Phần mở đầu
1. Đặt vấn đề:
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi hoạt động theo
cơ chế thị trờng, có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nớc. Với chính sách mở cửa có
nguyên tắc và đờng lối phát triển nền kinh tế xã hội theo cấu trúc 5 thành
phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển, đã và đang tạo ra những điều kiện tiền
đề rất cơ bản cho quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế đất nớc.
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 (1989) đến nay,trong hơn một
thập kỷ thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế đất nớc, nền kinh tế nớc ta đã đạt
đợc nhiều thành quả rất quan trọng và cơ bản. Tuy nhiên, nghiêm túc mà nói
thành quả đạt đợc cha thật vững chắc. Hoạt động của nền kinh tế đã bắt đầu
bộc lộ một số vấn đề khá cơ bản cần bàn, nghiên cứu và tìm hớng khắc phục.
Nổi bật là vấn đề quản lý kinh tế. Quá trình đổi mới nền kinh tế về thực chất
là quá trình thay đổi cơ chế quản lý. Là quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản
lý hành chính, kế hoạch hóa tập trung và bao cấp sang hoạt động theo cơ chế
quản lý kinh tế hiện đại, vận động theo cơ chế thị trờng, lấy thị trờng làm tiêu
điểm cho các hoạt động của các doanh nghiệp. Việc chậm đa công nghệ
quản lý kinh tế hiện đại vào hoạt động thực tiễn chính là nguyên nhân cơ
bản làm giảm thành quả đạt đợc trong thời gian qua, làm chậm quá trình
đổi mới và phát triến nền kinh tế đất nớc.
Hoạt động của ngành Ngân hàng Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh
chung của nền kinh tế, hiện cũng đang vấp phải những vấn đề bức xúc của
quá trình phát triển mà nguyên nhân của nó cũng không ngoài vấn đề chậm
đa công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt động kinh doanh của
mình. Điều đó đã hạn chế phần lớn đến kết quả đạt đợc cũng nh định hớng
hoạt động trong thời gian tới của toàn ngành Ngân hàng Việt Nam.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, viết gọn là
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (viết tắt là NHNOVN) là một ngân hàng
lớn trong hệ thống ngân hàng quốc doanh ở Việt Nam, cũng nằm trong tình
trạng chung trên đây của toàn ngành ngân hàng và của nền kinh tế đất nớc.
Nh vậy, công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại thực sự là một vấn đề
vật chất tự nhiên cần và có trong quá trình nghiên cứu.
Chỉ nghiên cứu trong phạm vi nội dung công nghệ quản lý,còn
các kỹ thuật chi tiết của công nghệ quản lý không thuộc phạm
vi nghiên cứu của đề tài.
4. Phơng pháp nghiên cứu:
Duy vật biện chứng.
Duy vật lịch sử.
T duy logic.
Phân tích thống kê.
Phân tích kinh tế.
Xử lý hệ thống...
5. Đề và kết cấu của bài viết:
Đề của bài viết:
"Vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại vào hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay".
Kết cấu của bài viết bao gồm:
Phần mở đầu.
Ba chơng:
Chơng 1: Quản lý kinh tế và công nghệ quản lý
kinh tế hiện đại
Chơng 2: Nội dung Công nghệ quản lý ngân hàng
hiện đại
Chơng 3: Vận dụng công nghệ quản lý ngân hàng
hiện đại vào hoạt động kinh doanh của
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay.
Phần kết luận.
Chơng 1
Quản lý kinh tế và công nghệ quản lý kinh tế hiện đại
Sơ đồ chung của quản lý
(Theo quan điểm điều khiển học)
Chủ thể quản lý phát ra mệnh lệnh quản lý dới dạng thông tin, đối t-
ợng quản lý tiếp nhận thông tin và có thông tin phản hồi cho chủ thể quản lý
biết đợc các yêu cầu cần thiết từ việc xử lý thông tin đến để có thông tin phản
hồi.
