Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
chơng I
khái quát chung về lãi suất và cơ chế
tự do hoá lãi suất
I. Khái quát chung về lãi suất
1.Khái niệm về lãi suất
Lãi suất tín dụng đợc hiểu một cách chung nhất là tỷ lệ % so sánh giữa số
lợi tức thu đợc với số tiền bỏ ra cho vay trong một thời kỳ nhất định
( năm, tháng ).
Lãi suất là một trong những biến số kinh tế đợc theo dõi chặt chẽ nhất do
nó ảnh hởng đến đời sống của ngời dân và tình hình kinh tế của mỗi quốc gia.
Chính vì vậy mà đã có rất nhiều khái niệm đợc sử dụng để giải thích về vấn đề
này:
Theo Samuelson: Lãi suất là giá mà ngời đi vay phải trả cho ngời cho vay
để đợc sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định, nó chính là giá
của việc mua bán quyền sử dụng tiền tệ trong một thời gian xác định.
Theo Jonh Maney Keynes: Lãi suất là sự trả công cho số tiền vay, nó là
phần thởng cho sở thích chi tiêu hay sở thích thanh khoản, lãi suất là hiện tợng
tiền tệ phản ánh cung cầu về tiền. Tiền đóng vai trò nh một sự tích luỹ của cải
nhng chi phí cơ hội về việc giữ tiền của dới dạng này là tỷ suất lợi tức có đợc
bằng những tài sản tài chính khác.
Theo quan điểm của trờng phái trọng tiền thì lãi suất là một hiện tợng thực
tế đợc xác định bởi năng suất- cầu về vốn cho mục tiêu đầu t và tiết kiệm-
nguồn cung tiết kiệm. Họ cho rằng tỷ suất lợi tức của tài sản vật chất và vốn có
xu hớng bằng nhau trong dài hạn và thiết lập một mức lãi suất thị trờng duy
nhất.
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
1
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
Lãi suất có vai trò quan trọng bởi nó tác động đến quyết định của các cá
nhân đối với khoản thu nhập của mình, chi tiêu hay tiết kiệm, tác động đến
tiền gửi vào ngân hàng, có 3 loại kỳ hạn là ngắn, trung và dài hạn.
+ Lãi suất cho vay: Là lãi suất mà ngời đi vay phải trả cho ngân hàng do việc
sử dụng vốn vay của ngân hàng. Nó đợc áp dụng để tính lãi tiền vay mà khách
hàng phải trả ngân hàng. Về nguyên tắc, mức lãi suất tiền vay bình quân phải
cao hơn mức lãi suất tiền gửi bình quân và có sự phân biệt giữa các khoản vay
với thời hạn khác nhau cũng nh mức rủi ro khác nhau.
Lãi suất cho vay tác động lớn đến hoạt động kinh doanh của các NHTM
và TCTD vì vậy phải vận dụng chính sách lãi suất cho vay một cách linh hoạt
để tạo đợc sự hài hoà về lợi ích giữa doanh nghiệp và khách hàng hoặc là nhằm
đạt đợc những mục tiêu kinh tế xã hội nào đó của Nhà nớc. Do đó lãi suất cho
vay thờng phải đợc phân loại theo đối tợng ngành nghề và vùng kinh tế.
+ Lãi suất chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dới hình
thức chiết khấu thơng phiếu hoặc giấy tờ có giá khác cha đến hạn thanh toán
của khách hàng. Nó đợc tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của giấy tờ có giá và
đơc khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng. Nh vậy nếu xét
trong quan hệ giữa ngân hàng với ngời vay chiết khấu, lãi suất chiết khấu đợc
trả trớc cho ngân hàng chứ không trả sau nh lãi suất thông thờng.
+ Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi Ngân hàng Trung ơng tái cấp vốn dới
hình thức chiết khấu lại thơng phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn cha đến hạn
thanh toán của các ngân hàng. Nó cũng đợc tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá
của giấy tờ có giá và cũng đợc khấu trừ ngay .
Lãi suất tái chiết khấu do Ngân hàng Trung ơng ấn định căn cứ vào mục
tiêu, yêu cầu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và chiều hớng biến động
lãi suất trên thị trờng liên ngân hàng.
