Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán là nơi luân chuyển và phân bổ các nguồn vốn
từ khu vực có lợi nhuận thấp sang khu vực có lợi nhuận cao, tạo điều kiện
cho các nguồn vốn được sử dụng một cách có hiệu quả nhất. Do đó, khi vốn
đã trở thành một loại hàng hoá đặc biệt, phát triển thị trường chứng khoán là
việc rất cần thiết để phát triển nền kinh tế hàng hoá.
Thị trường chứng khoán được hình thành và phát triển bắt đầu từ nhu
cầu tự phát về trao đổi và sau đó được phát triển với quy mô lớn dần về
phương thức giao dịch, quản lý cũng ngày càng chặt chẽ hơn. Thị trường
chứng khoán bao gồm hai loại thị trường: thị trường giao dịch các loại chứng
khoán được cấp giấy phép niêm yết (thị trường chứng khoán tập trung) và thị
trường giao dịch các chứng khoán của công ty vừa và nhỏ không hoặc chưa
được niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung (thị trường giao dịch phi
tập trung). Sự kết hợp giữa hai loại thị trường này sẽ tạo thành một hệ thống
thị trường chứng khoán khá hoàn chỉnh, rộng lớn, sôi động và linh hoạt.
Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán tập trung (Trung tâm giao dịch
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh) đã đi vào hoạt động được 8 năm; hàng
hoá trên thị trường tuy đã được bổ sung nhưng vẫn còn khá nghèo nàn; các
điều kiện chặt chẽ còn là những cản trở lớn đến việc được tham gia niêm yết
khi đại bộ phận các doanh nghiệp Nhà nước trong diện cổ phần hoá đều là
những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy, việc hình thành và phát triển thị
trường chứng khoán phi tập trung (OTC) là rất cần thiết nhằm tạo điều kiện
cho các công ty vừa và nhỏ, các công ty mới thành lập có thể huy động vốn
trên thị trường chứng khoán. Đồng thời cung cấp thêm các loại công cụ đầu
tư đa dạng cho các nhà đầu tư, tạo cơ chế giao dịch linh hoạt, chi phí thấp và
tạo cơ chế định giá mới để góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường
chứng khoán Việt Nam phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
1
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
Thuật ngữ OTC - nghĩa là giao dịch “ngoài quầy” theo cách diễn đạt
nguyên thuỷ - xuất hiện khi các chứng khoán vẫn còn được giao dịch một
cách thủ công. Ngày nay, nhờ sự phát triển của kỹ thuật truyền thông và vi xử
lý, thị trường OTC hiện đại đã thoát ly xa khỏi các quầy và hoạt động theo
một cơ chế được tổ chức với sự trợ giúp về kỹ thuật điện tử rất tinh vi, có khả
năng kết nối trên quy mô rộng lớn giữa các nhà môi giới và kinh doanh
chứng khoán với nhau, nhưng thuật ngữ OTC vẫn được dùng để mô tả các
hoạt động mua bán các chứng khoán không được tham gia trên sở giao dịch.
Do đó, theo cách hiểu thông dụng nhất hiện nay thì thị trường OTC
được tổ chức bao gồm một mạng lưới các tổ chức trung gian môi giới và tạo
lập thị trường, các tổ chức này được kết nối với nhau và kết nối với trung
tâm quản lý thông qua một mạng máy tính điện tử diện rộng. Các công ty
chứng khoán sẽ liên tục đưa lên mạng báo giá hai chiều và khối lượng chứng
khoán tối đa có thể thực hiện mua hoặc bán. Với mạng lưới này, các công ty
chứng khoán cũng có thể thực hiện việc đàm phán, thương lượng giá và khối
lượng giao dịch trên cơ sở báo giá, thông báo về kết quả giao dịch cho trung
tâm quản lý, trung tâm thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán. Cơ chế thiết
lập giá trên thị trường này chủ yếu là theo thoả thuận, mua bán phi tập trung
tại nhiều địa điểm đồng thời vẫn được quản lý, giám sát tốt.