Từ các đặc trng cơ bản của quản lý nêu trên,có rất nhiều cách khác
nhau định nghĩa về quản lý kinh tế. Tuy nhiên, định nghĩa sau đây thờng đợc
dùng hơn cả: Quản lý kinh tế là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hớng
đích của chủ thể quản lý lên đối tợng quản lý nhằm duy trì sự phát triển
Thông tin
Thông tin
bên ngoài
Chủ thể quản
lý
Đối tượng quản
lý
Thông tin phản hồi
của hệ thống kinh tế. Sử dụng một cách hiệu quả nhất các tiềm năng cơ sở
vật chất kỹ thuật, cơ hội của hệ thống kinh tế để đa hệ thống đến mục tiêu
dự định một cách tốt nhất trong sự biến động không ngừng của môi trờng
hoạt động kinh tế.
Quản lý diễn ra trớc hết nh là một quá trình tác động qua lại giữa chủ
thể quản lý và đối tợng quản lý. Tuy nhiên,việc phân biệt giữa chủ thể quản lý
và đối tợng quản lý chỉ là ớc lệ vì nhiều khi chủ thể quản lý lại trở thành đối t-
ợng quản lý và ngợc lại. Muốn xác định chủ thể quản lý phải đặt chúng vào
từng môi trờng hoàn cảnh cụ thể. Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối t-
ợng quản lý đợc xây dựng theo qui tắc mối liên hệ qua lại. Điều đó có nghĩa
là: Đối tợng quản lý không chỉ chịu sự tác động có hớng đích của chủ thể
quản lý, mà nó còn vận động và phát triển theo những qui tắc vốn có của nó
quan khác nh về tâm sinh lý con ngời, các qui luật xã hội, qui luật tự nhiên...
Cả về công nghệ, kỹ thuật và môi trờng.
Tính khoa học của quản lý còn đợc hỗ trợ bởi các kỹ thuật và công
nghệ hiện đại mà con ngời sáng tạo và phát minh ra. Từ các công cụ này, chủ
thể quản lý có thể khẳng định các quyết định quản lý của mình là có căn cứ
khoa học.
Tính nghệ thuật của quản lý có thể tìm đợc những nguyên tắc
chung,thờng là qui ớc và mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa. Nghệ thuật trong
quản lý kinh tế là "biết làm thế nào" để đạt đợc một kết quả cụ thể. Nghệ
thuật quản lý kinh tế liên quan mật thiết đến các quyết định riêng có của chủ
thể quản lý nhằm đạt đợc hiệu quả cao nhất trong cùng một điều kiện nhất
định có nhiều giải pháp đúc kết và rút ra từ qui luật. Chẳng hạn trong quản lý
kinh tế, việc khuyến khích bằng lợi ích vật chất là quan trọng (điều này có
tính qui luật). Tuy nhiên, chủ thể quản lý vận dụng yếu tố này vào thời điểm
nào, mức độ bao nhiêu và bằng phơng pháp nào để tạo nên kết quả mong
muốn lại mang tính nghệ thuật. Có thể thởng trực tiếp cho nhân viên
100.000đ, hay nhân dịp sinh nhật của ngời nhân viên "tặng" cho họ số tiền đ-
ợc thể hiện bằng một kỷ vật nào đó thì ngời nhân viên rất khó quên và năng
lực làm việc, mức độ trung thành với doanh nghiệp đạt đợc nhiều khi vợt xa
so với mức độ thởng trực tiếp.
Điều cần nhấn mạnh là để có tính nghệ thuật trong quản lý kinh tế thì
chủ thể quản lý phải nắm bắt đợc tính khoa học của quản lý, cũng có nghĩa là
tính nghệ thuật của quản lý đợc bắt nguồn từ tính khoa học của quản lý nh-
ng nó "linh diệu" hơn, nâng quản lý lên thành mức "nghệ thuật", "nghệ thuật"
đến mức nhiều ngời đều biết nhng chỉ có chủ thể quản lý đó ra đợc quyết định
hành động nh vậy mà thôi. Có những qui luật nhiều ngời cùng nhận thấy, nh-
ng nghệ thuật quản lý đòi hỏi chủ thể quản lý cần phải nắm bắt đợc những qui
luật "ẩn" không chỉ thuộc qui luật kinh tế và vận dụng chúng cho linh hoạt.
