Lời nói đầu
Cùng với sự phát triển của Thế giới ,Việt nam đã và đang từng bước đi
lên và đạt được những thành tựu to lớn đặc biệt là lĩnh vực kinh tế .Với chủ trương
của Đảng và nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng của XHCN sau hơn 10 năm đổi mới các hoạt động kinh tế đã trở nên khá sôi
động và tạo nên sắc thái mới cho nên kinh tế .Cùng với đà thắng lợi của đất nước
trong công cuộc đổi mới nền kinh tế ngành ngân hàng trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ và mục tiêu đổi mới của mình đã tiến được những bước quan trọng trong
hệ thống các công cụ quản lý lãi suất được coi là nhạy cảm nhất nó thực sự là vấn
đề nóng bỏng nhất thu hút được nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội .
Lãi suất với tư cách là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ được
nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu và từ lâu được nhiều quốc gia trên thế giới
sử dụng như một công cụ hữu hiệu điều tiết nền kinh tế .Đặc biệt là trong cơ ché thị
trường lãi suất trở thành công cụ đắc lực để NHTW ( ngân hàng trung ương ) thực
thi chính sách tièen tệ nhằm điều tiết các mối quan hệ giữa tiếtkiệm và đầu tư lạm
phát và tăng trưởng kinh tế ... Trong từng thời kỳ nhất định cho nên việc thi hành
một chính sách lãi suất thích hợp là vô cùng phức tạp mà vai trò đó thuộc ngân hàng
nhà nước .Để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế thị trường các
nghiệp vụ ngân hàng đã không ngừng đổi mới và phát triển để phù hợp với điều
kiện thực tiễn của đất nước . Với trọng trách to lớn đó NHTW đã thường xuyên điều
chỉnh lãi suất cho phù hợp phát triển khả năng linh hoạt của các Ngân hàng thương
mại .Năm 1997 luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức ra đời có hiệu lực từ
1/10/1998 đã đánh dấu một giai đoạn mới về hoạt động Ngân hàng ở Việt nam trong
luật Ngân hàng điều 18 ghi “ Ngân hàng Nhà nước xác định và công bố lãi suất tái
cấp cơ bản , lãi suất tái cấp vốn “
Đồng thời còn giải thích tài khoản 12 điều 9 “Lãi suất cơ bản là lãi suất do
Ngân hàng Trung ương công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ổn định lãi suất
kinh doanh “ Điều này là thể hiện rất rõ hoặc chất lãi suất của Ngân hàng Trung
ương trong nền kinh tế thị trường .
Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự của lãi suất trên cơ sở những
kiến thức đã học cùng với những kiến thức trong khuân khổ tài liệu cho phép , em
1- Khái niệm lãi suất
Lãi suất kà giá cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định
mà người sử dụng trả cho nguươì sở hữu nó.
Lãi suất phải được trả bởi lẽ người đi vay đã sử dụng vốn của người cho vay
phục vụ nhu cầu sinh lợi trong sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu tiêu dùng của mình
. việc người cho vay chuển quyền sử dụng vốn cho người khác có nghĩa là anh đã hy
sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình . Đánh đổi cho sự chuyển quyền
đó là quền người cho vay được trả lãi suất .
II- PHÂN LOẠI LÃI SUẤT
1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng lãi suất0 được chia thành 3 loại .
Lãi suất ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn
Trang 3
Lãi suất trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụg trung hạn
Lãi suất tín dụng dài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn
2. Căn cứ vào các loại hình tín dụng (phân loại theo chủ thể tham gia quan hệ tín
dụng).
Lãi suất được chia thành các loại sau:
- Lãi suất tín dụng thương mại áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới
hình thức mua ban chịu hàng hoá .
Nó được tính như sau:
Lãi suất
TDTM
=
Giá cả hàng hoá
bán chịu --
Giá cả hàng hoá
bán trả tiền ngay
Giá cả hàng hoá bán chịu
* 100%
Lãi suất tiền giửi : là lãi suất trả cho các khoản tiền giửi .Nó được áp dụng để
đúng theo đúng những thay đổi dự tính về lạm phát
+ Lãi suất thực tính sau : là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng theo
những thay đổi trên thực tế về lạm phát
Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
Hoặc Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát
4. Căn cứ vào mức ổn định của lãi suất .
Lãi suất được chia làm hai loại .
- Lãi suất ổn định : là lãi suất áp dụng cố định trong suất thời hạn vay . Nó có ưu
điểm : Người gửi tiền và vay tiền biết trước số tiền lãi được trả và phải trả .Bên
cạnh đó nó có nhược điểm bị ràng buộc vào một lãi suất nhất định trong một thời
hạn nào đó dù cho các loại lãi suất khác thay đổi như thế nào .