Như vậy, thị trường OTC là một thị trường có tổ chức và hoạt động
theo các quy định của pháp luật, nó khác biệt hoàn toàn so với thị trường
“chợ đen” - là thị trường tự phát và không có điều chỉnh của pháp luật.
Có thể nói thị trường OTC có một số đặc điểm sau:
3
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
3
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
- Các giao dịch có thể được tiến hành ở mọi nơi do thị trường OTC
không có sàn giao dịch tập trung hay có thể nói các giao dịch được tiến hành
thuận lợi hơn so với giao dịch trên TTGDCK.
1. Những tác động tích cực của OTC
Thị trường chứng khoán (Thị trường chứng khoán tập trung và thị
trường OTC) là một thể chế tài chính bậc cao mà hoạt động của nó thông qua
các giao dịch cụ thể là mua bán, trao đổi cổ phiếu, trái phiếu với nhiều loại
hình khác nhau, phù hợp với tâm lý muôn vẻ của người dân, qua đó cho phép
các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, ngân hàng và Chính phủ huy động
tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư và phát triển kinh tế.
Thị trường chứng khoán ra đời là một bước phát triển cao và hoàn
thiện của thị trường vốn, đồng thời nó cũng trở thành một công cụ quan trọng
của thị trường vốn. Công cụ này có những lợi thế rất căn bản so với các công
cụ khác (thị trường ngầm hoặc thị trường tín dụng qua hệ thống ngân hàng),
cụ thể là:
Các chứng khoán được giao dịch trên thị trường OTC có tính thanh
khoản rất cao nên việc hình thành thị trường này sẽ thoả mãn được nhu cầu
của người có vốn và người cần có vốn.
Tâm lý của người có vốn là muốn để vốn ở nơi vừa có thể sinh lợi
nhuận cao nhưng lại vừa có thể dễ dàng rút vốn về khi cần thiết. Còn người
cần có vốn lại muốn huy động vốn với thời hạn dài, ổn định và với chi phí
thấp. Nếu gửi ngân hàng thì các yêu cầu trên không thể thoả mãn được cùng
một lúc. Song, nếu mua chứng khoán trong điều kiện đã có thị trường chứng
khoán, nhất là thị trường OTC, thì hai yêu cầu trên sẽ được thoả mãn: người
sử dụng vốn có thể mua chứng khoán, khi cần tiền mặt có thể bán chúng vào
bất kỳ lúc nào mà không ảnh hưởng gì đến người sử dụng vốn.
5
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
5
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Ngoài ra, trong quá trình vận hành của nền kinh tế, luôn xuất hiện một
số quỹ có vốn bằng tiền tạm thời nhàn rỗi như quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi,
quỹ tương hỗ. Hoạt động tách biệt giữa các khoản thu và chi của các loại quỹ
phiếu chính quyền địa phương...).
Nhà nước nào cũng có nhiệm vụ ổn định và phát triển kinh tế. Nền
kinh tế tăng trưởng hay suy thoái trước hết phụ thuộc vào các chính sách và
các biện pháp kinh tế của Chính phủ. Ngân sách Nhà nước càng lớn mạnh thì
khả năng thực hiện các mục tiêu, chiến lược kinh tế càng dễ dàng. Thông tin
qua thị trường chứng khoán, Chính phủ, chính quyền địa phương và các tổ
chức của Chính phủ có thể phát hành các loại trái phiếu Nhà nước bán cho
các hộ gia đình, các tổ chức kinh tế xã hội để có tiền bù đắp thiếu hụt ngân
sách hoặc có vốn để xây dựng các công trình công cộng, các dự án của Nhà
nước...
Các doanh nghiệp nếu được cơ quan có thẩm quyền cho phép thì cũng
có thể phát hành trái phiếu để vay vốn trên thị trường sơ cấp là nơi làm tăng
thêm vốn đầu tư cho nền kinh tế từ các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế
(trong nước và nước ngoài) mà không làm tăng thêm lượng tiền trong lưu
thông.
