Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán là nơi luân chuyển và phân bổ các nguồn vốn
từ khu vực có lợi nhuận thấp sang khu vực có lợi nhuận cao, tạo điều kiện
cho các nguồn vốn được sử dụng một cách có hiệu quả nhất. Do đó, khi vốn
đã trở thành một loại hàng hoá đặc biệt, phát triển thị trường chứng khoán là
việc rất cần thiết để phát triển nền kinh tế hàng hoá.
Thị trường chứng khoán được hình thành và phát triển bắt đầu từ nhu
cầu tự phát về trao đổi và sau đó được phát triển với quy mô lớn dần về
phương thức giao dịch, quản lý cũng ngày càng chặt chẽ hơn. Thị trường
chứng khoán bao gồm hai loại thị trường: thị trường giao dịch các loại chứng
khoán được cấp giấy phép niêm yết (thị trường chứng khoán tập trung) và thị
trường giao dịch các chứng khoán của công ty vừa và nhỏ không hoặc chưa
được niêm yết trên thị trường chứng khoán tập trung (thị trường giao dịch phi
tập trung). Sự kết hợp giữa hai loại thị trường này sẽ tạo thành một hệ thống
thị trường chứng khoán khá hoàn chỉnh, rộng lớn, sôi động và linh hoạt.
Ở Việt Nam, thị trường chứng khoán tập trung (Trung tâm giao dịch
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh) đã đi vào hoạt động được 8 năm; hàng
hoá trên thị trường tuy đã được bổ sung nhưng vẫn còn khá nghèo nàn; các
điều kiện chặt chẽ còn là những cản trở lớn đến việc được tham gia niêm yết
khi đại bộ phận các doanh nghiệp Nhà nước trong diện cổ phần hoá đều là
những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do vậy, việc hình thành và phát triển thị
trường chứng khoán phi tập trung (OTC) là rất cần thiết nhằm tạo điều kiện
cho các công ty vừa và nhỏ, các công ty mới thành lập có thể huy động vốn
trên thị trường chứng khoán. Đồng thời cung cấp thêm các loại công cụ đầu
tư đa dạng cho các nhà đầu tư, tạo cơ chế giao dịch linh hoạt, chi phí thấp và
tạo cơ chế định giá mới để góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường
chứng khoán Việt Nam phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước.
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
1
cách thủ công. Ngày nay, nhờ sự phát triển của kỹ thuật truyền thông và vi xử
lý, thị trường OTC hiện đại đã thoát ly xa khỏi các quầy và hoạt động theo
một cơ chế được tổ chức với sự trợ giúp về kỹ thuật điện tử rất tinh vi, có khả
năng kết nối trên quy mô rộng lớn giữa các nhà môi giới và kinh doanh
chứng khoán với nhau, nhưng thuật ngữ OTC vẫn được dùng để mô tả các
hoạt động mua bán các chứng khoán không được tham gia trên sở giao dịch.
Do đó, theo cách hiểu thông dụng nhất hiện nay thì thị trường OTC
được tổ chức bao gồm một mạng lưới các tổ chức trung gian môi giới và tạo
lập thị trường, các tổ chức này được kết nối với nhau và kết nối với trung
tâm quản lý thông qua một mạng máy tính điện tử diện rộng. Các công ty
chứng khoán sẽ liên tục đưa lên mạng báo giá hai chiều và khối lượng chứng
khoán tối đa có thể thực hiện mua hoặc bán. Với mạng lưới này, các công ty
chứng khoán cũng có thể thực hiện việc đàm phán, thương lượng giá và khối
lượng giao dịch trên cơ sở báo giá, thông báo về kết quả giao dịch cho trung
tâm quản lý, trung tâm thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán. Cơ chế thiết
lập giá trên thị trường này chủ yếu là theo thoả thuận, mua bán phi tập trung
tại nhiều địa điểm đồng thời vẫn được quản lý, giám sát tốt.
Như vậy, thị trường OTC là một thị trường có tổ chức và hoạt động
theo các quy định của pháp luật, nó khác biệt hoàn toàn so với thị trường
“chợ đen” - là thị trường tự phát và không có điều chỉnh của pháp luật.
