18
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ
1.1.1. Đặc điểm của giáo dục đại học trong điều kiện kinh tế thị trường
Giáo dục và đào tạo là bộ phận quan trọng nhất trong văn hóa của một
quốc gia; liên quan chặt chẽ đến văn minh, phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo
quốc phòng-an ninh và sự ổn định chính trị của mỗi đất nước. Vì vậy, chính phủ,
nhân dân ở tất cả các nước trên thế giới, cũng như các tổ chức quốc tế đều có sự
quan tâm đặc biệt đến phát triển giáo dục và đào tạo.
Giáo dục đại học (GDĐH) là bậc học sau cùng trong hệ thống giáo dục và
đào tạo của mỗi nước; đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, bao gồm các nhà
khoa học, các chuyên gia, kỹ sư và những cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở các
trình độ khác nhau. GDĐH không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và vì
vậy, không trực tiếp tạo ra các sản phẩm vật chất. Tuy nhiên, theo phân công lao
động xã hội, GDĐH là nơi duy nhất có đủ điều kiện và đủ khả năng cung cấp
nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng và trình độ chuyên môn cao cho nền kinh tế.
GDĐH làm tăng giá trị cho mỗi cá nhân thông qua việc trang bị cho họ tài khéo
léo, sự hiểu biết để làm ra nhiều của cải vật chất hơn cho bản thân và cho xã hội,
gắn liền với sự bảo đảm quyền được sống và được làm việc với năng suất lao
động cao hơn của mỗi người. 19
Theo Manuel Castell (1991), GDH cú ba chc nng quan trng. Trc
ht, nú bo tn cỏc nn vn hoỏ v tri thc nhõn loi; tỏi to hoc phn biện ý
thc h chi phi ca quc gia. Th hai, nó la chn nhng ngi u tỳ giới thiệu
cho đất nớc v cuối cùng, nó sáng tạo ra kho tàng tri thc mi. GDH khụng
Như vậy, sản phẩm GDĐH là một loại dịch vụ và nó có đầy đủ tính chất
kinh tế như các loại sản phẩm hàng hoá và dịch vụ khác, bởi vì theo K. Marx,
bản thân những dịch vụ ấy cũng giống như những hàng hoá ông mua, có thể là
cần thiết hoặc có thể chỉ có vẻ là cần thiết-ví dụ, những dịch vụ của người lính,
hoặc của thầy thuốc, hoặc của luật sư-hoặc chúng có thể là những dịch vụ đem
lại khoái cảm cho ông. Nhưng điều đó tuyệt nhiên không làm thay đổi tính chất
kinh tế của chúng [36, tr.99]. Dịch vụ GDĐH được diễn ra thông qua sự tác động
trực tiếp từ người dạy đến người học. Quá trình cung ứng dịch vụ cũng đồng
thời là quá trình tiêu thụ dịch vụ.
Sản phẩm dịch vụ GDĐH là đối tượng nghiên cứu của kinh tế học giáo
dục. Người đầu tiên đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề về kinh tế học
GDĐH là William Petty (1623-1687)-người mà sau này được Karl Marx gọi là
“cha đẻ của nền kinh tế chính trị học nước Anh”. W. Petty đã tính ước lượng
hiệu suất của các hạng người lao động. Theo ông, ở Hà Lan, nhà nông, thuỷ thủ,
nhà binh, thợ thủ công và thương nhân là cột trụ thực sự của cơ nghiệp quốc gia.
Người thuỷ thủ giá trị bằng ba các người khác, vì họ không chỉ đi biển, mà lại là
nhà buôn và nhà binh. Ở Anh, nhà nông chỉ được khoảng 4 shillings một tuần, 21
người thuỷ thủ được tới 12. Trên cơ sở lý thuyết của W. Petty, những nhà kinh tế
học sau này như Adam Smith (1723-1790), Stuart Mill (1806-1873), Karl Marx
(1818-1883), Alfred Marshall (1842-1924) đều nhấn mạnh giá trị của lao động,
giá trị kinh tế của con người, của giáo dục-đào tạo nói chung và GDĐH nói
riêng.