Cũng như thị trường chứng khoán tập trung, thị trường OTC cũng là
một trong những công cụ kiểm soát và huy động các nguồn vốn đầu tư nước
ngoài.
Vốn đầu tư nước ngoài có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với
các nước có nền kinh tế đang phát triển. Trên thực tế, các khoản vốn đầu tư từ
nước ngoài thường được thu hút dưới hai hình thức, đó là đầu tư trực tiếp
thông qua các dự án sản xuất kinh doanh, và đầu tư gián tiếp thông qua các
định chế tài chính trung gian. Cả hai loại hình này nếu như không có TTCK
thì sẽ không phát huy hết được hiệu quả của nó. Bản thân các nhà đầu tư
nước ngoài khi xem xét về khía cạnh môi trường đầu tư, họ thường tính đến
khả năng sinh lợi, khả năng hoàn vốn cũng như khả năng chuyển đổi sở hữu
7
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
7
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
gia, khu vực và thế giới. Trong đó, những biểu hiện tiêu cực trên thị trường
chứng khoán thường thấy như:
Thị trường chứng khoán luôn chứa đựng yếu tố đầu cơ. Đây là yếu
tố rất khó kiểm soát trên SGDCK và lại càng khó kiểm soát hơn trên thị
trường OTC. Đầu cơ là một yếu tố có tính toán của những người chấp nhận
rủi ro. Họ có thể mua cổ phiếu với hy vọng giá sẽ tăng lên trong tương lai và
qua đó thu lợi nhuận.
Yếu tố đầu cơ dễ gây ảnh hưởng dây chuyền làm cho giá cổ phiếu có
thể tăng đột biến và giả tạo. Sự kiện này càng dễ xảy ra và trở nên rất nguy
hiểm khi có nhiều người cấu kết với nhau để đồng thời mua vào hay bán ra
một loại chứng khoán nào đó. Sự cấu kết giữa những người đầu cơ đó sẽ tạo
ra một sự khan hiếm hay thừa thãi giả tạo làm cho giá chứng khoán có thể
tăng lên hay giảm xuống một cách đột ngột, gây nhiều tác động tiêu cực đến
thị trường.
Hiện tượng giao dịch nội gián thường xảy ra trên thị trường chứng
khoán. Một cá nhân nào đó lợi dụng việc nắm bắt, tiếp xúc được với những
thông tin nội bộ cũng như các thông tin quan trọng khác, không được phép
công bố của doanh nghiệp và sử dụng các thông tin đó cho giao dịch nhằm
thu lợi bất chính thì được gọi là giao dịch nội gián.
Thị trường chứng khoán là nơi chứa đựng các thông tin nhiều chiều,
trong đó có các thông tin từ nội bộ công ty cũng như các thông tin từ sở giao
dịch, có thông tin chính thức được phổ biến và có thông tin chưa được phép
phổ biến. Hoạt động giao dịch nội gián được xem là một hành động phi đạo
đức về mặt thương mại, vì một số người sử dụng các thông tin không được
công bố để trục lợi và hành động này đã đi ngược với nguyên tắc của thị
trường là các nhà đầu tư đều có quyền bình đẳng và công khai thông tin như
nhau. Luật pháp về thị trường chứng khoán đã có những điều khoản nghiêm
9
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
10
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
tế (1929, 1987 và 1997) là một minh chứng điển hình cho việc rút vốn ồ ạt
dẫn đến khủng hoảng thị trường chứng khoán.