Có thể nói thị trường OTC có một số đặc điểm sau:
- Các giao dịch có thể được tiến hành ở mọi nơi do thị trường OTC
không có sàn giao dịch tập trung hay có thể nói các giao dịch được tiến hành
thuận lợi hơn so với giao dịch trên TTGDCK.
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
3
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
- Các giao dịch có thể được tiến hành trực tiếp giữa người mua và
người bán dựa trên sự thương lượng về giá cả, số lượng và phương thức
thanh toán.
hình khác nhau, phù hợp với tâm lý muôn vẻ của người dân, qua đó cho phép
các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, ngân hàng và Chính phủ huy động
tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu tư và phát triển kinh tế.
Thị trường chứng khoán ra đời là một bước phát triển cao và hoàn
thiện của thị trường vốn, đồng thời nó cũng trở thành một công cụ quan trọng
của thị trường vốn. Công cụ này có những lợi thế rất căn bản so với các công
cụ khác (thị trường ngầm hoặc thị trường tín dụng qua hệ thống ngân hàng),
cụ thể là:
Các chứng khoán được giao dịch trên thị trường OTC có tính thanh
khoản rất cao nên việc hình thành thị trường này sẽ thoả mãn được nhu cầu
của người có vốn và người cần có vốn.
Tâm lý của người có vốn là muốn để vốn ở nơi vừa có thể sinh lợi
nhuận cao nhưng lại vừa có thể dễ dàng rút vốn về khi cần thiết. Còn người
cần có vốn lại muốn huy động vốn với thời hạn dài, ổn định và với chi phí
thấp. Nếu gửi ngân hàng thì các yêu cầu trên không thể thoả mãn được cùng
một lúc. Song, nếu mua chứng khoán trong điều kiện đã có thị trường chứng
khoán, nhất là thị trường OTC, thì hai yêu cầu trên sẽ được thoả mãn: người
sử dụng vốn có thể mua chứng khoán, khi cần tiền mặt có thể bán chúng vào
bất kỳ lúc nào mà không ảnh hưởng gì đến người sử dụng vốn.
Ngoài ra, trong quá trình vận hành của nền kinh tế, luôn xuất hiện một
số quỹ có vốn bằng tiền tạm thời nhàn rỗi như quỹ bảo hiểm, quỹ phúc lợi,
quỹ tương hỗ. Hoạt động tách biệt giữa các khoản thu và chi của các loại quỹ
này đã dẫn đến việc thường xuyên có một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi. Để
tránh tình trạng “vốn chết” trong qúa trình vận hành, các tổ chức quản lý quỹ
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
5
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
này thường gửi vào ngân hàng lấy lãi hoặc tham gia đầu tư vào thị trường
chứng khoán, nhằm tạo ra khả năng sinh lời cao hơn.
Thị trường OTC tạo ra nhiều cơ hội đầu tư khác nhau, với những mức
chức của Chính phủ có thể phát hành các loại trái phiếu Nhà nước bán cho
các hộ gia đình, các tổ chức kinh tế xã hội để có tiền bù đắp thiếu hụt ngân
sách hoặc có vốn để xây dựng các công trình công cộng, các dự án của Nhà
nước...
Các doanh nghiệp nếu được cơ quan có thẩm quyền cho phép thì cũng
có thể phát hành trái phiếu để vay vốn trên thị trường sơ cấp là nơi làm tăng
thêm vốn đầu tư cho nền kinh tế từ các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế
(trong nước và nước ngoài) mà không làm tăng thêm lượng tiền trong lưu
thông.
Cũng như thị trường chứng khoán tập trung, thị trường OTC cũng là
một trong những công cụ kiểm soát và huy động các nguồn vốn đầu tư nước
ngoài.