Khi xem xét GDĐH như một loại dịch vụ, người ta đã trừu tượng hoá nội
dung của nó, chỉ nghiên cứu nó dưới ý nghĩa là một hành vi cung ứng sản phẩm
lao động của người này cho người kia nhằm thoả mãn một lợi ích cụ thể nào đó.
K. Mark viết:
Nếu tôi mua dịch vụ của thày giáo-hoặc những người khác mua
hiện trong các hàng hoá, còn những dịch vụ khác thì, ngược lại,
không để lại kết quả rõ rệt tách rời khỏi bản thân người thực hiện;
nói cách khác, kết quả của chúng không thích hợp với việc bán hàng
hoá [36, tr.97].
Ngoài ra, dịch vụ GDĐH còn có những đặc điểm riêng biệt khi so sánh với
các loại sản phẩm dịch vụ khác. Sản phẩm của dịch vụ GDĐH là những người
công dân có ích với chính mình, có trách nhiệm với gia đình, xã hội và quốc gia.
Những sản phẩm như vậy được gọi là loại hàng hoá có ngoại biên thuận. Nó
không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân mà còn cho cả xã hội và lợi ích xã hội 23
luôn luôn lớn hơn lợi ích cá nhân. Tổng lợi ích xã hội sẽ tăng lên nếu như loại
sản phẩm này được sản xuất nhiều hơn.
Phù hợp với những đặc trưng của nền KTTT, lý thuyết kinh tế và nội dung
kinh tế chính trị của chủ nghĩa K. Marx trên đây, GDĐH trong nền KTTT vừa có
nội dung kinh tế của một sản phẩm hàng hoá, vừa có nội dung của quan hệ sản
xuất xã hội. Sản phẩm GDĐH có nội dung hàng hóa vì quá trình sản xuất dịch vụ
GDĐH đòi hỏi sự tiêu hao các nguồn lực khan hiếm, nên nó cần đạt được hiệu
quả cao nhất với chi phí tiết kiệm nhất. Trong trường hợp này, nhà nước độc
quyền sản xuất GDĐH (dù là bao cấp miễn phí hay có đóng học phí) không phải
là biện pháp tối ưu vì không có công cụ đo lường mức khan hiếm xã hội. Điều
này làm cho số lượng, chất lượng và ngành nghề của lực lượng lao động mà
GDĐH đào tạo cung cấp có thể không hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của thị
trường lao động và mục tiêu phát triển quốc gia. Hơn nữa, GDĐH luôn luôn gắn
liền với hình thái kinh tế và chế độ chính trị-xã hội nhất định.Vì vậy trong nền
kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, GDĐH cần có các cơ chế hoạt động
phù hợp với các định chế và thể chế của nền KTTT hiện hữu.
GDĐH có nội dung của quan hệ sản xuất xã hội, bởi vì giá cả dịch vụ
GDĐH trong KTTT không hoàn toàn phản ánh sự khan hiếm. Trước hết, cung và
một sản phẩm bất kỳ,
khi lợi ích xã hội lớn hơn lợi ích cá nhân và do đó lớn hơn chi
phí cá nhân, để khuyến khích tiêu dùng xã hội, nhà nước cần có sự bù đắp cho
chi phí cá nhân. Việc bù đắp thuộc trách nhiệm của nhà nước hoặc ai đó theo
nguyên tắc không vì mục tiêu lợi nhuận. Sản phẩm dịch vụ GDĐH không bị tác
động bởi tăng năng suất lao động.
N
hững sản phẩm thông thường, khoa học kỹ 25
thuật có thể tác động làm tăng năng suất lao động và với việc sử dụng máy móc
và công nghệ mới, người ta có thể sản xuất cùng một đơn vị sản phẩm với cùng
chất lượng nhưng với chi phí thấp hơn. Còn đối với sản phẩm dịch vụ GDĐH,
tương tự như các hoạt động nghệ thuật cao cấp, năng suất lao động của người
giảng viên không thể tăng nhanh như năng suất của một cái máy và càng không
thể tăng số sinh viên tính trên một cán bộ giảng dạy nếu không muốn giảm chất
lượng giảng dạy. Ngược lại, muốn tăng chất lượng giảng dạy cần giảm số sinh
viên trên một cán bộ giảng dạy. Hơn nữa, việc nâng cao chất lượng giảng dạy đã
làm tăng thời gian huấn luyện giảng viên, chưa kể đến nhu cầu giảng viên, thiết
bị, công cụ, sách vở và cuối cùng là sự tăng chi phí đào tạo nói chung.