IV. CÁC NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA OTC
Về bản chất, chứng khoán là “tư bản giá”, khác hẳn so với các loại
hàng hoá thông thường khác, do đó, thị trường chứng khoán là một loại thị
trường đặc biệt, tuy có rất nhiều người tham gia nhưng lại có rất ít người có
khả năng phân tích và xác định được giá cả của chứng khoán trên thị trường,
nhất là đối với thị trường OTC. Chính vì vậy, mọi sự cấu kết hoặc mua bán
nội gián xảy ra sẽ gây tác hại rất lớn cho người đầu tư và cho nền kinh tế. Để
hạn chế khiếm khuyết trên, tất cả các thị trường OTC đều đưa ra những
nguyên tắc hoạt động. Trong đó, có một số nguyên tắc đã được tiêu chuẩn
hoá và trở thành chuẩn mực quốc tế, đó là:
1. Nguyên tắc công khai
Tất cả các hoạt động trong lĩnh vực phát hành chứng khoán ra công
chúng và kinh doanh chứng khoán trên OTC đều phải công khai. Công khai
về hoạt động của nhà phát hành, công khai về các loại chứng khoán được
chào bán, chào mua, công khai về giá cả, số lượng chứng khoán được mua,
bán.. .
Bản thân các công ty có chứng khoán niêm yết phải có nghĩa vụ công
bố thông tin theo định kỳ, tức thời và thông tin theo yêu cầu một cách trung
thực và đầy đủ cho các nhà đầu tư, ví dụ trong trường hợp công ty phát hành
có những thay đổi như: Thay đổi tên hay địa chỉ của trụ sở chính; tăng hay
giảm vốn; Khi hoá đơn, séc đã phát hành hết hạn hay khi các giao dịch với
ngân hàng bị đình chỉ; Khi các vụ kiện tụng ảnh hưởng nghiêm trọng đến
việc quản lý công ty, ảnh hưởng không tốt đến công ty; Sát nhập với một
công ty khác; Các hoạt động kinh doanh bị đình chỉ... Ngoài ra các tổ chức
11
12
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
12
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
môi giới cũng có thể chỉ nhận môi giới một phần dịch vụ các nhà đầu tư yêu
cầu, như việc chỉ làm trung gian mua bán một số loại chứng khoán nào đó
mà thôi.
Đối với các nhà kinh doanh chứng khoán, đó là những trung gian giao
dịch trên thị trường, nhưng không phải môi giới giao dịch cho khách hàng mà
cho chính bản thân họ (tự doanh), chính bằng nguồn vốn đầu tư của họ, để
hưởng mức chênh lệch giá trong quá trình kinh doanh. Quá trình giao dịch
cho bản thân, các nhà kinh doanh chứng khoán với mục tiêu theo đuổi lợi
nhuận, nên có thể gây ra các hiện tượng đầu cơ, thao túng, làm sai lệch giá
cả, gây ra biến động giá chứng khoán. Tuy nhiên, các nhà kinh doanh chứng
khoán này vừa có thể là các nhà giao dịch tự doanh, vừa là các nhà tạo lập thị
trường. Khi cung chứng khoán lớn hơn cầu, giá hạ, họ sẽ là người mua vào,
và ngược lại khi cầu chứng khoán lớn hơn cung họ sẽ là người bán ra, nhằm
mục đích bảo đảm cho thị trường được vận hành liên tục và không bị gián
đoạn. Do vậy, trong cơ cấu của thị trường chứng khoán không thể thiếu các
nhà kinh doanh chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường.
3. Nguyên tắc thực hiện công bằng
Các chuyên gia chứng khoán và các nhà tạo lập thị trường trên thị
trường OTC đều là những người được tiếp cận với các thông tin đặc biệt do
họ thường xuyên tiếp cận trực tiếp với các thông tin trên sổ lệnh, vì vậy họ có
nhiều khả năng là những đầu mối làm “rò rỉ” thông tin khi có sự biến động
thị trường. Nếu không bị cấm, các chuyên gia và các nhà tạo lập thị trường có
thể sử dụng các thông tin này (bao gồm các thông tin nội bộ) để thực hiện
kinh doanh cho chính mình nhằm thu lợi nhuận. Do vậy, những đối tượng này
thường bị kiểm soát rất chặt chẽ và đều phải khách quan, công bằng đối với
tất cả các khách hàng.
14
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
14
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Việc này được gọi là tạo ra một giá thị trường (thuật ngữ: to make a
market) cho chứng khoán. Khi đã chào giá như vậy, họ sẽ sẵn sàng thực hiện
mua hoặc bán với số lượng được nêu bằng chính tài khoản của công ty họ.