Vì hành vi tái chiết khấu cung ứng nguồn vốn cho các ngân hàng nên thông
thờng lãi suất tái chiết khấu thờng nhỏ hơn lãi suất chiết khấu. Tuy nhiên trong
trờng hợp cần phải hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân
hàng, nhằm kiềm chế đẩy lùi lạm phát hoặc phạt các ngân hàng trong trờng hợp
vi phạm các yêu cầu về thanh toán, Ngân hàng Trung ơng có thể ấn định lãi
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
4
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
(Singapore, Pháp) vì thực chất lãi suất cơ bản của các ngân hàng rất gần với
mức lãi suất thị trờng liên ngân hàng nếu không nh vậy hoạt động Arbitrage về
lãi suất sẽ diễn ra. Mặc dù khác nhau, lãi suất cơ bản của hầu hết các nớc đều
hình thành trên cơ sở thị trờng và đó là mức lãi suất tối thiểu bù đắp đợc lãi suất
cho vay và có đợc mức lợi nhuận bình quân cho phép. Khi áp dụng đối với các
đối tợng có mức rủi ro khác nhau, mức lãi suất kinh doanh sẽ khác nhau vì sự
biến động của mức bù rủi ro.
ở Việt Nam, Luật ngân hàng nhà nớc hiện nay quy định Lãi suất cơ bản là
lãi suất do Ngân hàng Trung ơng công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng
ấn định lãi suất kinh doanh (khoản 12 điều 19). Tuy vậy, vấn đề chọn lãi suất
nào làm lãi suất cơ bản hiện vẫn đang còn là vấn đề tranh luận.
b. Lãi suất chỉ đạo và lãi suất thị tr ờng
+ Lãi suất chỉ đạo: là lãi suất do ngân hàng TW ấn định, không trực tiếp
thay đổi theo sự biến động của thị trờng, nó phụ thuộc vào sự điều tiết của
Ngân hàng trung ơng.
+ Lãi suất thị tr ờng : là lãi suất biến động theo quan hệ cung cầu vốn vay
trên thị trờng, tuy nhiên nó chỉ biến động trong giới hạn của tỷ suất lợi nhuận
bình quân, bởi vì ngời đi vay chỉ có thể trích một phần lợi nhuận thu đợc của
mình thu đợc trả cho ngời cho vay. Trong điều kiện bình thờng tỷ suất lợi
nhuận bình quân là giới hạn cao nhất của lãi suất. Chúng ta không xác định đợc
giới hạn thấp nhất của lãi suất nhng thờng nó phải lớn hơn không vì mấy khi
ngời ta có thể cho vay mà không thu lãi.
c. Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa
+ Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất đợc tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ
vào thời điểm nghiên cứu hay bản chất của nó là loại lãi suất mà cha trừ đi tỷ lệ
lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thờng đợc ghi trong các hợp đồng tín dụng hay
các chứng chỉ tiền gửi và đợc công bố công khai hàng ngày trên báo chí.
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
Đối với những ngời có tiền tiết kiệm, lãi suất là tiền thởng cho việc tiết chế
tiêu dùng và chờ đợi tiêu dùng ở một thời gian nào đó sau này. Lãi suất càng
cao thì sự khích lệ tiết kiệm càng lớn làm cho cung tiền tăng lên.
Đối với những ngời đi vay thì ngợc lại, lãi suất là cái giá phải trả cho số tiền
vay để đầu t hay để mua các sản vật tiêu dùng. Nếu lãi suất càng cao thì ngời ta
vay mợn càng ít làm cho cầu tiền giảm đi.
Cũng vậy, khi NHTW tác động đến mức cung tiền, giả sử nh bán trái phiếu
hoặc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc dẫn đến lợng cung tiền giảm, lãi suất cân bằng
sẽ tăng lên, nh vậy giảm cung tiền dẫn đến lãi suất tăng lên để giảm mức d cầu
tiền.
Thứ hai , lãi suất là công cụ quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính
phủ, giúp cho việc đảm bảo tiền tiết kiệm sẽ đợc chuyển vào đầu t và kích thích
tăng trởng kinh tế.
NHTW là cơ quan tổ chức thực hiện các chính sách tiền tệ, mục tiêu của
chính sách tiền tệ là ổn định giá cả, tăng GDP, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Vì chính
sách tiền tệ chỉ có khả năng tác động vào thị trờng tiền tệ, qua đó tác động lên
tổng cầu nên việc kiểm soát của NHTW tập trung vào hai công cụ chủ yếu là
mức cung tiền và lãi suất.