Nh ví dụ trên, việc tặng quà sinh nhật của chủ thể quản lý không phải là hành
động ngẫu nhiên mà có chủ định,ngoài việc vận dụng qui luật trong kinh tế
những nguồn lợi to lớn về vật chất. Từ đổi mới kỹ thuật đến đổi mới công nghệ
và việc áp dụng những thành tựu mới của kỹ thuật cho phép đạt đợc hiệu quả
kinh tế cao hơn.Nhng điều đó có đợc trớc hết nhờ đổi mới công nghệ quản lý,
chính công nghệ quản lý tạo điều kiện cho việc ứng dụng khoa học kỹ thuật mới
vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Nếu không có tầm nhìn, tính khoa học sáng
tạo trong quản lý thì kỹ thuật mới, công nghệ mới chỉ là sự phát triển trên giấy
mà thôi. Công nghệ quản lý kinh tế thực sự là điều kiện mở đờng cho khoa
học kỹ thuật phát triển, trở thành hiện thực trong các quyết định về kinh tế và
là nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của các doanh nghiệp.
Nhân tố thứ ba: Nhân tố về chính trị, xã hội.
Quản lý làm cho sản xuất kinh doanh phát triển, làm cho đời sống của
nhân dân đợc cải thiện và nâng cao. Mà "dân giầu, nớc mạnh" đó là qui luật
tất yếu, những tiêu cực trong cuộc sống đợc giảm thấp, xã hội ngày một văn
minh hơn. Chính quản lý là tiền đề cho việc thúc đẩy xã hội tiến lên.
Quản lý có vai trò to lớn đối với sự phát triển nền kinh tế, nhng vai trò
của nó trong các doanh nghiệp còn quan trọng hơn nhiều. Ngời ta không thể
xác định chính xác đợc mức độ tác động cụ thể của quản lý đối với thành
công hay thất bại của doanh nghiệp. Nhiều ngời cho rằng không cần xác định
mức độ cụ thể vì không có quản lý hoặc quản lý yếu kém thì sự tồn tại của
doanh nghiệp đó xét theo giác độ thời gian chỉ còn là tạm thời mà thôi. Vậy
quản lý có vai trò nh thế nào trong sự tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp ?
Thứ nhất: Quản lý vạch ra định hớng kinh doanh.
Lĩnh vực kinh doanh cũng giống nh ngời đi đờng, nếu không đi đúng
hớng thì không tới đích. Quản lý có vai trò to lớn đối với các doanh nghiệp tr-
ớc hết ở chỗ xác định hớng đi cho doanh nghiệp. Việc xác định hớng kinh
doanh đúng giúp cho doanh nghiệp gặp thuận lợi ngay từ bớc khởi đầu.Hơn
thế, làm cho doanh nghiệp tự tin hơn trong bớc đờng kinh doanh của mình.
Thứ hai: Quản lý tạo ra sự tiết kiện chi phí, tăng lợi nhuận.
Là nhà kinh doanh ai cũng muốn tiết kiệm để tạo ra nhiều lợi nhuận
áp dụng. Phải đến cuối thế kỷ 16, khi các hoạt động thơng mại, đặc biệt ở khu
vực Địa Trung Hải đợc mở rộng thì sản xuất kinh doanh mới bắt đầu phát
triển,cùng với nó là sự đòi hỏi phải nâng cao trình độ quản lý sản xuất kinh
doanh và việc nghiên cứu về quản lý mới đợc đặt ra.
Nhng phải tới thế kỷ 18 với nhiều phát minh và sáng chế mới đợc con
ngời tạo ra trong lĩnh vực công nghiệp, nhất là việc phát minh ra động cơ hơi
nớc đa đến cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất ở Châu Âu. Nền
sản xuất kinh doanh đợc phát triển cả về phạm vi và qui mô hoạt động thì vấn
đề về quản lý mới thực sự là một đòi hỏi của thực tiễn.
Tuy nhiên phải tới những năm cuối của thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19,các t
tởng về quản lý mới đợc sắp xếp thành hệ thống và đợc nghiên cứu một cách
khoa học. Và phải tới cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 mới bắt đầu xuất hiện các
trờng phái nghiên cứu về khoa học quản lý.
Trong thế kỷ 20 là giai đoạn bùng nổ các trờng phái nghiên cứu về
quản lý. Có rất nhiều trờng phái khác nhau nhng tựu trung có một số các tr-
ờng phái chủ yếu sau:
- Trờng phái cổ điển.
- Trờng phái tác phong.
- Trờng phái hệ thống.
- Trờng phái định lợng.
- Các trờng phái quản lý hiện đại.