Không giống như thị trường sàn giao dịch, nơi mà mỗi chứng khoán
chỉ duy nhất có một chuyên gia tạo giá, trong thị trường OTC số lượng nhà
tạo giá cho một chứng khoán có thể nhiều hơn.
Một công ty hay cá nhân muốn làm một nhà tạo giá đối với một chứng
khoán nào đó, họ cần phải đáp ứng một yêu cầu tối thiểu về tiêu chuẩn. Trong
đó, thường có hai điều kiện tiên quyết là:
- Phải đăng ký và đã được công nhận là thành viên của tổ chức chủ
quản thị trường OTC.
- Phải đáp ứng giá trị vốn thuần tối thiểu đối với từng loại thị trường
chứng khoán được giá, đồng thời duy trì mức đó suốt quá trình hoạt động.
Sau khi được chấp nhận tư cách một nhà tạo giá, họ còn phải đảm bảo
một số chuẩn mực khi đưa ra giá cả cho các chứng khoán mà họ đảm nhận.
Yêu cầu cụ thể thường là :
- Phải cung cấp liên tục giá nêu từ hai phía mua và bán (two - sided
quotations) đối với CK được uỷ nhiệm tạo giá để duy trì thị trường.
- Phải sẵn sàng thực hiện giao dịch ít nhất là một đơn vị giao dịch
(thường là một lô tròn 100 cổ phần) với giá được nêu của mình.
- Phải đảm bảo rằng các giá nêu trên là hợp lý so với giá thị trường của
chứng khoán trong cuộc.
- Tôn trọng triệt để các giới hạn chênh lệch tối đa cho phép.
- Báo cáo hàng tháng các dữ liệu giao dịch và các thông tin khác theo
quy định về giao dịch chứng khoán và yêu cầu chủ quản.
15
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
16
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
đạt được mức giá tối ưu. Giao dịch sẽ được thực hiện khi nhà kinh doanh tìm
được nhà tạo lập thị trường bán số chứng khoán A với mức giá thấp nhất.
Tuy nhiên, không phải tất cả các nhà môi giới đã đăng ký đều là những
nhà tạo lập thị trường. Để có thể trở thành một nhà tạo lập thị trường thì
người môi giới phải thực sự quan tâm đến việc tạo dựng thị trường cho một
loại chứng khoán.
Vai trò của các nhà tạo lập thị trường được thể hiện thông qua các hoạt
động sau:
- Duy trì tính linh hoạt của thị trường đối với một loại chứng khoán khi
chứng khoán đó được phát hành ra thị trường;
- Tăng khả năng thực hiện giao dịch một loại chứng khoán có thể sinh
lời do sự cạnh tranh về giá cả đặt ra giữa các nhà tạo lập thị trường khác nhau
đối với cùng loại chứng khoán đó;
- Thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư tới một loại chứng khoán
không niêm yết trên thị trường;
- Tăng tính linh hoạt của thị trường đối với một loại chứng khoán khi
tăng số lượng các nhà tạo lập thị trường;
Bên cạnh đó, các nhà tạo lập thị trường có xu hướng cạnh tranh với
nhau do luôn có nhiều nhà tạo lập thị trường đối với một loại chứng khoán,
do đó thị trường OTC được đánh giá là có khả năng tự điều chỉnh tốt hơn thị
trường giao dịch chứng khoán tập trung.
Tham gia mua bán trên thị trường OTC còn có các định chế tài chính,
các quỹ đầu tư các công ty bảo hiểm ... và giữa các nhà tạo lập thị trường với
nhau.
3. Người phát hành chứng khoán
17
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
18
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
chức và đóng góp của hệ thống thông tin. Đối với người đầu tư, việc giao
dịch cũng gần giống như ở thị trường sàn giao dịch.