Quan hệ cung cầu tiền ấn định mức lãi suất cân bằng tức lãi suất thị trờng và
quan hệ này cũng chịu sự tác động ngợc trở lại của lãi suất.
4. Vai trò của lãi suất
a.Cấp vi mô:
ở cấp vi mô, lãi suất tác động trực tiếp đến ngời đi vay, ngời cho vay và
hoạt động của các tổ chức kinh doanh tiền tệ.
Đối với ng ời cho vay
Ngời ta nắm giữ tiền vì các động cơ giao dịch, dự phòng và tài sản. Nhng
ngời ta phải trả chi phí cơ hội cho việc giữ tiền : đó là khoản lãi hoặc lợi tức bị
mất đi do việc giữ tiền mà không đầu t vào các tài sản khác có khả năng sinh
lại hạn chế khả năng mở rộng cho vay. Thông thờng lãi suất cho vay và lãi suất
tiền gửi thờng biến động thuận chiều, lãi suất tiền gửi tăng thì lãi suất cho vay
cũng tăng và ngợc lại. Tuy nhiên, vì là tổ chức huy động vốn để cho vay nên họ
không thể nâng mức huy động lên quá cao đợc bởi lẽ khi đó lãi suất cho vay
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
8
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
tăng lên bóp nghẹt nhu cầu vay vốn. Mức lãi suất cho vay cao sẽ thu hút hết lợi
nhuận của những nghành có lợi nhuận thấp hơn lãi suất cho vay của ngân hàng,
ngời đi vay không còn thu nhập, ảnh hởng tới sản xuất và đời sống. Chính vì lẽ
đó, điều hành lãi suất của các TCTD một mặt phải duy trì mức lãi suất cho vay
vừa đảm bảo thu nhập của mình vừa đảm bảo đợc hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp. Xuất phát từ đó ta có một nguyên tắc:
Tỷ lệ lạm phát < lãi suất huy động bình quân < lãi suất cho vay bình quân < tỷ
lệ lợi nhuận bình quân.
Nh vậy, sự biến động lãi suất có tác động trực tiếp đến cả hoạt động huy
động vốn và cho vay của các tổ chức kinh doanh tiền tệ.
b.Cấp vĩ mô
Lãi suất có vai trò trung tâm trong chính sách tiền tệ, là công cụ điều hành
kinh tế vĩ mô hớng tới mục tiêu: tăng trởng kinh tế và giải quyết việc làm, kiểm
soát lạm phát và ổn định giá cả, cải thiện cán cân thanh toán ...
Ngoài ra lãi suất còn có vai trò quan trọng trong việc khai thác, sử dụng hiệu
quả nguồn vốn và góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
Thúc đẩy tăng tr ởng kinh tế và giải quyết việc làm:
Sự biến động của lãi suất tác động tới đâù t, tiêu dùng, xuất khẩu ròng, qua
đó tác động tới các biến số kinh tế vĩ mô. Khi nền kinh tế có dấu hiệu suy
thoái: tăng trởng kinh tế giảm sút và thất nghiệp gia tăng, NHTW bằng các biện
pháp nhằm giảm lãi suất sẽ kích thích nhà đầu t vay vốn, mở rộng và phát triển
sản xuất kinh doanh, thu hút thêm nhiều việc làm. Lãi suất giảm cũng giúp cho
giá sẽ khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu làm cho cán cân thơng mại
tốt hơn. Kết quả là cán cân thanh toán đợc cải thiện và dần về vị trí cân bằng.
Ngợc lại, nếu lãi suất đồng bản tệ tăng lên, cán cân thanh toán vãng lai xấu đi
nhng cán cân vốn lại tốt hơn. Kết quả là cán cân thanh toán đợc cải thiện. Nh
vậy, trong điều kiện tỷ giá thả nổi, sự biến động của lãi suất tăng hay giảm đều
giúp cho cán cân thanh toán tự động cân bằng.
