoán với khách hàng
thông qua tài khoản của mình để hưởng chênh lệch giá, có nghĩa vụ luôn duy trì
hoạt động giao dịch của chứng khoán đó, do vậy đối với TTCK phi tập trung cho
phép một số các công ty chứng khoán có tiềm lực tài chính đứng ra làm nhà tạo lập
thị trường cần phải đáp ứng được các điều kiện sau:
 Đăng ký là thành viên của Trung tâm.
 Có mức vốn tối thiểu là 500 tỷ đồng.
Khi một công ty chấp nhận như nhà tạo lập thị trường, còn phải đáp ứng các tiêu
chuẩn nhất định khi thực hiện báo giá cho chứng khoán đó, Trung tâm yêu cầu nhà
tạo thị trường phải:
 Tạo lập thị trường ít nhất 2 loại chứng khoán và nhiều nhất 8 loại chứng khoán;
 Cung cấp báo giá 2 chiều liên tục cho chứng khoán đó;
 Có khả năng và sẵn sàng thực hiện giao dịch ít nhất là một đơn vị giao dịch
thông thường theo báo giá;
 Bảo đảm báo giá của mình hợp lý trong mối quan hệ với thị trường hiện tại của
chứng khoán đó;
 Tuân thủ giới hạn chênh lệch giá tối đa cho trước;
 Báo cáo dữ liệu giao dịch hàng tháng và các thông tin khác theo yêu cầu của
Trung tâm;
 Báo cáo khối lượng giao dịch hàng ngày của loại chứng khoán mà mình chịu
trách nhiệm tạo thị trường và thực hiện những chức năng này trong suốt thời
gian giao dịch.
Khi có nhiều công ty cùng tạo thị trường cho một chứng khoán, giá thị trường là kết

dụng và hoàn thiện mô hình này như sau:
 Sau năm 2010: áp dụng mô hình TTCK phi tập trung có sự tham gia của nhà tạo
lập thị trường cho các loại chứng khoán cổ phiếu và trái phiếu.
 Từ sau năm 2010-2020: hoàn thiện mô hình, cơ chế vận hành và chuẩn bị các
tiền đề cần thiết để xây dựng mô hình áp dụng cho các sản phẩm khác của
chứng khoán như chứng chỉ quỹ và các sản phẩm phái sinh.
 Sau năm 2020: áp dụng mô hình toàn diện cho toàn bộ chứng khoán.
Như vậy, mô hình TTCK phi tập trung có sự tham gia của nhà tạo lập thị trường trên
nền tảng TTGDCK Hà Nội với các qui định chi tiết về điều kiện để phát hành và giao
dịch chứng khoán; Cơ quan quản lý nhà nước; Cơ cấu sở hữu; Cơ cấu tổ chức; Hệ
thống giao dịch; Hệ thống đăng ký, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán; Hệ
thống công bố thông tin trên thị trường; Giám sát hoạt động của thị trường; Thành
viên của thị trường như đã trình bày ở phần trên, nếu được vận hành đồng bộ và có
chất lượng thì đây sẽ là mô hình phù hợp nhất cho TTCK phi tập trung ở Việt Nam.
Bởi vì trước tình hình hội nhập kinh tế của thế giới và để đạt được mục tiêu của nhà
nước đề ra trong việc phát triển TTCK Việt Nam sau khi đã trải qua một thời gian
quá độ là từ 2005- nay thì đây là một mô hình rất phù hợp. Sự phù hợp này không chỉ
đáp ứng trong hiện tại mà còn đáp ứng với yêu cầu phát triển TTCK trong tương lai.
3.4. Các nhóm giải pháp hỗ trợ phát triển TTCK phi tập trung ở Việt Nam
3.4.1. Thiết lập khung pháp lý cho thị trường
3.4.1.1. Xây dựng và ban hành đồng bộ hệ thống văn bản dưới luật
Kinh tế của một nước càng phát triển thì luật điều chỉnh thị trường tài chính càng
trở nên quan trọng hơn. Phạm vi điều chỉnh và nội dung của luật này có ảnh hưởng
trực tiếp đến một phạm vi lớn các đối tượng có liên quan bao gồm các nhà đầu tư,
các công ty phát hành, các công ty chứng khoán, cơ quan quản lý… và các đối
tượng tham gia thị trường. Khung pháp lý cho TTCK có thể xem như hàng rào chắn
Người thực hiện: Đỗ Xuân Lộc – TCDN/K15 Khoa sau ĐH/ĐH Kinh Tế Tp. HCM 16

Trích đoạn Thành lập công ty định mức tín nhiệm trên TTCK Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status