Từ cuối thế kỷ 18 đến nay khoa học quản lý đã trải qua 3 giai đoạn
chủ yếu sau:
Giai đoạn 1: Cuối thế kỷ 18 đến những năm 30 thế kỷ XX.
Phơng pháp: đơn lẻ, bất kể miễn đạt lợi nhuận.
Chủ yếu nghiên cứu có tính kinh nghiệm
cha thực sự khoa học.
Cơ sở kinh tế: xuất phát là nền tảng cá nhân về sở hữu
kinh tế.
Giai đoạn 2: Từ năm 1930 - 1960.
Trờng phái này bao gồm 2 nhánh chính :
Nhánh thứ nhất : Học thuyết quản lý theo khoa học do Frederick
Winslow Taylor (Mỹ) chủ xớng
Nhánh thứ hai : Học thuyết quản lý tổng quát hay học thuyết tổ
chức
cổ điển do Henri Fayol (châu Âu) đề xớng
Với Học thuyết quản lý theo khoa học, họ đa ra 4 nguyên tắc cơ bản
để quản lý theo khoa học đó là:
Thứ nhất: Khám phá những nhân tố cơ bản tạo ra tác dụng trong quá
trình sản xuất kinh doanh. Điều này khác với trớc đó chủ
yếu dùng chủ nghĩa kinh nghiệm.
Thứ hai: Xác định chức năng định hớng kinh doanh là của chủ thể
quản lý. Việc này khác với trớc là hoạt động của đơn vị kinh
tế hoàn toàn tự phát.
Thứ ba: Đào tạo và chọn lựa lao động một cách tỷ mỷ, khuyến khích
hợp tác trong lao động thay vì mặc ai lấy làm.
Thứ t : Phân chia rõ chức năng quản lý và chức năng thừa hành trong
sản xuất.
Học thuyết này đã đóng góp đáng kể cho khoa học quản lý, nó đa việc
nghiên cứu quản lý trở thành một đối tợng của nghiên cứu khoa học. Đồng
thời vạch ra đợc những vấn đề cơ bản trong quản lý nh phân chia đợc chủ thể
quản lý và đối tợng quản lý, chỉ rõ quản lý là sự phối kết hợp một cách tốt
nhất các nhân tố trong sản xuất.
Tuy nhiên học thuyết này cũng có những nhợc điểm sau:
Thứ nhất: Thiếu tính nhân bản, coi lao động (ngời lao động) chỉ là
một bộ phận trong guồng máy sản xuất và tìm mọi cách tận
dụng nó (tăng cờng bóc lột ngời thợ).
Thứ hai: Việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ cụ thể.
Thứ ba: Nghiên cứu ở tầm chi tiết, cơ sở.
Cùng trong học thuyết này còn có Hersry L Gantt (1861 - 1919) đóng
tựa nh hệ thống các kinh nghiệm đợc đúng kết ra từ cuộc sống, nhng nó lại là
nhng tiền đề cần thiết để chúng ta tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng trong thực
tiễn sau này.
Tr ờng phái tác phong:
Trờng phái này cho rằng quản lý là công việc tiến hành thông qua con
ngời. Ngoài ra trờng phái này cũng nhấn mạnh: Năng suất lao động không
chỉ do yếu tố vật chất quyết định mà còn do nhu cầu tâm lý xã hội quyết định.
Các đại diện chủ yếu của trờng phái này là: Lislian Gilbrreth, Hugo
Munsterberg, Mary Parker Follef.
Trờng phái tác phong cho rằng doanh nghiệp cũng là một hệ thống xã
hội.Việc động viên, khuyến khích trong sản xuất cho ngời lao động không chỉ
bằng yếu tố vật chất mà còn phải hài hòa với yếu tố tinh thần của ngời lao
động. Họ cũng chỉ ra rằng tập thể có ảnh hởng lớn đến cá nhân cả về tác
phong, kỷ luật, tâm lý... Ngời lãnh đạo ngoài nhiệm vụ tổ chức sản xuất phải
quan tâm cả đến vấn đề tâm lý của ngời lao động.
Tuy nhiên trờng phái tác phong chỉ nh một trờng phái bổ xung cho tr-
ờng phái cổ điển và vai trò của con ngời đợc trờng phái nêu ra mới dừng lại ở
sự khép kín trong quan hệ nội bộ cha tính đến sự tác động của môi trờng xã
hội.