Vốn đầu tư nước ngoài có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng đối với
các nước có nền kinh tế đang phát triển. Trên thực tế, các khoản vốn đầu tư
từ nước ngoài thường được thu hút dưới hai hình thức, đó là đầu tư trực tiếp
thông qua các dự án sản xuất kinh doanh, và đầu tư gián tiếp thông qua các
định chế tài chính trung gian. Cả hai loại hình này nếu như không có TTCK
thì sẽ không phát huy hết được hiệu quả của nó. Bản thân các nhà đầu tư
nước ngoài khi xem xét về khía cạnh môi trường đầu tư, họ thường tính đến
khả năng sinh lợi, khả năng hoàn vốn cũng như khả năng chuyển đổi sở hữu
khi thấy cần thiết và điều đó chỉ có thể thực hiện được khi có thị trường
chứng khoán, nơi luôn tạo ra sự chu chuyển cho các luồng vốn đầu tư
(chuyển hoá tư bản từ trạng thái này sang trạng thái khác) và cung cấp các
thông tin một cách chính xác nhất để tìm hiểu các đối tác đầu tư.
Việc tham gia của nhà đầu tư nước ngoài còn được thể hiện thông qua
việc mua trực tiếp các chứng khoán là các cổ phiểu, trái phiếu của các công ty
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
7
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
trong nước và việc tham gia vào các công ty chứng khoán liên doanh hoặc
Yếu tố đầu cơ dễ gây ảnh hưởng dây chuyền làm cho giá cổ phiếu có
thể tăng đột biến và giả tạo. Sự kiện này càng dễ xảy ra và trở nên rất nguy
hiểm khi có nhiều người cấu kết với nhau để đồng thời mua vào hay bán ra
một loại chứng khoán nào đó. Sự cấu kết giữa những người đầu cơ đó sẽ tạo
ra một sự khan hiếm hay thừa thãi giả tạo làm cho giá chứng khoán có thể
tăng lên hay giảm xuống một cách đột ngột, gây nhiều tác động tiêu cực đến
thị trường.
Hiện tượng giao dịch nội gián thường xảy ra trên thị trường chứng
khoán. Một cá nhân nào đó lợi dụng việc nắm bắt, tiếp xúc được với những
thông tin nội bộ cũng như các thông tin quan trọng khác, không được phép
công bố của doanh nghiệp và sử dụng các thông tin đó cho giao dịch nhằm
thu lợi bất chính thì được gọi là giao dịch nội gián.
Thị trường chứng khoán là nơi chứa đựng các thông tin nhiều chiều,
trong đó có các thông tin từ nội bộ công ty cũng như các thông tin từ sở giao
dịch, có thông tin chính thức được phổ biến và có thông tin chưa được phép
phổ biến. Hoạt động giao dịch nội gián được xem là một hành động phi đạo
đức về mặt thương mại, vì một số người sử dụng các thông tin không được
công bố để trục lợi và hành động này đã đi ngược với nguyên tắc của thị
trường là các nhà đầu tư đều có quyền bình đẳng và công khai thông tin như
nhau. Luật pháp về thị trường chứng khoán đã có những điều khoản nghiêm
cấm về hành vi giao dịch nội gián. Ở Việt Nam, việc mua bán nội gián cũng
là một hành vi bị cấm.
Thông tin sai sự thật: Việc thông tin sai sự thật về hoạt động của công
ty cũng như các chứng khoán giao dịch trên thị trường, tạo ra sự hoảng loạn
của thị trường, dẫn đến tình trạng bán ồ ạt một loại chứng khoán nào đó với
giá quá thấp làm ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Qua đó phục
vụ cho mục tiêu, ý đồ phá hoại công ty hoặc mua vào các chứng khoán với
giá thấp để nắm giữ , thao túng hoặc thâu tóm công ty.
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
9
10
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
hạn chế khiếm khuyết trên, tất cả các thị trường OTC đều đưa ra những
nguyên tắc hoạt động. Trong đó, có một số nguyên tắc đã được tiêu chuẩn
hoá và trở thành chuẩn mực quốc tế, đó là:
1. Nguyên tắc công khai
Tất cả các hoạt động trong lĩnh vực phát hành chứng khoán ra công
chúng và kinh doanh chứng khoán trên OTC đều phải công khai. Công khai
về hoạt động của nhà phát hành, công khai về các loại chứng khoán được
chào bán, chào mua, công khai về giá cả, số lượng chứng khoán được mua,
bán.. .