Thị trường sàn giao dịch có thuận lợi cơ bản là thông tin về giá cả và
chứng khoán đã có một nề nếp phổ biến trên nhiều phương tiện, tạo dễ dàng
khi cần truy cập. Nhưng đối với thị trường OTC lại có một số điểm khác biệt:
Công ty chứng khoán có thể thực hiện lệnh cho khách hàng theo các
hình thức sau:
- Có thể thu xếp để hưởng hoa hồng, tương tự như giao dịch chứng
khoán niêm yết trên sàn, trường hợp này họ mua cho tài khoản chung của
khách hàng.
- Có thể mua vào tài khoản của họ, kê giá lên, rồi bán lại cho khách
hàng, theo căn bản tự doanh nếu công ty có chức năng tự doanh.
- Hoặc công ty có sẵn chứng khoán tồn kho và muốn bán ra, trường
hợp này được xem là bán “có kê giá”, chứ không được coi là thu xếp “ăn hoa
hồng”. Khoản kê giá được quy định rõ ràng và chặt chẽ, đó là chênh lệch
giữa giá thực (net price) mà khách đầu tư phải trả so với giá thị trường nội bộ
tại thời điểm được các nhà tạo giá nêu ra liên tục trong hệ thống báo giá
(interdealer offering price).
Các công ty chứng khoán không được vừa ăn kê giá vừa hưởng hoa
hồng. Luật lệ kinh doanh chứng khoán ở một số nước cũng không cho phép
các công ty kinh doanh chứng khoán (dealers) kinh doanh (tự doanh) các loại
chứng khoán đã niêm yết (listed) trên sàn giao dịch, ngoại trừ có quy định
khác.
- Về thủ tục chi phối việc mua bán, giao nhận hàng và tiền cũng được
áp dụng thống nhất (giống như cho Sở giao dịch) theo luật lệ về chứng khoán
và thị trường chứng khoán.
19
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Chương II
THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
OTC Ở VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN
THẾ GIỚI
I. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NÓI
CHUNG
1. Thực trạng hoạt động tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh
Ngày 20/7/2000, TTGDCK thành phố Hồ Chí Minh chính thức đi vào
hoạt động, đánh dấu một bước phát triển của thị trường tài chính Việt Nam.
Mặc dù quy mô của thị trường còn nhỏ bé song bước đầu đã thu hút được sự
quan tâm của công chúng đầu tư trong nước cũng như nước ngoài.
Trong tám năm qua, UBCKNN đã cấp phép phát hành, tăng vốn và
đăng ký niêm yết cổ phiếu cho 150 loại cổ phiếu, 3 loại chứng chỉ quỹ và 375
loại trái phiếu với khối lượng niêm yết là 5.115.269.000 chứng khoán với
tổng giá trị niêm yết là 101.395 tỷ đồng. UBCKNN, TTGDCK phối hợp với
Bộ tài chính đã thực hiện thành công hàng trăm đợt đấu thầu qua TTGDCK.
Các công ty niêm yết đều là những doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá và
hiện nay hoạt động kinh doanh của các công ty có chiều hướng tốt, đều có lãi.
Bên cạnh đó, công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán được hưởng ưu
đãi về thuế nên mức trả cổ tức hấp dẫn người đầu tư.
UBCKNN cũng đã cấp giấy phép hoạt động cho 80 công ty chứng
khoán. Tính đến tháng 12/2007, số tài khoản giao dịch chứng khoán của
khách hàng được mở tại các công ty chứng khoán là gần 200.000. Các công
21
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
21
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
ty chứng khoán đã mở rộng phạm vi hoạt động, chi nhánh và đại lý nhận lệnh
các công ty niêm yết tăng giá liên tục qua từng phiên giao dịch và mang lại
lợi nhuận lớn cho các nhà đầu tư kinh doanh cổ phiếu. Các “phiên giao dịch”
không chính thức được thực hiện dưới nhiều dạng qua mạng Internet, qua
môi giới, qua các mục rao vặt hay thậm chí diễn ra ngay tại một số quầy bar,
quán rượu. Không riêng gì các nhà đầu tư trong nước, nhiều nhà đầu tư cá
nhân nước ngoài cũng đã lặng lẽ tìm mua cổ phiếu của các công ty Việt Nam
dưới tên thân nhân hoặc qua người quen.