Tr ờng phái hệ thống:
Phơng pháp hệ thống đã đợc nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin sử
dụng từ lâu. Chính C. Mác đã sử dụng phơng pháp này để nghiên cứu hệ
thống các quan hệ kinh tế t bản trong bộ T bản nổi tiếng của ông. Từ giữa
thập kỷ 30 ữ 40 của thế kỷ XX,các nhà nghiên cứu khoa học phơng Tây đánh
giá rất cao giá trị của phơng pháp này. Trong lĩnh vực khoa học quản lý, trờng
phái hệ thống tìm cách phân tích tổ chức quản lý thông qua phơng pháp tiếp
cận hệ thống. Hệ thống đợc hiểu là tập hợp các thành phần trực thuộc và tơng
tác với nhau để tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Thay vì việc nghiên cứu
riêng lẻ các thành phần khác nhau của tổ chức, ngời quản lý cần xem xét toàn
bộ tổ chức nh một chỉnh thể nằm trong một môi trờng cụ thể với các nhân tố
ng dựa vào các công cụ toán học để lợng hóa các yếu tố sản xuất làm căn cứ
ra các quyết định mà thôi.
Trờng phái định lợng không chú trọng đến yếu tố con ngời trong tổ
chức quản lý. Và kỹ thuật để sử dụng nhiều khi quá phức tạp vợt ra ngoài khả
năng quản lý trong việc đa ra các quyết định nhanh.
Tóm lại, các trờng phái về khoa học quản lý nêu trên đều đang đợc các
công ty ngày nay sử dụng trong quản lý, nó đợc phối hợp một cách hài hòa
trong hoạt động quản lý của các doanh nghiệp. Tuỳ từng hoàn cảnh mà doanh
nghiệp sử dụng phơng pháp này hay phơng pháp khác,nhng đều không thoát
ly đợc các kỹ thuật mà các lý luận gia của các trờng phái quản lý tiền hiện đại
nêu ra. Tuy nhiên tất cả các trờng phái này vẫn có một điểm chung là xem xét
hoạt động của doanh nghiệp dựa vào hoạt động của chính nó, cha thực sự coi
hoạt động của doanh nghiệp chịu ảnh hởng lớn bởi sự điều tiết tích cực của
môi trờng,đặc biệt là các doanh nghiệp đang hoạt động trong cơ chế thị trờng
với nhiều tác động ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp.
1.2.2.2. Một số trờng phái khoa học quản lý hiện đại
Có nhiều trờng phái nghiên cứu khoa học quản lý khác nhau. Mỗi tr-
ờng phải đều có những u nhợc điểm riêng có của mình và đều có những đóng
góp đáng kể vào sự phát triển của khoa học quản lý nói riêng và với sự phát
triển của nhân loại nói chung. Chính những khiếm khuyết của các trờng phái
trớc đây sẽ đợc bù đắp ở trong lý thuyết của các trờng phái quản lý kinh tế
hiện đại. Và ngợc lại, tất cả các cống hiến của các trờng phái đó đều đợc lu lại
nh là một bộ phận cấu thành đơng nhiên của khoa học quản lý hiện đại. Chính
vì vậy, các trờng phái khoa học quản lý kinh tế hiện đại đợc đề cập đến sau
đây chính là sự kế thừa và phát triển khoa học quản lý của nhân loại.
Tr ờng phái - Tiến trình quản lý:
Trờng phái này đợc xây dựng từ 1960, với tác giả chính là Harold
Koontz và các cộng sự đã tổng hợp các lý thuyết quản lý của các trờng phái
trớc đó, đặc biệt dựa vào nền tảng lý thuyết của Henri Fayol (trờng phái cổ
điển - hành chính tổng quát). Nếu các trờng phái tiền hiện đại cũng đã nêu ra
luận điển xác đáng và thiết thực cho việc vận dụng chúng vào hoạt động thực
tế.Công nghệ quản lý kinh tế hiện đại và công nghệ quản lý ngân hàng hiện
đại đợc nghiên cứu dới đây cũng dựa vào những tinh thần cơ bản của các tr-
ờng phái khoa học quản lý hiện đại để thể hiện nội dung cần nghiên
cứu.Những tinh thần cơ bản của các trờng phái khoa học quản lý hiện đại cần
đợc lu ý đó là :
Thứ nhất : Cần xem xét quản lý trong một thể thống nhất của các yếu
tố quản lý.