Bản thân các công ty có chứng khoán niêm yết phải có nghĩa vụ công
bố thông tin theo định kỳ, tức thời và thông tin theo yêu cầu một cách trung
thực và đầy đủ cho các nhà đầu tư, ví dụ trong trường hợp công ty phát hành
có những thay đổi như: Thay đổi tên hay địa chỉ của trụ sở chính; tăng hay
giảm vốn; Khi hoá đơn, séc đã phát hành hết hạn hay khi các giao dịch với
ngân hàng bị đình chỉ; Khi các vụ kiện tụng ảnh hưởng nghiêm trọng đến
việc quản lý công ty, ảnh hưởng không tốt đến công ty; Sát nhập với một
công ty khác; Các hoạt động kinh doanh bị đình chỉ... Ngoài ra các tổ chức
phát hành phải nộp các báo cáo định kỳ như báo cáo kinh doanh, báo cáo
kiểm toán, danh sách cổ đông.
2. Nguyên tắc trung gian
Giao dịch mua bán chứng khoán qua thị trường OTC cũng tuân theo
các nguyên tắc chung về thị trường chứng khoán đó là phải qua các trung
gian thị trường, tức là qua các công ty môi giới chứng khoán; còn giá giao
dịch được hình thành theo nguyên tắc thoả thuận.
Nguyên tắc trung gian là căn bản cho việc tổ chức và hoạt động của thị
trường chứng khoán (thị trường chứng khoán tập trung và thị trường OTC).
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo các loại chứng khoán được giao dịch là chứng
khoán thực, thị trường chứng khoán hoạt động được lành mạnh, hợp pháp và
trường. Khi cung chứng khoán lớn hơn cầu, giá hạ, họ sẽ là người mua vào,
và ngược lại khi cầu chứng khoán lớn hơn cung họ sẽ là người bán ra, nhằm
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
12
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
mục đích bảo đảm cho thị trường được vận hành liên tục và không bị gián
đoạn. Do vậy, trong cơ cấu của thị trường chứng khoán không thể thiếu các
nhà kinh doanh chứng khoán đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường.
3. Nguyên tắc thực hiện công bằng
Các chuyên gia chứng khoán và các nhà tạo lập thị trường trên thị
trường OTC đều là những người được tiếp cận với các thông tin đặc biệt do
họ thường xuyên tiếp cận trực tiếp với các thông tin trên sổ lệnh, vì vậy họ có
nhiều khả năng là những đầu mối làm “rò rỉ” thông tin khi có sự biến động
thị trường. Nếu không bị cấm, các chuyên gia và các nhà tạo lập thị trường có
thể sử dụng các thông tin này (bao gồm các thông tin nội bộ) để thực hiện
kinh doanh cho chính mình nhằm thu lợi nhuận. Do vậy, những đối tượng
này thường bị kiểm soát rất chặt chẽ và đều phải khách quan, công bằng đối
với tất cả các khách hàng.
V. CÁC ĐỐI TƯỢNG THAM GIA OTC
Những nguyên tắc hoạt động trên đòi hỏi việc mua bán chứng khoán
trên thị trường OTC không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa người mua và
người bán, mà phải có sự tham gia của một số đối tượng khác, trước hết là
người làm trung gian, môi giới và người tổ chức việc mua bán, định giá.
Đồng thời, để đảm bảo sự an toàn của thị trường, sự tham gia, quản lý giám
sát của Nhà nước đối với thị trường chứng khoán là hết sức quan trọng. Như
vậy, có thể thấy thị trường OTC bao gồm một số đối tượng tham gia cơ bản
như sau:
1. Hàng hoá cho thị trường
Việc buôn bán chứng khoán trên các SGDCK bị giới hạn trong những
chứng khoán của các công ty lớn với những điều kiện niêm yết quy định khá
Sau khi được chấp nhận tư cách một nhà tạo giá, họ còn phải đảm bảo
một số chuẩn mực khi đưa ra giá cả cho các chứng khoán mà họ đảm nhận.
