Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của Thế giới,Việt nam đã và đang từng bước đi lên và
đạt được những thành tựu to lớn đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Với chủ trương của
Đảng và Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng của XHCN sau hơn 10 năm đổi mới các hoạt động kinh tế đã trở nên khá sôi
động và tạo nên sắc thái mới cho nên kinh tế. Cùng với đà thắng lợi của đất nước
trong công cuộc đổi mới nền kinh tế ngành ngân hàng trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ và mục tiêu đổi mới của mình đã tiến được những bước quan trọng trong
hệ thống các công cụ quản lý lãi suất được coi là nhạy cảm nhất nó thực sự là vấn
đề nóng bỏng nhất thu hút được nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội .
Lãi suất với tư cách là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ được
nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu và từ lâu được nhiều quốc gia trên thế giới
sử dụng như một công cụ hữu hiệu điều tiết nền kinh tế. Đặc biệt là trong cơ chế thị
trường lãi suất trở thành công cụ đắc lực để NHTW ( ngân hàng trung ương ) thực
thi chính sách tiền tệ nhằm điều tiết các mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư lạm
phát và tăng trưởng kinh tế ...Trong từng thời kỳ nhất định cho nên việc thi hành
một chính sách lãi suất thích hợp là vô cùng phức tạp mà vai trò đó thuộc ngân
hàng nhà nước. Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế thị
trường các nghiệp vụ ngân hàng đã không ngừng đổi mới và phát triển để phù hợp
với điều kiện thực tiễn của đất nước. Với trọng trách to lớn đó NHTW đã thường
xuyên điều chỉnh lãi suất cho phù hợp phát triển khả năng linh hoạt của các Ngân
hàng thương mại . Năm 1997 luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức ra đời
có hiệu lực từ 1/10/1998 đã đánh dấu một giai đoạn mới về hoạt động Ngân hàng ở
Việt nam trong luật Ngân hàng điều 18 ghi “Ngân hàng Nhà nước xác định và công
bố lãi suất tái cấp cơ bản, lãi suất tái cấp vốn “
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Đồng thời còn giải thích tài khoản 12 điều 9 “Lãi suất cơ bản là lãi suất do
Ngân hàng Trung ương công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ổn định lãi suất
kinh doanh “ Điều này là thể hiện rất rõ hoặc chất lãi suất của Ngân hàng Trung
phục vụ nhu cầu sinh lợi trong sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu tiêu dùng của
mình . việc người cho vay chuển quyền sử dụng vốn cho người khác có nghĩa là
anh đã hy sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình . Đánh đổi cho sự
chuyển quyền đó là quền người cho vay được trả lãi suất .
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Phân loại lãi suất
2.1.Căn cứ vào thời hạn tín dụng lãi suất được chia thành 3 loại .
Lãi suất ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn
Lãi suất trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụg trung hạn
Lãi suất tín dụng dài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn
2.2.Căn cứ vào các loại hình tín dụng (phân loại theo chủ thể tham gia
quan hệ tín dụng).
Lãi suất được chia thành các loại sau:
- Lãi suất tín dụng thương mại áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay
dưới hình thức mua ban chịu hàng hoá .
Nó được tính như sau:
Lãi suất
TDTM
=
Giá cả hàng hoá
bán chịu -
Giá cả hàng hoá
bán trả tiền ngay * 100%
Giá cả hàng hoá bán chịu
Lãi suất tiền giửi : là lãi suất trả cho các khoản tiền giửi .Nó được áp dụng để
tính tiền lãi phải trả cho người giửi tiền .
- Lãi suất tiền vay: là lãi suất người đi vay phải trả cho Ngân hàng do việc sử
dụng vốn vay của Ngân hàng . Nó được áp dụng để tính lãi mà khách hàng phải trả
cho Ngân hàng .
những thay đổi trên thực tế về lạm phát
Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
Hoặc Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát
2.4.Căn cứ vào mức ổn định của lãi suất .
Lãi suất được chia làm hai loại .
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Lãi suất ổn định : là lãi suất áp dụng cố định trong suất thời hạn vay . Nó có
ưu điểm : Người gửi tiền và vay tiền biết trước số tiền lãi được trả và phải trả .Bên
cạnh đó nó có nhược điểm bị ràng buộc vào một lãi suất nhất định trong một thời
hạn nào đó dù cho các loại lãi suất khác thay đổi như thế nào .