Thước đo giá trị của dịch vụ GDĐH là mức phí phải trả. Hành vi này dẫn
đến sự ra đời của thị trường dịch vụ GDĐH. Thị trường dịch vụ GDĐH hình
thành một cách tự nhiên và tồn tại khách quan cùng với các loại thị trường khác
trong KTTT. Sự can thiệp của n
hà nước vào thị trường dịch vụ
GDĐH
chủ yếu bằng việc xem xét
trợ cấp khuyến khích sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm thông qua việc thực hiện trợ cấp giá cả hoặc miễn trừ các
khoản đóng góp, hoặc nộp thuế. Một cách tự nhiên,
nghiệp...Hai là, thị trường làm cho GDĐH có khả năng thích nghi và sáng tạo
hơn. Một phần tài chính đại học được chia sẻ từ cha mẹ sinh viên hoặc sinh viên-
những người được hưởng lợi cuối cùng của GDĐH. Hệ thống thị trường giải
quyết các vấn đề về trách nhiệm giải trình và rủi ro thông qua hợp đồng. Các
quan hệ thị trường lâu dài, từ 4 đến 6 hoặc 8 năm học đại học thúc đẩy hợp tác
và lòng tin.
Tuy nhiên, thị trường dịch vụ sản phẩm GDĐH cũng đầy rẫy những rủi ro
và bất trắc. Nó có thể làm xói mòn trách nhiệm xã hội, văn hóa và các mục tiêu
của GDĐH. Vì nó chỉ đáp ứng các lợi ích và chi phí mà thực tế xuất hiện trong 27
quan hệ cung-cầu của người mua và người bán nên trong ngắn hạn, với việc tập
trung vào hướng nghiệp và nghiên cứu ứng dụng, nó có thể phá hỏng các mục
tiêu và giá trị của giáo dục tự do và những tìm tòi lý thuyết cơ bản. Theo Leslie
và Johnson (1974), cơ chế giá trong thị trường dịch vụ GDĐH có thể dễ bị bóp
méo. Winston (1992), dưới một khía cạnh khác, cho rằng hạn chế của thị trường
dịch vụ GDĐH là tình trạng không phân bổ. Theo ông, các trường đại học là các
tổ chức phi lợi nhuận nên mặc dù có thể có thu lợi nhuận nhưng không thể phân
phối lợi nhuận này cho những bên có quyền lợi liên quan. Lợi nhuận chỉ có thể
sử dụng trong phạm vi trường đại học phù hợp với sứ mạng và nhiệm vụ được
xác định sẵn. Quá trình phân bổ nội bộ phần nhiều không phụ thuộc vào các
điều kiện thị trường. Theo Peston (1989) và Gorard (1997), một đặc điểm nữa
của thị trường dịch vụ GDĐH là không giới hạn giá cả và cung cấp thông tin. Nó
trái ngược với các mô hình thị trường tân cổ điển và là một thị trường độc quyền
có ít người bán, tiền lãi tăng lên theo tỷ lệ đầu ra. Thị trường dịch vụ GDĐH
không phải lúc nào cũng là cụ thể; vừa cạnh tranh hoàn hảo, vừa không hoàn hảo
nên nó rất đa dạng và có mối quan hệ qua lại với nhau. Gordon Winston (1992)
gọi thị trường dịch vụ GDĐH là thị trường uỷ thác vì thông tin không đối xứng.
Với những tính chất và đặc trưng hoạt động của thị trường dịch vụ GDĐH
nhân, tổ chức hoặc xã hội phải có một chuỗi chương trình hay một tập hợp các 29
nguyờn tc hnh ng nh trc hng dn thc hin. Ngi ta gi chung ú
l chớnh sỏch.