Yêu cầu cụ thể thường là :
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
14
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
- Phải cung cấp liên tục giá nêu từ hai phía mua và bán (two - sided
quotations) đối với CK được uỷ nhiệm tạo giá để duy trì thị trường.
- Phải sẵn sàng thực hiện giao dịch ít nhất là một đơn vị giao dịch
(thường là một lô tròn 100 cổ phần) với giá được nêu của mình.
- Phải đảm bảo rằng các giá nêu trên là hợp lý so với giá thị trường của
chứng khoán trong cuộc.
- Tôn trọng triệt để các giới hạn chênh lệch tối đa cho phép.
- Báo cáo hàng tháng các dữ liệu giao dịch và các thông tin khác theo
quy định về giao dịch chứng khoán và yêu cầu chủ quản.
- Thống kê và báo cáo lượng giao dịch (theo ngày) đối với chứng
khoán được tạo giá.
- Mẫn cán thực hiện các nhiệm vụ liên tục trong thời gian làm việc
hàng ngày.
Cơ chế tạo giá đối với một chứng khoán theo cách cùng lúc có sự tham
gia của nhiều công ty, cộng với sự tuân thủ nghiêm chỉnh các yêu cầu trên
đây, sẽ cung cấp cho thị trường một giá tốt nhất, đảm bảo sự điều hoà liên tục
và cần thiết cho thị trường.
Trên thị trường OTC, không thể không kể đến vai trò của các nhà môi
giới, thông thường những nhà môi giới đăng ký đều là những nhà tạo lập thị
trường.
Nhà tạo lập thị trường là người thực hiện chức năng duy trì thị trường
cho một loại chứng khoán. Chẳng hạn, đối với chứng khoán A là chứng
khoán không niêm yết và được mua bán trên thị trường phi tập trung (OTC).
Nhà tạo lập thị trường là người đặt ra mức giá bán chứng khoán A cho bên
- Tăng tính linh hoạt của thị trường đối với một loại chứng khoán khi
tăng số lượng các nhà tạo lập thị trường;
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
16
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Bên cạnh đó, các nhà tạo lập thị trường có xu hướng cạnh tranh với
nhau do luôn có nhiều nhà tạo lập thị trường đối với một loại chứng khoán,
do đó thị trường OTC được đánh giá là có khả năng tự điều chỉnh tốt hơn thị
trường giao dịch chứng khoán tập trung.
Tham gia mua bán trên thị trường OTC còn có các định chế tài chính,
các quỹ đầu tư các công ty bảo hiểm ... và giữa các nhà tạo lập thị trường với
nhau.
3. Người phát hành chứng khoán
Là những người huy động vốn bằng cách in và bán các chứng khoán
cho người đầu tư. Thuộc loại này gồm có Chính phủ, các công ty cổ phần và
một số tổ chức khác.
4. Người quản lý và giám sát thị trường
Là người đảm bảo cho thị trường hoạt động theo đúng các quy định
của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư, đảm bảo việc mua bán
chứng khoán diễn ra công bằng, công khai, tránh những tình trạng tiêu cực có
thể xảy ra. Ở nước ta, việc giám sát và quản lý thị trường chứng khoán do Uỷ
ban chứng khoán Nhà nước chịu trách nhiệm. Nội dung quản lý Nhà nước về
thị trường OTC bao gồm: xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về thị
trường chứng khoán và đưa ra các giải pháp cần thiết để đảm bảo thị trường
hoạt động tốt: cấp, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép trong lĩnh vực phát
hành và kinh doanh chứng khoán.
Ngoài các đối tượng trên, trong hoạt động của thị trường OTC còn có
các đối tượng hỗ trợ khác như: các tổ chức làm dịch vụ thanh toán, lưu giữ
chứng khoán, sang tên, đăng ký lại quyền sở hữu chứng khoán, trung tâm đào
tạo hành nghề chứng khoán... Tất cả các tổ chức này ra đời và phát triển, tạo
(interdealer offering price).