Thứ hai : Cần phải xem xét quản lý trong trạng thái động và biến đổi
không ngừng.
Thứ ba : Quản lý hiệu quả phải căn cứ vào từng tình huống cụ thể
trong thực tế.
Thứ t : Cần quan tâm đến yếu tố con ngời trong thực tế quản lý.
Thứ năm : Đặc biệt cần quan tâm đến tác động của môi trờng, xã hội
đến hoạt động quản lý.
1.3. công nghệ quản lý kinh tế hiện đại [9,21],
[39,80-82],[48,12-29]
1.3.1.Khái niệm công nghệ quản lý kinh tế hiên đại.
Trong quản lý kinh tế có nhiều vấn đề nh : về nội dung đợc hiểu là
làm gì ? Về tổ chức: trả lời câu hỏi: ai làm, làm theo trình tự nào ? Về công
nghệ đợc hiểu là: làm nh thế nào ? [9,21]Trong các vấn đề đó công nghệ
quản lý là vấn đề quan trọng nhất vì thông qua việc nghiên cứu công nghệ
sẽ cho ta thấy đợc tinh thần cơ bản của khoa học quản lý.Thông qua công
nghệ quản lý kinh tế mà chức năng, nhiệm vụ của quản lý đợc thực hiện trong
thực tiễn cuộc sống.
Công nghệ nói chung đợc hiểu là cách thức để con ngời tạo ra sản
phẩm phục vụ cho lợi ích của mình. Trong quản lý kinh tế,công nghệ quản lý
kinh tế là cách thức mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động vào đối tợng
quản lý trong quá trình sản xuất kinh doanh cuả các doanh nghiệp để thực
hiện các mục tiêu kinh tế đợc đề ra.
rằng: Hãy tổ chức quản lý các hoạt động của doanh nghiệp để cung cấp
những sản phẩm, dịch vụ mà thị trờng cần chứ không phải bán những sản
phẩm mà mình đang có. Giai đoạn này, công nghệ quản lý đã thay đổi về
chất trong nội dung của nó. Tổng hợp lại công nghệ quản lý kinh tế hiện đại
chính là cách thức quản lý về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
từ việc phát hiện và biến sức mua của ngời tiêu dùng thành nhu cầu thực
sự về một loại sản phẩm hàng hóa naò đó,nhằm mục đích cao nhất là làm
cho doanh nghiệp đạt đợc lợi nhuận tối đa. Hay nói một cách khác, công
nghệ quản lý kinh tế hiện đại là quá trình quản lý mang tính xã hội nhờ đó
mà doanh nghiệp có đợc những gì họ cần và mong muốn đạt đợc thông qua
việc tạo ra, chào bán và thực hiện sản phẩm trên thơng trờng. Nh vậy, công
nghệ quản lý kinh tế hiện đại vừa là phơng hớng, công cụ, vừa là nguyện
vọng của các doanh nghiệp, cho nên chúng là mối quan tâm lớn của các nhà
quản lý doanh nghiệp.
Thực ra công nghệ quản lý kinh tế hiện đại rất gần gũi với các hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp, bất cứ một doanh nghiệp nào đều đã
và đang nhận thức rõ việc tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh sao cho thật
ăn khớp giữa các khâu, điều phối sản xuất sao cho có kế hoạch, quảng cáo để
tiêu thụ tốt sản phẩm... Tất cả những vấn đề đó đều nằm trong nội dung của
công nghệ quản lý kinh tế hiện đại,chỉ có khác là các doanh nghiệp mới chỉ
sử dụng một phần, không đầy đủ các nội dung của chúng. Hơn nữa cha coi
hoạt động của công nghệ quản lý kinh tế hiện đại là hoạt động tổng hợp,
xuyên suốt mọi hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt cha thấy đợc chính thị
trờng mới là tâm điểm của hoạt động quản lý của doanh nghiệp.Công nghệ
quản lý kinh tế hiện đại cần đợc xem nh một thứ "triết lý" kinh doanh của
doanh nghiệp chứ không nên xem nó nh là một chức năng độc lập, riêng biệt.
1.3.2. Những nhận thức cơ bản về công nghệ quản lý
kinh tế hiện đại.
Thứ nhất: Cần phải xử lý công việc theo cách nhìn của công
nghệ quản lý kinh tế hiện đại.