Theo K. James và I. Scoones (1999), chính sách là một công cụ có tính
ớc lệ và không rõ ràng, hàm chứa nhiều nội dung phức tạp đợc biểu hiện dới
nhiều góc độ, khía cạnh và diễn ra theo những chiều hớng khác nhau, nhng có
liên quan và tác động qua lại với nhau. Vì vậy, rt khó có thể đa ra một định
nghĩa chính xác, duy nhất về chính sách. Việc đnh ngha chớnh sỏch cng ging
nh nh ngha mt con voi. Khi nhìn thấy con voi, ngời ta bit ú l con voi,
nhng nh ngha c nú thỡ khụng phi l n gin.
Mt cỏch thụng dng, ngi ta thng hiu chớnh sỏch l ch trng v
cỏc bin phỏp ca mt ng phỏi, mt chớnh ph trong cỏc lnh vc chớnh tr-xó
hi [61; tr.155]. Bờn cnh cỏch hiu theo ngha hp trờn õy, thut ng chớnh
sỏch cú th hiu theo ngha rng bao hm khụng ch nhng bin phỏp c th, m
cũn bao hm cỏc ch trng ln, ng li hoc phng hng chin lc ca
mt quc gia, th hin quan im, thỏi ng x trong quỏ trỡnh x lý cỏc vn
trong nc v quc t.
Theo mt s cỏch hiu khỏc, chớnh sỏch l cỏc quyt nh hin hnh ca
c quan qun lý, da vo ú iu hnh, kim tra, phc v v tỏc ng n mi
vic trong phm vi quyn lc cú c. Nú l cỏc tiờu chun ca cỏch hnh x
c c trng bi tớnh kiờn nh v cú quy tc trong mt s lnh vc trng yu.
Chớnh sỏch l s nh hng cỏc hmh ng mong mun; l cỏch x lý c
tha nhn thụng qua quyt nh chớnh thc ca chớnh quyn; l s xỏc nh ý
nh v mc ớch; l u ra, l kt qu tng hp ca tt c cỏc kt qu hnh ng, 30
quan điểm chính trị của nhà cầm quyền, của người thiết kế chính sách. Chính
sách là hệ thống các hoạt động có mục đích của một chính quyền. Vì vậy, chính
sách có thể có tác động tốt, hoặc chưa tốt đến toàn bộ hay một bộ phận dân cư.
Mục tiêu của chính sách thường được xác định theo những chủ đề xã hội, bao
gồm việc xác định các sự kiện hay vấn đề cần xử lý; thiết kế công cụ xử lý;
chuẩn bị tổ chức, nhân lực và tài chính để thực hiện; điều chỉnh hoặc thay đổi nội
dung không còn phù hợp và đánh giá các vấn đề tiếp tục phát sinh từ các chính
sách hiện hữu. Chính sách có thể được phân loại theo các tiêu chí khác nhau.
Mỗi cách phân loại nhằm phục vụ cho một ý đồ phân tích nhất định.
Phân loại theo bản chất, có chính sách thụ động và chính sách chủ động.
Chính sách thụ động là chính sách đưa ra nhằm xử lý các tình huống mới phát
sinh hay đang được cảnh báo về sự phản ứng của nhân dân, của xã hội trong quá
trình triển khai một luật lệ, một quy tắc hay một chế tài nào đó; hoặc để bổ sung,
chi tiết hoá, diễn giải cho rõ nghĩa hơn, sửa sai cho phù hợp hơn đối với một
chính sách đã có nhằm đáp ứng yêu cầu của một nhóm người, nhóm lợi ích chính
trị hay giải quyết những khó khăn dưới bất kỳ hình thức nào mà người ra quyết
định, cơ quan lập chính sách đang phải đối đầu. Chính sách chủ động là chính
sách nhằm xử lý các vấn đề dài hạn do bộ máy lãnh đạo, cầm quyền chủ động
đưa ra khi chưa có nhu cầu cụ thể, hoặc có nhưng mới chỉ được nhận biết ở
những giai tầng xã hội có trình độ tri thức và học vấn cao, hay những người sở
hữu thông tin đầu tiên.Việc đưa ra chính sách chủ động, dài hạn mang tính 32
khách quan và là trách nhiệm của người cầm quyền. Vì vậy, chính sách chủ động
đạt hiệu quả cao hay thấp, trước hết, phụ thuộc vào tầm nhìn và tri thức của
người lãnh đạo. Sau đó là đội ngũ những người làm chính sách, bao gồm các
chuyên gia thiết kế chính sách và đội ngũ công chức thực thi chính sách. Cuối
cùng là phải có nguồn thông tin dồi dào và các kết quả dự báo có tính khoa học,
đáng tin cậy. Chính sách chủ động gồm có nhiều chính sách bộ phận.