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
18
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Các công ty chứng khoán không được vừa ăn kê giá vừa hưởng hoa
hồng. Luật lệ kinh doanh chứng khoán ở một số nước cũng không cho phép
các công ty kinh doanh chứng khoán (dealers) kinh doanh (tự doanh) các loại
chứng khoán đã niêm yết (listed) trên sàn giao dịch, ngoại trừ có quy định
khác.
- Về thủ tục chi phối việc mua bán, giao nhận hàng và tiền cũng được
áp dụng thống nhất (giống như cho Sở giao dịch) theo luật lệ về chứng khoán
và thị trường chứng khoán.
Cách thức mua bán chứng khoán trên thị trường OTC giống như việc
mua bán một hàng hoá thông thường. Giả sử nhà đầu tư X cần mua một loại
chứng khoán Y được phép giao dịch trên thị trường, nhà đầu tư X sẽ phải đến
một công ty thành viên Z trên thị trường OTC để đặt lệnh mua. Nếu Z đang
có sẵn các loại chứng khoán Y thì các thủ tục sẽ được tiến hành theo mức giá
mà công ty chào bán tại thời điểm đó. Trong trường hợp này Z đóng vai trò là
nhà tạo lập thị trường, thực hiện mua, bán cho chính mình và đồng thời cũng
tự gánh chịu mọi rủi ro nếu có. Công ty chứng khoán luôn sẵn sàng mua vào,
bán ra giống như cửa tiệm vàng và hưởng chênh lệch giữa giá bán và giá
mua. Khoản chênh lệch này co giãn tuỳ theo cung cầu trên thị trường, sự
cạnh tranh giữa các nhà tạo lập thị trường và mức khống chế tối đa của pháp
luật theo từng thời kỳ.
Trong trường hợp Z không có sẵn các chứng khoán Y mà X đặt mua,
các nhân viên của Z sẽ tiến hành truy cập trên mạng máy tính để tìm xem ai
đang ở vị thế là nhà tạo lập thị trường đối với chứng khoán Y, tức là người
đang có trong tay các chứng khoán Y niêm yết trên mạng, giá mua vào, bán
ra nào là tốt nhất. Trên cơ sở đó Z sẽ chọn một người bán có giá tốt để X mua
được rẻ nhất. Việc mua bán này cũng có thể được thương lượng thêm để có
hiện nay hoạt động kinh doanh của các công ty có chiều hướng tốt, đều có lãi.
Bên cạnh đó, công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán được hưởng ưu
đãi về thuế nên mức trả cổ tức hấp dẫn người đầu tư.
UBCKNN cũng đã cấp giấy phép hoạt động cho 80 công ty chứng
khoán. Tính đến tháng 12/2007, số tài khoản giao dịch chứng khoán của
khách hàng được mở tại các công ty chứng khoán là gần 200.000. Các công
ty chứng khoán đã mở rộng phạm vi hoạt động, chi nhánh và đại lý nhận lệnh
tại hầu hết các tỉnh, thành phố lớn trong cả nước.
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
21
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Có thể nói, với các yêu cầu niêm yết hiện tại, có rất nhiều cổ phiếu của
các công ty cổ phần không đáp ứng được. Theo kết quả điều tra khảo sát
trong các doanh nghiệp cổ phần hoá đã thấy rõ một số vấn đề tồn tại: hầu hết
các doanh nghiệp cổ phần hoá là các doanh nghiệp nhỏ, năng lực sản xuất
thấp, vốn điều lệ nhỏ (bình quân 6,76 tỷ VND trên 1 doanh nghiệp). Số
doanh nghiệp cổ phần hoá có vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 5,7%
tổng số doanh nghiệp, còn lại là các công ty có vốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng;
thậm chí có nhiều công ty có vốn điều lệ không đạt 1 tỷ đồng. Trong khi đó,
một số công ty có đủ điều kiện niêm yết cũng không sẵn sàng tham gia niêm
yết vì chưa có nhu cầu huy động vốn và quan trọng hơn là không muốn kiểm
toán và công khai minh bạch thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp mình.