Đẩy mạnh việc khai thác và sử dụng nguồn vốn hiệu quả
Lãi suất đợc thừa nhận phổ biến nh một động lực quan trọng kích thích tiết
kiệm, thu hút vốn nhàn rỗi trong dân c. Muốn huy động đợc các nguồn vốn từ
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
10
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, ngoài việc đáp ứng các dịch vụ khách
hàng thật tốt còn đòi hỏi giá cả ( lãi suất ) phải hợp lý và hấp dẫn. Bởi vậy, tăng
lãi suất huy động tiền gửi sẽ khuyến khích dân chúng tiết kiệm nhiều hơn đồng
thời nó cũng gây áp lực buộc các doanh nghiệp phải sử dụng vốn vay hiệu quả ,
phải thực sự chú tâm vào công việc kinh doanh để đảm bảo hoàn trả đúng hạn
cả vốn lẫn lãi. Lãi suất thực quá cao sẽ gây khó khăn cho ngời vay, hạn chế đầu
t và thâm hụt tài chính. Nhng nếu lãi suất thực dơng ở mức độ vừa phải, phù
hợp với mức cân bằng của thị trờng sẽ có những tác động tích cực tới cả đầu t
và tiết kiệm, tăng trởng kinh tế và các chỉ số kinh tế khác nh độ sâu tài
chính( đợc đo bằng tỷ lệ M2/GDP ), tỷ lệ lạm phát và hiệu quả vốn đầu t... Mức
lãi suất thực dơng hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho tiết kiệm dới hình thức tài
chính hơn so với các dạng tiết kiệm khác. Khi đó thu hút đợc nhiều nguồn tiết
kiệm cho đầu t, đồng thời khi lợng tiền tiết kiệm đi qua hệ thống tài chính gia
tăng làm tăng cờng độ sâu tài chính. Ngoài ra lãi suất thực dơng đóng góp cho
tăng trởng kinh tế không chỉ qua nguồn tăng tiết kiệm để cung ứng nguồn vốn
đầu t mà còn hỗ trợ tăng trởng chủ yếu qua việc nâng cao hiệu quả vốn đầu t,
giúp nền kinh tế tăng trởng cả mặt lợng và mặt chất.
ơng đơn giản sẽ chỉ thị cho các ngân hàng áp dụng một lãi suất cụ thể cho các
khoản vay hoặc tiền gửi.
- Việc cho vay của ngân hàng: khi một ngân hàng cho vay tiền thông qua
những khoản tín dụng thì phần lớn số tiền này sẽ quay trở lại hệ thống ngân
hàng thông qua các khoản tiền gửi. Những khoản tiền gửi thêm này lại đợc cho
vay tiếp và phần lớn số tiền này sẽ quay trở lại hệ thống ngân hàng. Quá trình
này đợc gọi là sự tạo ra tiền gửi ngân hàng.
- In thêm tiền: biện pháp tăng cung tiền này thờng ít đợc sử dụng vì nó gây
ảnh hởng lạm phát.
Xét đến cầu tiền, ta thấy rằng ngời dân có ba lý do để giữ tiền. Đó là: để
thanh toán nhiều giao dịch khác nhau (những giao dịch này là một phần tất yếu
của tiêu dùng trong một nền kinh tế chuyển đổi); để lựa chọn thời gian thích
hợp, để mua một tài sản tài chính nh trái phiếu; và để đề phòng những trờng
hợp khẩn cấp. Lãi suất tiền gửi tăng sẽ thúc đẩy ngời dân đầu t và giữ ít tiền
hơn. Cầu về tiền tăng khi nền kinh tế phát triển (lúc đó GDP tăng) hoặc khi tỷ
lệ lạm phát tăng. Ngoài ra những dự đoán cũng ảnh hởng đến cầu tiền. Tiền đợc
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
12
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
giữ để tránh thua lỗ do giữ các trái phiếu và cổ phiếu khi ngời ta dự đoán chúng
sẽ giảm giá. Nếu ngời ta dự đoán lãi suất của trái phiếu hoặc giá cổ phiếu sẽ
tăng thì cá nhân sẽ giữ ít tiền hơn.