chỉnh về cơ cấu, thể chế và sự tăng tiến về chất lượng và hiệu quả đào tạo. Khái
niệm phát triển GDĐH thuộc nội dung của phạm trù phát triển bền vững. Đó
không chỉ là sự phát triển trong hiện tại, mà còn là những đảm bảo cho quá trình
tiếp tục trong tương lai xa. Sự phát triển đòi hỏi phải đạt được cả về hiệu quả
kinh tế, công bằng xã hội và sự bảo vệ, gìn giữ môi trường văn hóa. Để đạt được
điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các nhóm lợi ích,
giai tầng xã hội và mỗi người dân... phải bắt tay nhau thực hiện dung hòa những
vấn đề chính trị-kinh tế-xã hội-văn hóa của đất nước. Phát triển GDĐH bền vững
là mục tiêu hướng tới của tất cả các quốc gia trên thế giới, nhưng mỗi quốc gia
dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa... riêng để hoạch định
chiến lược phát triển phù hợp nhất với quốc gia đó. Phát triển GDĐH là một quá
trình tiến hóa diễn ra theo thời gian và do những nhân tố bên trong của hệ thống
quyết định đến toàn bộ quá trình phát triển đó. 34
Theo tụi, chớnh sỏch phỏt trin GDH l mt h thng cỏc quan im,
mc tiờu, nguyờn tc v cỏc bin phỏp nhm phỏt trin quy mụ, c cu cht
lng v hiu qu cỏc sn phm giỏo dc i hc.
Chớnh sỏch phỏt trin GDH thng c xut phỏt t cỏc yu t thc
tin, kt hp vi vic vn dng v s dng nhng lý lun a dng trong tng
trng hp c th to ra s cõn i cn thit v s gn bú hu c vi thc t
kinh t-xó hi, ỏp ng yờu cu luụn luụn thay i ca ngi dõn. Chớnh sỏch
phỏt trin GDH chớnh l s th ch húa ng li, quan im v li ớch ca
giai cp cm quyn v vic gii quyt cỏc vn phỏt sinh t mi quan h gia
trng i hc vi xó hi; gia trng i hc vi trng i hc v vi cỏc c
s giỏo dc, o to khỏc trong h thng giỏo dc quc dõn trong nc, vi cỏc
trng i hc v nn giỏo dc ca nc ngoi, cng nh cỏc mi quan h trong
ni b trng i hc cú liờn quan n i ng ging viờn, sinh viờn, chng
trỡnh, cht lng v hiu qu o to; nhng vn v ti chớnh, phõn b ngun
GDĐH chủ yếu thông qua hệ thống công cụ có ảnh hưởng tới việc định ra giá cả
hàng hóa và dịch vụ (thuế và trợ cấp, học phí, tự do hoá thị trường thông qua quá
trình tự điều tiết và tư nhân hoá, kích thÝch thị trường bằng việc hình thành thị
trường ảo... nhằm thúc đẩy quá trình tự do hoá, đồng thời kích thích sự phát triển
của thị trường dịch vụ GDĐH). Sau cùng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi của
người bán và người mua, chủ yếu thông qua hoạt động điều tiết giá cả, số lượng
cung-cầu, cung cấp thông tin gián tiếp và trực tiếp. 36
Chính sách phát triển GDĐH luôn luôn hiện hữu trong đời sống xã hội cụ
thể với nhiều mối quan hệ tác động qua lại từ cơ sở kinh tế, đặc trưng xã hội đến
kiến trúc thượng tầng , quan niệm xã hội v.v…. Nó liên quan trực tiếp đến khoa
học giáo dục (các đặc trưng, nguyên tắc, các quy luật của quá trình giáo dục
v.v…); giáo dục học (chương trình giáo dục, phương pháp giảng dạy, học tập,
kiểm tra đánh giá, phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý, quản lý và
quản trị đại học v.v…); tâm lý học nói chung và tâm lý giáo dục nói riêng (sự
hình thành và phát triển nhân cách của người học, năng lực nhận thức và phát
triển trí tuệ, các nhân tố đặc trưng tâm lý cá nhân, chỉ số thông minh, hoạt động
giảng dạy v.v…); cơ sở sinh học, sinh lý học; cơ sở pháp lý; cơ sở triết lý và so
sánh, đối chiếu quốc tế…
1.1.3. Đặc điểm của chính sách phát triển giáo dục đại học.