- Lãi suất thả nổi : Là lãi suất có thể thay đổi lên xuống và có thể báo trước hoặc
không báo trước.Lãi suất thả nổi có lợi cho cả hai bên khi nhận và trả tiền đều tính
theo một lãi suất chung là lãi suất hiện tại
5 . Căn cứ vào mức ổn đinh của lãi suất
Lãi suất được chia làm 2 loại lãi đơn và lãi kép
- Lãi suất đơn là lãi suất tính một lần trên số vốn gốc cho suất kỳ hạn vay
Công thức tính : I = C
o
. i . n
( trong đó I số tiền lãi , C
o
vốn gốc , i là lãi suất , n số kỳ )
Trang 5
Trong đó thời kỳ gửi vốn phải tương đương với thời kỳ của lãi suất
- Lãi suất kép : là mức lãi suất có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tứ thu được trong
thời hạn sử dụng tiền vay
Công thức : C = C
o
( 1=i)
dùng và tiết kiệm . Nhưng nâng lãi suất huy động đến mức nào thì phải cân nhắc
thận trọng để đảm bảo sự phát triển hài hoà của nền kinh tế quốc dân .
ỞViệt nam trong công cuộc đổi mới nền kinh tế vốn dang là vấn đề then chốt
.Muấn huy động được vốn phải có biện pháp gọi vốn .Vấn đề là cần duy trì một
mức lãi suất như thế nào để huy động tối đa vốn nhàn rỗi trong xã hội
2. Lãi suất ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chính sách lãi suất là một bộ phận trong chính sách tiền tệ của Nhà nước
nhằm điều tiết lưu thông tiền tệ kích thích điều tiết và hướng hoạt động sản xuất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế
- Lãi suất phải trả cho khoản vay là khoản chi phí của doanh nghiệp .Do
vậy ,lãi suất sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh . Ngược lại, lãi suất cho vay cao sẽ thu hẹp đâu tư
của các doanh nghiệp .
- Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả . những
ưu đãi về lãi suất về điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán là công cụ
của Nhà nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các
nghành các sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế
3. Lãi suất là công cụ điều tiết vĩ mô
Lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay vì vậy sự biến động của lãi
suất có tác động đến đầu tư đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mục tiêu của nền
kinh tế vĩ mô biểu hiện trong các trường hợp :
- Lãi suất thấp → kích thích đầu tư , kích thích tiêu dùng → tăng tổng cầu
→ sản lượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm→ nội tệ có xu hướng giảm
giá so với ngoại tệ .
- Lãi suất cao→ hạn chế đầu tư , hạn chế tiêu dùng→ giảm tổng cầu →
sản lượng giảm →giảm giá→ thất nghiệp tăng→ nội tệ có xu hướng tăng
giá so với ngoại tệ
Như vậy, bằng cách tăng lãi suất Ngân hàng Nhà nước có thể làm giảm khả
năng cho vay của Ngân hàng Thương mại do đó thực hiện chính sách tiền tệ thắt
chặt giảm bớt khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh và chi
kiến lấy lãi suất tái cấp vốn làm lãi suất cơ bản . Nếu như hiểu được lãi suất cơ bản
là lãi suất tái cấp vốn thì điều này trái với luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ
chức tín dụng ban hành năm 1997 trong luật này đã xác định rõ lãi suất cơ bản là lãi
suất tái cấp vốn .Trên thực tế chúng ta thấy bản chất của 2 loại lãi suất này cũng
không giống nhau lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Trung ương công bố là lãi
suất làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng xác định mức lãi suất kinh doanh còn lãi
suất tái cấp vốn là lãi suất mà Ngân hàng Trung ương quy định đối với các khoản
vay cuối cùng trong các hình thức sau :
Ngân hàng Trung ương cho vay chiết khấu và tái chiết khấu
Ngân hàng Trung ương cho vay đối với giá trị hợp đồng tín dụng chưa đến
hạn cuả Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng Trung ương cho vay cầm cố bất động sản và thế chấp các chứng
từ khác có giá trị của Ngân hàng Thương mại
Bằng các hình thức tái cấp vốn này Ngân hàng Nhà nước sử dụng linh hoạt
để thắt chặt hay lới lỏng tín dụng phương tiện thanh toán trong điều kiện cụ thể có
khi lãi suất tái cấp vốn có thể thấp hơn hay bằng lãi suất cho vay của Ngân hàng
Thương mại nhưng thực tế tình hình lãi suất hiện nay ở Việt Nam chưa thể sử dụng
lãi suất tái cấp vốn để điều hành chính sách tiền tệ được .