Nh vậy rõ ràng, nguồn cung vốn tín dụng phụ thuộc vào lợng vốn tiền tệ
nhàn rỗi trong dân c, quy mô của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, tình hình
cán cân ngân sách. Còn nguồn cầu vốn tín dụng lại phụ thuộc vào mục tiêu mở
rộng sản xuất của doanh nghiệp, tình hình thâm thủng ngân sách, tình hình thu
nhập của dân c...Nếu cung vốn tín dụng lớn hơn cầu vốn tín dụng, lãi suất tín
dụng sẽ giảm xuống. Nếu cung vốn tín dụng nhỏ hơn cầu vốn tín dụng, lãi suất
tín dụng sẽ tăng.
b. Mức độ rủi ro:
thế nào thì còn phải bàn thêm, nhng chắc chắn rằng khi lạm phát diễn ra ở mức
cao hơn thì lãi suất cũng cao tơng ứng. Nếu lạm phát tăng thì đến cuối năm, giá
trị thực của tài khoản tiền gửi của khách hàng sẽ giảm xuống. Mức lãi suất
ngang bằng với mức lạm phát sẽ giữ cho giá trị thực khoản vốn của khách hàng
sẽ không thay đổi. Tất nhiên, ở đây chúng ta giả thiết rằng lãi suất đợc tính một
lần một năm và tính vào cuối năm. Đa số các ngân hàng tính lãi theo nửa năm
hoặc đôi khi theo tháng, quý. Kết quả của việc thanh toán lãi thờng xuyên nh
vậy là ngời tiết kiệm đợc lãi đẻ ra lãi. ta cũng có thể giải thích hiện tợng lạm
phát tăng, lãi suất tăng theo nh phần a. Đó là khi lạm phát tăng, giá cả sẽ tăng
và làm cầu về tiền tăng dẫn đến lãi suất tăng.
e.Sự ảnh h ởng của lãi suất trên các trung tâm tài chính Quốc tế khác hay
trong khu vực kinh tế.
Ví dụ, lãi suất thờng bị ảnh hởng trên phạm vi toàn thế giới bởi sự phát triển
của nền kinh tế Mỹ. Điều này cũng dễ hiểu vì Mỹ là một trung tâm tài chính
kinh tế lớn. Vào tháng 8/2000 vừa rồi, nhằm kìm hãm lạm phát, giảm mức tăng
trởng quá nóng trong bốn năm qua, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi
suất cho vay lên đến 7,25%/năm đã làm cho nhiều nớc chao đảo, ảnh hởng tiêu
cực đến nền kinh tế, làm tụt giá cổ phiếu, gây nguy cơ tan vỡ của các thị trờng
chứng khoán thế giới. Các ngân hàng thơng mại của nớc ta đã phải tăng lãi suất
huy động ngoại tệ lên tơng ứng đồng thời đổ dòng vốn ngoại tệ này sang Mỹ để
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
14
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
hởng chênh lệch lãi suất. Song nếu FED không hạ cánh nhẹ nhàng lãi suất,
triển vọng phát triển kinh tế có thể bị nguy hiểm, tác động đến hệ thống ngân
hàng tài chính các nớc, và làm lãi suất biến động là điều không tránh khỏi.
Không riêng gì Mỹ, đối với các khu vực kinh tế lớn, mức độ và số lợng luân
chuyển vốn rất khổng lồ cho nên chỉ cần một thay đổi nhỏ của dòng vốn ra, vào
(do thay đổi lãi suất) của chúng chắc chắn sẽ tác động đến cung cầu tiền tệ trên
thế giới và gây thay đổi lãi suất trong nớc.
Mỗi một sự tăng giảm về lãi suất sẽ quyết định đến tiết kiệm hay đầu t của
các chủ thể kinh tế vì lãi suất chính là tiền thởng cho việc giữ tiền, nếu mức lãi
suất càng cao thì ngời ta không có lý do gì để không giữ chúng ngợc lại nếu
tiền thởng cho việc giữ các tài sản tài chính sinh lời ( không phải là tiền ) cao
hơn thì ngời ta giữ tiền càng ít, các cá nhân giảm lợng tiền cất trữ cốt để thu đ-
ợc số lãi cao hơn trả cho các tài sản thay thế cho tiền.
Nh vậy, mỗi thay đổi trong lãi suất sẽ làm cho lợng cung cầu tiền tệ trên thực tế
biến động, có thể lợng cung tiền cao hơn lợng cầu tiền hoặc ngợc lại song xu h-
ớng của nó sẽ tiến dần một điểm cân bằng mới tại đó xác định mức lãi suất
mới.
ii. tự do hoá lãi suất
1.Khái niệm về tự do hoá lãi suất
Tự do hoá lãi suất về cơ bản đợc hiểu là lãi suất hoàn toàn đợc điều chỉnh
theo yêu cầu của thị trờng, do thị trờng quyết định. Hay nói cách khác, lãi suất
đợc điều chỉnh theo tín hiệu của thị trờng. Cụ thể, lãi suất đợc điều chỉnh theo
yêu cầu của quan hệ cung - cầu đầu t, mức tiết kiệm và thu nhập trong nền kinh
tế.