- Lãi suất thả nổi : Là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báo trước
hoặc không báo trước.Lãi suất thả nổi có lợi cho cả hai bên khi nhận và trả tiền đều
tính theo một lãi suất chung là lãi suất hiện tại
2.5 . Căn cứ vào mức ổn đinh của lãi suất
Lãi suất được chia làm 2 loại lãi đơn và lãi kép
- Lãi suất đơn là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suất kỳ hạn vay
Công thức tính : I = C
o
. i . n
( trong đó I số tiền lãi , C
o
vốn gốc , i là lãi suất , n số kỳ )
Trong đó thời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất
- Lãi suất kép : là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tứ thu
được trong thời hạn sử dụng tiền vay
Công thức : C = C
o
( 1=i)
n
dùng và tiết kiệm . Nhưng nâng lãi suất huy động đến mức nào thì phải cân nhắc
thận trọng để đảm bảo sự phát triển hài hoà của nền kinh tế quốc dân .
ỞViệt nam trong công cuộc đổi mới nền kinh tế vốn dang là vấn đề then chốt
.Muấn huy động được vốn phải có biện pháp gọi vốn .Vấn đề là cần duy trì một
mức lãi suất như thế nào để huy động tối đa vốn nhàn rỗi trong xã hội
2. Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chính sách lãi suất là một bộ phận trong chính sách tiền tệ của Nhà nước
nhằm điều tiết lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động sản xuất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế
Lãi suất phải trả cho khoản vay là khoản chi phí của doanh nghiệp .Do vậy
,lãi suất sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh
doanh . Ngược lại, lãi suất cho vay cao sẽ thu hẹp đâu tư của các doanh nghiệp .
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả . những ưu
đãi về lãi suất về điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán là công cụ của Nhà
nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các nghành các sản phẩm
cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế
3. Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô
Lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay vì vậy sự biến động của lãi
suất có tác động đến đầu tư đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mục tiêu của nền
kinh tế vĩ mô biểu hiện trong các trường hợp :
Lãi suất thấp → kích thích đầu tư , kích thích tiêu dùng → tăng tổng cầu →
sản lượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm→ nội tệ có xu hướng giảm giá so với
ngoại tệ .
Lãi suất cao→ hạn chế đầu tư , hạn chế tiêu dùng→ giảm tổng cầu → sản
lượng giảm →giảm giá→ thất nghiệp tăng→ nội tệ có xu hướng tăng giá so với
ngoại tệ
Như vậy, bằng cách tăng lãi suất Ngân hàng Nhà nước có thể làm giảm khả
năng cho vay của Ngân hàng Thương mại do đó thực hiện chính sách tiền tệ thắt
cấp vốn của Ngân hàng Trung ương cho các Ngân hàng Thương mại .Do đó đãcó ý
kiến lấy lãi suất tái cấp vốn làm lãi suất cơ bản . Nếu như hiểu được lãi suất cơ bản
là lãi suất tái cấp vốn thì điều này trái với luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ
chức tín dụng ban hành năm 1997 trong luật này đã xác định rõ lãi suất cơ bản là
lãi suất tái cấp vốn .Trên thực tế chúng ta thấy bản chất của 2 loại lãi suất này cũng
không giống nhau lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Trung ương công bố là
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lãi suất làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng xác định mức lãi suất kinh doanh còn lãi
suất tái cấp vốn là lãi suất mà Ngân hàng Trung ương quy định đối với các khoản
vay cuối cùng trong các hình thức sau :
Ngân hàng Trung ương cho vay chiết khấu và tái chiết khấu
Ngân hàng Trung ương cho vay đối với giá trị hợp đồng tín dụng chưa đến
hạn cuả Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng Trung ương cho vay cầm cố bất động sản và thế chấp các chứng
từ khác có giá trị của Ngân hàng Thương mại
Bằng các hình thức tái cấp vốn này Ngân hàng Nhà nước sử dụng linh hoạt
để thắt chặt hay lới lỏng tín dụng phương tiện thanh toán trong điều kiện cụ thể có
khi lãi suất tái cấp vốn có thể thấp hơn hay bằng lãi suất cho vay của Ngân hàng
Thương mại nhưng thực tế tình hình lãi suất hiện nay ở Việt Nam chưa thể sử dụng
lãi suất tái cấp vốn để điều hành chính sách tiền tệ được .
Quan điểm 2
Vẫn duy trì trần lãi suất như hiện nay và xem nó là lãi suất cơ bản trong quá
trình xác định lãi suất có thể cộng thêm mức biên độ giao động của lãi suất cơ
bản .Quan điểm này có sự bất hợp lý đó là khi công thêm vào trần lãi suất sẽ làm
lãi suất cao hơn trần lãi suất điều này không phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt
Nam
Quan điểm 3
Lãi suất cơ bản là loại lãi suất xác định dựa vào lãi suất đầu vào và công bố
giới hạn tối đa để các Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng xác định mức
Website: Email : Tel : 0918.775.368
viẹc xác định các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể Ngân hàng Nhà nước còn
có sự phân biệt lãi suất giữa các thành phần kinh tế lãi suất cho vay đối với các
doanh nghiệp quốc doanh nhưng có hạn chế ở việc lãi suất cho vay ngắn hạn cao
hơn lãi suất cho vay trung và dày hạn ... điều này được khắc phục dần qua từng
giai đoạn sau này .