Cũng như tất cả các loại chính sách công, chính sách phát triển GDĐH tồn
tại và phát triển khách quan song hành với bộ máy cai trị khi xã hội có sự không
bình đẳng trong việc phân chia quyền sở hữu dẫn đến xuất hiện các nhóm lợi ích
khác nhau và là sản phẩm của con người. Vì vậy, nó luôn luôn chịu ảnh hưởng
của các nhân tố bên ngoài hoặc tác nhân môi trường gián tiếp chứa đựng những
tư tưởng, động cơ chính trị, năng lực tri thức, ham muốn lợi ích vật chất và tình
cảm của con người thông qua bộ máy cai trị và những người làm ra chính sách.
Chính sách phát triển GDĐH trong các nền kinh tế có một số đặc điểm chung
(gắn kết và định hướng sự phát triển kinh tế-xã hội). 38
ii). Là quá trình nhận thức đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,
từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Đặc điểm này xuất phát từ việc chính sách
phát triển GDĐH có nguồn gốc, nội dung, nguyên nhân xã hội và cả sự tồn tại,
phát triển của nó cũng mang tính chất xã hội. Vì vậy, nó chính là sản phẩm của
quá trình nhận thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp về các vấn đề, hiện
tượng và sự vật bao gồm cả những thuộc tính bên trong và bên ngoài của GDĐH
đặt trong các mối quan hệ xã hội. Mặt khác, xã hội hiện thực mà các nhà hoạch
định chính sách tồn tại trong đó, được hình thành từ sự kết hợp giữa những cái
cũ được tích lũy kế thừa từ quá khứ, với cái mới vừa được sinh ra trong hiện tại.
Vì thế, giữa nhu cầu chính sách phát triển GDĐH và công cụ thực hiện chính
sách phát triển GDĐH có sự biến đổi liên tục, theo chiều hướng ngày càng hoàn
thiện hơn.
iii). Gắn với từng giai đoạn lịch sử nhất định. Chính sách phát triển
GDĐH là tổng thể các biện pháp và thủ pháp kinh tế, quản lý của nhà nước nhằm
tác động vào hệ thống GDĐH theo những mục tiêu nhất định trong một thời gian
nhất định. Nó là khái niệm thuộc hoạt động chủ quan của nhà nước. Khi tình
hình kinh tế, xã hội và chính trị thay đổi thì chính sách phát triển GDĐH cũng
thay đổi theo. Nó có thể được nhà nước sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện sau khi đã
được ban hành.
iiii) Trong xã hội hiện đại, các chính sách phát triển giáo dục có xu hướng
hướng tới công bằng và hiệu quả. Chính sách thường bao hàm ý nghĩa về sự can
thiệp của nhà nước dưới bất kỳ hình thức nào. Như một lẽ tự nhiên, bản chất của
chính sách phát triển GDĐH trong các nền kinh tế chính là sự thể hiện cách thức
và mức độ can thiệp của nhà nước ra đời trên nền tảng của nền kinh tế đó đến hệ
sách là tính chất theo chương trình xác định. Những người khác nhau theo những
chương trình khác nhau sẽ hành động theo những cách thức khác nhau để đưa ra
kết quả chính sách.