Khi tự do hoá lãi suất, sẽ giảm thiểu sự can thiệp của nhà nớc, sự can thiệp
của nhà nớc lúc này chỉ mang tính gián tiếp và dừng lại ở mức bảo đảm cho tự
do hoá lãi suất đợc an toàn, trôi chảy và có hiệu quả.
Khi tự do hoá lãi suất, sẽ góp phần làm cho các dòng vốn đợc tự do lu
chuyển đến bất cứ đâu, tuỳ thuộc theo ý muốn của nhà đầu t mà không gặp bất
cứ sự ngăn cản phi kinh tế nào. Lãi suất khi đó sẽ tự điều chỉnh linh hoạt và
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
16
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
nhạy cảm phản ánh theo đòi hỏi của thị trờng, nâng cao hiệu quả đầu t và khi
tự do hoá lãi suất sẽ đẩy mạnh quá trình tự do hoá tài chính.
Tự do hoá lãi suất đợc thể hiện nh sau: trong điều hành lãi suất, Ngân hàng
Trung ơng chỉ quy định các mức lãi suất áp dụng đối với các khoản cho vay tái
đảm bảo hạn chế và bù đắp đợc những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của
các trung gian tài chính.
Bốn là, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân đảm
bảo có hiệu quả, khả năng tài chính đáp ứng đến mức cần thiết cho các nhu cầu
thanh toán, có thể đối phó, xử lý đợc khi có sự tác động do lãi suất gây ra. Các
doanh nghiệp không chỉ đòi hỏi có công nghệ hiện đại mà còn phải có sự phát
triển về bề sâu, có kinh nghiệm về quản lý ở nhiều khía cạnh.
Năm là, dự trữ quốc gia về ngoại tệ cũng nh nền tài chính không có đủ khả
năng để kịp thời tác động, xử lý khi có diễn biến đột xuất do nền kinh tế gây ra.
Sáu là, các công cụ, yếu tố thị trờng hoạt động trong nền kinh tế thị trờng
đợc hình thành, vận động một cách minh bạch, cạnh tranh trở thành việc bình
thờng, không có gì xa lạ với các nhà kinh doanh trong thơng trờng.
Bảy là, vai trò và khả năng điều hành, giám sát, tác động của ngân hàng
trung ơng đối với việc thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ ở mức có thể can
thiệp kịp thời, nhanh, hiệu quả khi có biến động bất lợi liên quan đến tự do hoá
lãi suất .
Tám là, tự do hóa lãi suất phải gắn liền với tự do hóa tỷ giá hối đoái.
Chín là, chọn đúng thời điểm bắt đầu, tốc độ và lộ trình tự do hoá phù hợp
với điều kiện và bối cảnh của nền kinh tế. Kinh nghiệm cho thấy tự do hóa lãi
suất không đúng thời điểm có thể làm tăng tính bất ổn định nền kinh tế vĩ mô
do tăng lạm phát và nợ nớc ngoài, giảm sức sản xuất trong nớc.
3. Vai trò của tự do hoá lãi suất
Trớc hết, chúng ta đều biết trong nền kinh tế có 3 loại giá là giá hàng hoá và
dịch vụ; giá vốn ( lãi suất ); và giá ngoại tệ ( tỷ giá hối đoái ) nên tự do hoá lãi
suất ( thờng gắn với nó là tự do hoá tỷ giá hối đoái ) tác động mạnh mẽ tới toàn
bộ nền kinh tế quốc dân, quyết định tốc độ và tính chất của tăng trởng kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trờng thờng thực hiện tự do hoá lãi suất vì nh trên đã nêu,
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
18
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
19
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
động của ngân hàng, từ đó mà tính bền vững (đặc biệt bền vững về tài chính)
không đảm bảo, nh thế các ngân hàng sẽ không phát triển. Mặt khác, khi phải
cho vay với lãi suất thấp và huy động vốn với mức lãi suất thấp để đảm bảo đủ
bù đắp chi phí, lãi suất thấp sẽ không khuyến khích ngời dân duy trì nguồn vốn
tiết kiệm của mình ở trong nớc, dễ xảy ra tình trạng đô la hoá...và cuối cùng
kìm hãm sự tăng trởng các khoản tiết kiệm và giảm hiệu quả của đầu t.