1.2. Giai đoạn Ngân hàng Nhà nước vừa quy định lãi suất tiền gửi lãi suất
cho vay và lãi suất thoả thuận
Cùng một thời điểm Ngân hàng Nhà nước cho phép các tổ chức tín dụng cho
vay theo mức lãi suất thoả thuận mà Ngân hàng Thương mại thoả thuận với khách
hàng . Mức lãi suất thoả thuận có thể vượt mức cho vay hay lãi suất tiền gửi cụ thể
mà Ngân hàng đã công bố .Ở giai đoạn này vẫn có sự phân biệt giữa lãi suất cho
vay đối với doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp tư nhân .Bên cạnh đó với cơ
chế cho vay theo lãi suất thoả thuận Ngân hàng Thương mại có nơi cho vay cao
hơn mức lãi suất 22% năm và có nơi cho vay lên đến 30 %đến 35% chính vì vậy
mà trong thời kỳ này các Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng khác đạt
được mức lãi suất cho vay và tiền gửi với chênh lệch từ 0,75% - 1% / tháng , đó là
con số mơ ước của các Ngân hàng Thương mại hiện nay . Với thực tế này đem lại
cho các Ngân hàng Thương mại các tổ chức tín dụng lợi nhuận rất cao trong khi đó
các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn về tài chính .Đứng trước
tình hình này tháng 10 / 1995 sau kỳ họp VIII khoá IX đã thông qua bỏ thuế doanh
thu của các Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng yêu cầu các đơn vị kinh
doanh tiền tệ phải giảm chi phí hoạt điộng để giảm lãi suất cho vay của mình .
Ngân hàng Trung ương đã khống chế lãi suất cho vay và tiền gửi là 0,35% / tháng
đó là tiền đề để hình thành chính sách lãi suất mới thực hiện khống chế trần lãi suất
cho vay như hiện nay đối với các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác .
1.3 Giai đoạn thực hiện trần lãi suất cho vay
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Từ năm 1996 bằng thành quả đẩy lùi , kềm chế lạm phát ở mức thấp từ 1 chữ
số ( năm 1996 là 4,5 % năm 1997v là 3,7 % là điều kiện để thi hành chính sách lãi
suất thực dương gắn liền với việc điều chỉnh toàn diện lãi suất cả về mặt bằng cơ
cấu cũng như các loại hình lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm và cho vay ( bao
gồm nội tệ lẫn ngoại tệ ) .Từ đó đến nay chính sách lãi suất bắt đầu linh hoạt hơn cả
mức lãi suất trần về mức huy động và cho vay .
Qua những phân tích trên ta rút ra được một số nhận xét về chính sách lãi
suất của Việt Nam như sau .
Một là: Chúng ta đã liên tục theo đuổi chính sách lãi suất chủ động từ khi bắt
đầu công cuộc đổi mới chính sách lãi suất và theo đó là cơ cấu của các loại lãi suất
khi được định hình đúng đắn đã có tác động trực tiếp tới hoạt động và tiến trình
phát triển của hệ thống tài chính Việt Nam .
Hai là: Chế độ kiểm soát lãi suất cứng nhắc đã dần dần được nới lỏng ,các
mức lãi suất quy định cụ thể theo mục đích và nghành kinh tế đã được xoá bỏ để
dành quyền tự chủ cho các Ngân hàng thương mại trong một mức độ linh hoạt nhất
định .
Ba là :Thực tế đang đặt ra trừng nào có được loại hình lãi suất chủ đạo ( lãi
suất cơ bản ) đồng thời xây dựng được cơ chế bảo đảm mức độ bao quát và cách
thức can thiệp linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước đối với quan hệ cung cầu tiền tệ
trong nền kinh tế thì lúc đó mới kiểm soát tốt lượng tiền trong lưu thông .