Quan điểm 2
Vẫn duy trì trần lãi suất như hiện nay và xem nó là lãi suất cơ bản trong quá
trình xác định lãi suất có thể cộng thêm mức biên độ giao động của lãi suất cơ
bản .Quan điểm này có sự bất hợp lý đó là khi công thêm vào trần lãi suất sẽ làm lãi
suất cao hơn trần lãi suất điều này không phù hợp với điều kiện kinh tế của Việt
Nam
Quan điểm 3
Lãi suất cơ bản là loại lãi suất xác định dựa vào lãi suất đầu vào và công bố
giới hạn tối đa để các Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng xác định mức
lãi suất kinh doanh với quan điểm này lãi suất cơ bản tạo ra khả năng chủ động giảm
lãi suất của các Ngân hàng Thương mại đạc biệt là lãi suất cho vay .Cũng do đó các
Trang 9
và lãi suất thoả thuận
Cùng một thời điểm Ngân hàng Nhà nước cho phép các tổ chức tín dụng cho
vay theo mức lãi suất thoả thuận mà Ngân hàng Thương mại thoả thuận với khách
hàng . Mức lãi suất thoả thuận có thể vượt mức cho vay hay lãi suất tiền gửi cụ thể
mà Ngân hàng đã công bố .Ở giai đoạn này vẫn có sự phân biệt giữa lãi suất cho vay
đối với doanh nghiệp quốc doanh và doanh nghiệp tư nhân .Bên cạnh đó với cơ chế
cho vay theo lãi suất thoả thuận Ngân hàng Thương mại có nơi cho vay cao hơn
mức lãi suất 22% năm và có nơi cho vay lên đến 30 %đến 35% chính vì vậy mà
trong thời kỳ này các Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng khác đạt được
mức lãi suất cho vay và tiền gửi với chênh lệch từ 0,75% - 1% / tháng , đó là con số
mơ ước của các Ngân hàng Thương mại hiện nay . Với thực tế này đem lại cho các
Ngân hàng Thương mại các tổ chức tín dụng lợi nhuận rất cao trong khi đó các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn về tài chính .Đứng trước tình
hình này tháng 10 / 1995 sau kỳ họp VIII khoá IX đã thông qua bỏ thuế doanh thu
của các Ngân hàng Thương mại và các tổ chức tín dụng yêu cầu các đơn vị kinh
doanh tiền tệ phải giảm chi phí hoạt điộng để giảm lãi suất cho vay của mình . Ngân
hàng Trung ương đã khống chế lãi suất cho vay và tiền gửi là 0,35% / tháng đó là
tiền đề để hình thành chính sách lãi suất mới thực hiện khống chế trần lãi suất cho
vay như hiện nay đối với các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác .
1.3 Giai đoạn thực hiện trần lãi suất cho vay
Trước tình hình trên Ngân hàng Trung ương đã ban hành chính sách lãi suất
theo trần lãi suất với mục đích khống chế lãi suất cho vay tối đa của các Ngân hàng
thương mại với chính sách này Ngân hàng Nhà nước đã quy định các mức trần cho
vay cũng khác nhau trần lãi suất cho vay ngắn hạn (áp dụng đối khu vực thành thị )
trần lãi suất cho vay nông thôn cao hơn trần lãi suất trung dày hạn tràn lãi suất cho
của các tổ chức tín dụng là cao nhất .
Trong năm 1999, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện 5 lần hạ trần lãi suất cho
vay đối với các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác đây là những
biện pháp thiét yếu để khắc phục những dư âm của cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ khu vực Châu Á năm 1998 tăng 5,8 % /năm ứng với lạm phát 9,2% năm so với
phát triển của hệ thống tài chính Việt Nam .
Trang 12
Hai là: Chế độ kiểm soát lãi suất cứng nhắc đã dần dần được nới lỏng ,các
mức lãi suất quy định cụ thể theo mục đích và nghành kinh tế đã được xoá bỏ để
dành quyền tự chủ cho các Ngân hàng thương mại trong một mức độ linh hoạt nhất
định .
Ba là :Thực tế đang đặt ra trừng nào có được loại hình lãi suất chủ đạo ( lãi
suất cơ bản ) đồng thời xây dựng được cơ chế bảo đảm mức độ bao quát và cách
thức can thiệp linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước đối với quan hệ cung cầu tiền tệ
trong nền kinh tế thì lúc đó mới kiểm soát tốt lượng tiền trong lưu thông .