Ở một phương diện khác, hệ thống giáo dục nói chung, GDĐH nói riêng
là một trong các cấu phần tổ chức xã hội. Do đó nó chỉ có thể giải thích được
dưới dạng các truyền thống văn hóa, chính trị, kinh tế, lịch sử, hệ tư tưởng xã hội
liên quan và đi liền với nó. Chính sách phát triển GDĐH bắt đầu bằng sự phát
triển của các hệ thống giáo dục và là một trong số nhiều nhánh của chính sách xã
hội. Nó cũng là một trong những phương tiện để thực hiện chính sách xã hội. Vì
thế, nhiều quan điểm và nhận thức về chính sách phát triển GDĐH có thể tìm
thấy trong các học thuyết về khoa học xã hội. Bên cạnh đó, bất kể những động
thái chính sách phát triển GDĐH nào, chẳng hạn sự mở rộng quy mô đào tạo hay
sự tăng hoặc giảm khả năng cung về cơ sở đào tạo đại học đều có tác động mạnh
mẽ đến xã hội. Như một kết quả, chính sách phát triển GDĐH bao giờ cũng vừa
là tác nhân chính trị, vừa là tác nhân kinh tế và văn hóa có ý nghĩa thúc đẩy hoặc
kìm hãm sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia.
Chính sách phát triển GDĐH trong một nền kinh tế bất kỳ (kế hoạch hóa,
thị trường hay chuyển đổi) đều phải thực hiện chức năng cung cấp nhu cầu
GDĐH nhằm đảm bảo lợi ích và phúc lợi cho người dân, đồng thời tăng cường
chức năng cai trị vốn có của một nhà nước theo nguyên nghĩa. Với một nhà nước
hiện đại, hai chức năng cai trị và phục vụ xã hội ngày càng có xu hướng thống
nhất làm một. Bởi vì, xét tới cùng, mục đích hoạt động của nhà nước là đảm bảo 41
sự ổn định và phát triển của xã hội trong một quốc gia. Trách nhiệm phát triển
GDĐH của nhà nước là thực hiện nghĩa vụ hai chiều. Người dân đóng thuế để
bảo đảm điều kiện cho nhà nước thực hiện các hoạt động và ngược lại, nhà nước
thông qua các loại hoạt động từ việc bảo vệ chủ quyền đất nước, phát triển kinh
tế-xã hội, đến việc đảm bảo các nhu cầu tối thiểu về văn hóa và tinh thần trong
viên, cũng như các quá trình phân bổ nguồn lực, kiểm định chất lượng đào tạo để
kích thích sinh viên...). Nhà nước giao quyền tự chủ nhiều hơn cho các trường
đại học công lập; thực hiện phân cấp, phân quyền quản lý ở các lĩnh vực quan
trọng, bao gồm cả quyền xác định học phí, tuyển dụng và sa thải nhân sự. Song
song với tăng cường tính tự chủ là quá trình đổi mới nội dung và phương pháp
quản lý đáp ứng nhu cầu thay đổi để đưa đại diện của khu vực tư nhân vào quản
lý trường đại học công; thúc đẩy sự hợp tác ngày càng chặt chẽ hơn giữa các
ngành công nghiệp và các trường đại học; thiết lập sự liên kết giữa các trường
đại học và công ty hoặc bổ nhiệm công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học đối
với các nhà chuyên môn đang làm việc trong khu vực sản xuất...Chính sách phát
triển GDĐH trong nền kinh tế chuyển đổi vừa coi trọng các công cụ thiết kế và
thực thi chính sách trong nền kinh tế thị trường, vừa đề cao vai trò quản lý của
nhà nước. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh GDĐH bị áp lực ngày
càng tăng lên của quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa, sự phát triển của công
nghệ thông tin, truyền thông và sự ra đời của nền kinh tế dựa trên tri thức, đặc
biệt GDĐH ở các nước đang phát triển .