Thực tế cho thấy còn nhiều tồn tại xoay quanh chính sách lãi suất hiện
hành .Dù có biện minh cho việc kiểm soát lãi suất trong những điều kiện nhất định
vì mục tiêu của chính sách tiền tệ thì vẫn không tránh khỏi những thiệt hại xét trên
tổng thể nền kinh tế . Điều này khuyến khích sự vay mượn ,chiếm dụng vốn ,chốn
tránh kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước làm méo mó chế độ lãi suất quy định
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
.Mức độ toàn dụng vốn trong nền kinh tế thấp đầu cơ thực lợi và cạnh tranh bất
tương xứng về lãi suất còn phổ biến vốn bị sử dụng lãng phí kém hiệu quả .Chuyển
sang lãi suất trần là một bước tiến độ sang lãi suất vẫn chưa phản ảnh đúng quan hệ
đối với các khách hàng và dự án cho vay đầu tư không có rủi ro xem như bằng
không
Các Ngân hàng thương mại xác định lãi suất cơ sở của mình dựa trên lãi suất
cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố .Sau khi tính toán đến các yếu tó như
chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ , chỉ số lạm phát , lãi suất trêng thị trường
liên Ngân hàng , các quy định về dự trữ bắt buộc , dự phòng rủi ro .
Do đó để xác định lãi suất cơ bản của Ngân hàng thương mại chúng ta có thể
sử dụng công thức xác định lãi suất cho vay của Ngân hàng thương mại như sau
Lãi suất
cho vay
= Lãi suất
cơ sở
+
Dự phòng rủi ro
khách hàng mất khả
năng thanh toán
+
Dự phòng rủi ro kỳ
hạn khi khách hàng
vay dài hạn
Hiện nay ở Việt nam chưa có nghiên cứu nào về mức dự phòng rủi ro khách
hàng mất khả năng thanh toán và rủi ro về kỳ hạn cũng như những rủi ro khác để
dựa vào các yếu tố quyết định lãi suất cho vay .
Ta cũng có thể tính lãi suất cở sở của các Ngân hàng thương mại theo công
thức sau :
Lãi
suất
cơ cở
=
Lãi suất
xét với xu huướng diễn biến trong khu vực và trên thế giới trong xu hướng chung
về diễn biến lãi suất trên thế giới hơn một năm qua và diễn biến kinh tế trong 6
tháng đầu năm 1999 , ta cùng xem xét việc điều chỉnh lãi suất ở Việt Nam ra sao ?
Tính từ ngày 1-7-1997 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tiến hành
nhiều đợt điêù chỉnh lãi suất cho vay . Hai lần điều chỉnh gần đây nhất là 1/2/1999
thực hiện với 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh cho vay với khách hàng ở khu
vực đô thị 1/6 1999 thực hiện đối với các tổ chức tín dụng . Ngày 29/1/1999 Thống
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đốc Ngân hàng Nhà nước cho chỉ thị 01 1/1999 CT - NH NN quy định trần lãi suất
cho vay thông thường bằng đồng Việt Nam của các Ngân hàng thương mại quốc
doanh đối với khách hàng ở khu vực đô thị là 1,1%/ tháng với các loại cho vay
ngắn hạn , 1,15% của các loại vay trung và dài hạn song các Ngân hàng thương mại
quốc doanh chiếmtới 71,6% tổng dư nợ cho vay của các Ngân hàng đối với nền
kinh tế , chiếm chủ yếu hần cho vay . Do đó, chỉ thị về mức lãi suất trên có ý nghĩa
như hạ trần lãi suất cho vay chung của nền kinh tế. Bên cạnh đó , việc quy định về
lãi suất trên chỉ áp dụng đối với các Ngân hàng thương mại quốc doanh song đối
với các Ngân hàng thương mại cổ phần để cạnh tranh thu hút khanh hàng , không
muốn mất khách hàng truyền thống có uy tín, các ngân hàng thương mại cổ phần
cũng buộc phải hạ mức lãi suất cho vay xuống bằng mức lãi suất cho vay của các
Ngân hàng thương mại quốc doanh .
Thêm vào đó, lãi suất cho vay vốn các tổng công ty 90-91, các doanh nghiệp
lớn và kinh doanh có hiệu quả ,các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ổn định để cạnh
tranh và thu hút khách hàng các ngân hàng thương mại đều giảm mức lãi suất cho
vay từ 10-15% so với mức trần lãi suất quy định nói trên , chỉ cho vay với lãi suất
1,0 - 1,05% tháng thậm chí hạ tới 0,95% / tháng hoặc 0,90%/ tháng của loại vay
ngắn hạn
Xuất phát từ chỗ tất cả các Ngân hàng đều chủ động hạ lãi suất từ nhiều
tháng trước đây lên lãi suất Ngân hàng được điều chỉnh giảm xuống nhưng các
Ngân hàng không có cơ sở gì để tiếp tục hạ thêm lãi suất tiền gửi để người gửi tiền