Mục tiêu của UBCKNN khi thành lập TTGDCK là đưa trái phiếu
chính phủ làm hàng hóa chủ đạo nhưng hiện nay giao dịch cổ phiếu lại chiếm
tỷ trọng lớn hơn giao dịch trái phiếu nhiều. Các giao dịch về trái phiếu diễn ra
tẻ nhạt, các loại trái phiếu chỉ chiếm vị trí rất nhỏ, đặc biệt trái phiếu Chính
phủ chưa thực sự thu hút được các nhà đầu tư và hầu như không có giao dịch.
Tính cho đến hết ngày 30/6/2002 mặc dù đã có 27 loại trái phiếu được niêm
yết trên TTGDCK nhưng trong phần lớn các phiên giao dịch hầu như không
người đầu tư cẩn trọng thường quan tâm đến các cổ phiếu ở gần mệnh giá,
các đối tượng này thường cũng chỉ dùng một phần tiền nhàn rỗi để đầu tư vào
cổ phiếu. Điểm khác biệt này cũng giải thích tại sao trong những tháng cuối
năm 2002, nhiều nhà đầu tư trên thị trường chính thức phải bán cổ phiếu để
giải chấp cho ngân hàng trong khi hiện tượng này lại không hề xảy ra trên thị
trường tự do do nhà đầu tư nhỏ thường phản ứng khá nhanh đối với những
thông tin không thuận lợi của công ty và do đó họ sẵn sàng bán cổ phiếu khi
công ty gặp khó khăn.
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
23
Một số giải pháp hình thành và phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Trong giai đoạn thị trường thiếu sức tăng trưởng, các cổ phiếu chưa
niêm yết thu hút được nhiều nhà đầu tư có mục tiêu dài hạn. Do nếu xét về
lợi thế so sánh giữa thị trường chính thức và thị trường tự do, các cổ phiếu
niêm yết có tính thanh khoản cao hơn, thông tin chuẩn hơn và có tính đại
chúng cao hơn cổ phiếu chưa niêm yết nhưng các loại cổ phiếu chưa niêm yết
lại có giá tương đối ổn định, tỷ suất sinh lợi hợp lý hơn so với các cổ phiếu
niêm yết. Nhà đầu tư dài hạn mua cổ phiếu với mục đích lớn nhất là hưởng
cổ tức, nhất là trong giai đoạn tình hình giao dịch ngưng trệ.
Trước đây khi nói về thị trường tự do, đã có nhiều ý kiến cho rằng việc
mua bán chuyển nhượng cổ phần tại thị trường bên ngoài là bất hợp pháp,
không được pháp luật công nhận và mọi rủi ro nhà đầu tư phải gánh chịu, tuy
nhiên thực tế lại không hoàn toàn chính xác như vậy. Vì hiện tại, thị trường
tự do ngay từ khi mới hình thành đã có những cơ sở pháp lý. Việc chuyển
nhượng cổ phần giữa các cổ đông trong các công ty CPH không chỉ là nhu
cầu của người nắm giữ cổ phần mà được luật doanh nghiệp thừa nhận: CTCP
cho phép các cổ đông CTCP sau khi thanh toán xong số tiền nợ cổ phần cho
công ty (nếu nắm giữ CP phổ thông và không nằm trong danh sách Hội đồng
quản trị công ty) sẽ được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác (trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần phổ thông của các sáng lập
thị trường “ chợ đen “ - là thị trường tự phát và không có điều chỉnh của
pháp luật.
Đối với Việt Nam, Chính phủ đã chính thức thành lập thị trường chứng
khoán tập trung (Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh).
Những chứng khoán còn lại chưa tham gia TTCK tập trung được giao dịch
trên thị trường tự do, chưa có sự quản lý của Nhà nước, tồn tại dưới nhiều
hình thức khác nhau, hoạt động tại các quán cà phê hay trên mạng Internet..
Theo thông lệ quốc tế, quản lý thị trường phi tập trung là Hiệp hội các nhà
giao dịch chứng khoán. Việt Nam hiện nay chưa có Hiệp hội các nhà giao
dịch chứng khoán nên thị trường OTC chính thức là chưa có, chỉ có các tiền
Nguyễn Hoàng - CKB - K7
25