Nhiều thông tin cho biết hiện nay trên thị trường tự do đang tập trung
trao đổi mua bán khoảng hàng trăm loại cổ phiếu (nếu nói chính xác là đang
chuyển nhượng cổ phần). Giá cả của các loại cổ phần được chia theo 3 loại
giá khác nhau:
- Giá cổ phần của công ty mới cổ phần hoá (CPH) xong;
- Giá cổ phần của công ty có khả năng sẽ được niêm yết trên sàn;
- Giá cổ phần của công ty sắp niêm yết lên sàn.
Nói chung, mặt bằng giá cả CP trên thị trường tự do hiện nay đều có cơ
sở và ở mức cả người mua và người bán đều chấp nhận. Thị trường chấp
nhận ở mức giá này vì tính về mặt tổng thể cả thị trường tự do lẫn thị trường
chính thức giá cổ phiếu của nhà đầu tư khi mua vào vẫn có khả năng đem lại
lợi nhuận giống như đầu tư kinh doanh trên sàn.
Về nguồn gốc vốn đầu tư, thị trường cổ phiếu chưa niêm yết có ít
thành phần nhà đầu tư mạo hiểm hơn so với thị trường chính thức. Những
người đầu tư cẩn trọng thường quan tâm đến các cổ phiếu ở gần mệnh giá,
các đối tượng này thường cũng chỉ dùng một phần tiền nhàn rỗi để đầu tư vào
cổ phiếu. Điểm khác biệt này cũng giải thích tại sao trong những tháng cuối
năm 2002, nhiều nhà đầu tư trên thị trường chính thức phải bán cổ phiếu để
giải chấp cho ngân hàng trong khi hiện tượng này lại không hề xảy ra trên thị
trường tự do do nhà đầu tư nhỏ thường phản ứng khá nhanh đối với những
23
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
23
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
24
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
mua bán cổ phần bên ngoài đã khiến cho các công ty trước đây chào bán cổ
phần một cách khó khăn nay tiến hành bán rất nhanh và “có giá” khi người
mua bên ngoài luôn đặt giá cao hơn giá cổ phần định giá tại công ty. Thị
trường tự do đã là cầu nối, là nhân tố vật chất thúc đẩy các công ty Nhà nước
tiến hành CPH một cách nhanh chóng hơn.
II. THỰC TRẠNG OTC Ở VIỆT NAM
1. Những kết quả ban đầu
Theo số liệu mới nhất từ Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính),
tính đến nay đã có trên 1.000 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được cổ phần
hoá. Trong đó, chỉ có 150 cổ phiếu được niêm yết trên TTGDCK TP.HCM,
vẫn còn hơn 1.000 công ty cổ phần (CTCP) có nhu cầu giao dịch thực tế.
Theo thông lệ quốc tế, các chứng khoán chưa đủ điều kiện để giao dịch
trên TTCK tập trung (Sở giao dịch chứng khoán) sẽ được giao dịch trên thị
trường phi tập trung. Xét một cách chặt chẽ hơn, trên thị trường OTC, các
chứng khoán đó cũng phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định như các tiêu chí
về vốn, tiêu chuẩn phát hành ra công chúng.. và hoạt động dưới sự quản lý
điều hành của cơ quan Nhà nước hay Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng
khoán.
Hay nói một cách khác, Thị trường OTC là một thị trường có tổ chức
và hoạt động theo các quy định của pháp luật, nó khác biệt hoàn toàn so với
thị trường “ chợ đen “ - là thị trường tự phát và không có điều chỉnh của
pháp luật.
Đối với Việt Nam, Chính phủ đã chính thức thành lập thị trường
chứng khoán tập trung (Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh). Những chứng khoán còn lại chưa tham gia TTCK tập trung
được giao dịch trên thị trường tự do, chưa có sự quản lý của Nhà nước, tồn
tại dưới nhiều hình thức khác nhau, hoạt động tại các quán cà phê hay trên