Kinh nghiệm cho thấy, ở những nớc có hệ thống ngân hàng bị kiểm soát
một cách chủ quan thì lãi suất cho vay thờng tăng, nhng lãi suất tiền gửi lại
không tăng và phần chênh lệch lãi suất đó lại bị ngay tính kém hiệu quả của hệ
thống ngân hàng ngốn hết.
Khi kiểm soát lãi suất quá chặt chẽ, sẽ khuyến khích sự hình thành các
công cụ tài chính và các trung gian tài chính không chính thức phát triển ( và
không bị kiểm soát ) để cạnh tranh với các công cụ tài chính và các trung gian
tài chính chính thức bị kiểm soát, làm cho quá trình phi trung gian tài chính
phát triển và sự trốn tránh các quy chế kiểm soát.
Trong trờng hợp lãi suất tăng ở mức quá cao, tuy tiết kiệm tăng lên, nhng sẽ
làm cho đầu t của nền kinh tế giảm xuống, từ đó tổng cầu sẽ giảm và lạm phát
có thể cũng sẽ giảm, nhng đi liền với nó là công ăn việc làm sẽ giảm theo, thu
nhập cũng sẽ giảm, bởi vì: khi lãi suất tăng, ngân hàng sẽ làm tăng chi phí và
giảm nhu cầu trong nớc trực tiếp, dòng vốn bên ngoài đổ vào nhiều do kết quả
việc tăng lãi suất, từ đó làm tăng giá đồng tiền trong nớc. Bởi vậy, làm giảm
nhu cầu bên ngoài đối với hàng hoá và dịch vụ trong nớc và các khu vực bị ảnh
hởng tiêu cực của chính sách này tăng lên.
Ngợc lại, khi duy trì lãi suất cho vay quá thấp sẽ làm giảm lãi suất tiền gửi
(trong đó có tiết kiệm), từ đó không khuyến khích tiết kiệm và kéo theo hạn
chế nguồn tài trợ lớn. Nh vậy, dẫn đến sai lầm trong phân bổ nguồn lực, đồng
thời tạo nhu cầu lớn về tín dụng, có thể có nhiều dự án không hiệu quả đợc lựa
hợp, đặc biệt là tỷ lệ vốn tự có trên tài sản có của các ngân hàng thấp.
- Hệ thống thông tin, công tác kế toán không rõ ràng và không thích hợp,
kiểm toán không đợc quan tâm đúng mức, việc kiểm soát nội bộ của các tổ
chức tài chính không đầy đủ, bởi vậy không đáp ứng đợc yêu cầu công tác
tranh tra, giám sát và kiểm soát nội bộ.
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
21
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
- Sự đánh giá không đầy đủ của công chúng với rủi ro của các loại hình
tổ chức tài chính khác nhau.
- Khuôn khổ luật pháp không đầy đủ và không đủ sức cỡng chế việc thực
hiện các hợp đồng hay trong việc thực hiện luật phá sản, từ đó ảnh hởng đến
việc chấp hành kỷ luật tài chính của các bên vay.
- Thị trờng tài chính cha phát triển và cha đa dạng hoá, từ đó dẫn đến sự
tập trung rủi ro quá mức vào hệ thống ngân hàng. Mặt khác, làm cho ngời vay
chịu những rủi ro lãi suất quá mức, hoặc hạn chế họ tiếp cận với các nguồn vốn
của các tổ chức tài chính chính thức.
- Hệ thống thanh toán ở trình độ thấp làm cho công tác quản lý tiền tệ
kém hiệu quả, từ đó làm giảm chức năng của lãi suất trong việc phân bổ các
nguồn lực.
Điều cần nhấn mạnh là qua kinh nghiệm quốc tế đã chứng minh rằng ở
những nớc chú trọng đến môi trờng tài chính và thể chế hoạt động của hệ thống
ngân hàng kể từ khi bắt đầu quá trình cải cách sẽ đề ra bớc đi thích hợp trong
cải cách lãi suất và đã đạt đợc các kết quả tốt hơn và tiến xa hơn rất nhiều so
với các nớc không làm nh vậy.
Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới, trong vòng hai thập kỷ vừa qua
các nhà kinh tế đã nhấn mạnh vai trò sống còn của lãi suất trong quá trình phát
triển. Kinh nghiệm của các nớc đang phát triển cho thấy rằng chính sách này
nên đánh giá lại trong bối cảnh các chơng trình điều chỉnh kinh tế.
Chính sách lãi suất là một trong những vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất trong
Những kinh nghiệm ở các nớc đang phát triển trong hai thập kỷ qua cho
thấy, nếu môi trờng kinh tế vĩ mô không ổn định và nếu ngân hàng giám sát
không có hiệu quả, thì việc tự do hóa lãi suất nên tiến hành từ từ trong khi theo
đuổi chính sách kinh tế vĩ mô thận trọng, chính phủ cần giám sát chặt chẽ hệ
thống ngân hàng để giảm thiểu sự mạo hiểm. ở những nớc nào điều kiện kinh
tế vĩ mô ổn định hơn và công cuộc cải cách đợc triển khai dần dần thì không
cần tái áp dụng chế độ kiểm soát lãi suất.
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
23
Khoá luận tốt nghiệp Nguyễn Hơng Giang - T 2 - K37E
Tự do hoá lãi suất cần đợc thực hiện song song với cải cách kinh tế vĩ mô,
nếu không sẽ xảy ra hiện tợng các dòng vốn không ổn định, tỷ lệ lãi suất cao,
các công ty lâm vào cảnh khó khăn.
ở đây chúng ta tiếp tục xem xét và rút kinh nghiệm từ việc tiến hành tự do
hoá lãi suất của hai nớc Nhật Bản và Đài Loan vì Nhật Bản là cờng quốc công
nghiệp lớn nhất, cờng quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, còn Đài Loan là
con rồng Châu á , hệ thống ngân hàng của hai nớc đều rất phát triển. Hơn nữa
Nhật Bản và Đài Loan đều thuộc Châu á, có nhiều điểm tơng đồng về kinh tế,
tài chính với Việt Nam. Do đó, có thể đem đến những bài học kinh nghiệm quí
báu hơn cho chúng ta.
b. Nhật Bản
Bắt đầu bằng một khoản thu nhập bình quân đầu ngời rất thấp sau chiến
tranh thế giới II, nền kinh tế Nhật Bản đã tăng trởng rất nhanh từ đầu những
năm 50 cho đến đầu những năm70. Thực vậy, ngời Nhật Bản thờng giản đơn
coi đó là kỷ nguyên tăng trởng kinh tế nhanh một cách tự hào. Hơn nữa, tỷ lệ
của cung ứng tiền tệ (M
3
) và GDP cao và có xu hớng tăng lên trong thời kỳ này.
Lãi suất thực bị kiểm soát công khai ở Nhật Bản là tơng đối cao với chuẩn
mực quốc tế. Luồng tín dụng do chính phủ chỉ định trực tiếp tơng đối nhỏ bé và
hình thức lãi suất u đãi cho xuất khẩu những các lãi suất này nói chung là dơng
và trên thực tế là đủ lớn, cha bao giờ sự cam kết này đối với ngời xuất khẩu đủ
lớn để giảm sự kiểm soát của Ngân hàng Trung ơng đối với cơ số tiền. Các
doanh nghiệp có thể tuỳ ý từ chối tín dụng ngân hàng. Sự cạnh tranh giữa các
ngân hàng đã bị hạn chế chỉ vì chúng là ngân hàng quốc doanh. Và kết quả là,
sự bảo hiểm đối với khoản tiền gửi đợc ngầm tạo ra. Nhằm tiếp tục ngăn cản
các ngân hàng thực hiện việc cho vay quá mạo hiểm và ganh đua các khoản
tiền gửi, chính phủ đã đặt ra trần lãi suất vay và cho vay chuẩn (dù là cao).
Điều này dẫn đến chỗ có một loạt ngời đi vay không vay đợc đủ tiền; khi đó họ
có thể đấu thầu để giành khoản tài chính với lãi suất 25% hoặc cao hơn nữa
trong thị trờng có điều tiết mà không làm suy yếu đến sự an toàn của hệ thống
tiền tệ.
Trờng Đại học Ngoại thơng Hà Nội
25