Thực tế cho thấy còn nhiều tồn tại xoay quanh chính sách lãi suất hiện
hành .Dù có biện minh cho việc kiểm soát lãi suất trong những điều kiện nhất định
vì mục tiêu của chính sách tiền tệ thì vẫn không tránh khỏi những thiệt hại xét trên
tổng thể nền kinh tế . Điều này khuyến khích sự vay mượn ,chiếm dụng vốn ,chốn
tránh kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước làm méo mó chế độ lãi suất quy định
.Mức độ toàn dụng vốn trong nền kinh tế thấp đầu cơ thực lợi và cạnh tranh bất
tương xứng về lãi suất còn phổ biến vốn bị sử dụng lãng phí kém hiệu quả .Chuyển
sang lãi suất trần là một bước tiến độ sang lãi suất vẫn chưa phản ảnh đúng quan hệ
cung cầu vốn của nền kinh tế .
Một số chính sách lãi suất cơ bản hiện nay của Việt nam .
2.1. Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước hiện nay
Theo điều 9 khoản 12 của luật Ngân hàng Nhà nước Việt N am , lãi suất cơ
bản được định nghĩa như sau : “ Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước
công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh “.
Tuy nhiên cho đến nay , Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa xác định và công bố
lãi suất cơ bản cho các tổ chức tín dụng mà vẫn sử dụng công cụ trần lãi suất cho
vay để khống chế lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng .
Như vậy, trần lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố đã bao hàm trong đó
lãi suất cơ bản vì sự thực Ngân hàng Nhà nước đã giúp các tổ chức tín dụng vốn của
mình . Điều này có nghĩa là lãi suất cho vay của các Ngân hàng thương mại vẫn bị
hàng mất khả năng
thanh toán
+
Dự phòng rủi ro kỳ
hạn khi khách hàng
vay dài hạn
Hiện nay ở Việt nam chưa có nghiên cứu nào về mức dự phòng rủi ro khách
hàng mất khả năng thanh toán và rủi ro về kỳ hạn cũng như những rủi ro khác để
dựa vào các yếu tố quyết định lãi suất cho vay .
Ta cũng có thể tính lãi suất cở sở của các Ngân hàng thương mại theo công
thức sau :
Lãi
suất =
Lãi suất
huy +
Chi phí kinh
doanh ( tiền +
Lợi nhuận
trước thuế
Trang 14
cơ cở động lương, khấu hao) kì vọng
Với lãi suất huy động
Với lãi suất huy động 12 tháng là 0,6% tháng (7,2% năm ); chi phí kinh doanh là
0,2%tháng hay 3%/ năm , lợi nhuận kỳ vọng là 17%/năm .(số hiệu 1995 -> 1999 ta có lãi
suất chính sách =7,25% + 3%+1% = 11,27%/năm hay0,93%/ tháng
Mục đích kinh doanh là lợi nhuận , các Ngân hàng Trung ương quốc doanh
cần ổn định lãi suất cho vay cao hơn lãi suất cơ sở nhằm bù đắp những rủ ro xẩy ra
trong quá trình cho vay và đầu tư, nhưng với mức trầnls cho vay hiện nay 10%/ năm
0,8%/ tháng sẽ lam kết quả kinh doanh của các Ngân hàng thương mại quốc doanh
khi muốn đạt được chỉ tiêu lợi nhuận tạm chí chỉ đạt mức hoà vốn hoặt bị lỗ nếu
lớn và kinh doanh có hiệu quả ,các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ổn định để cạnh
tranh và thu hút khách hàng các ngân hàng thương mại đều giảm mức lãi suất cho
vay từ 10-15% so với mức trần lãi suất quy định nói trên , chỉ cho vay với lãi suất
1,0 - 1,05% tháng thậm chí hạ tới 0,95% / tháng hoặc 0,90%/ tháng của loại vay
ngắn hạn
Xuất phát từ chỗ tất cả các Ngân hàng đều chủ động hạ lãi suất từ nhiều
tháng trước đây lên lãi suất Ngân hàng được điều chỉnh giảm xuống nhưng các
Ngân hàng không có cơ sở gì để tiếp tục hạ thêm lãi suất tiền gửi để người gửi tiền
không bị ảnh hưởng gì khi Ngân hàng điều chỉnh lãi suất . Quyết định điều chỉnh
trần lãi suất của Ngân hàng Nhà nước được thực hiện từ ngày 1 /6 /1999 trong đó
trần lãi suất cho vay là 1,15% /tháng kể cả ngắn hạn trung hạn và giài hạn lãi suất
này tăng 0,05% so mức 1,2% /tháng của loại vay ngắn hạn theo chỉ thị 01/CT –
NHNN và tương đương với mức 1,15% /tháng của loại trung và dài hạn mà dư nợ
cho vay ngắn hạn chiếm tới 60 % tổng mức nợ .Do đó so với mức quy địng thức
hiện từ ngày 1/6/1999 thực chất còn tăng hơn chứ không phải là giảm .
Như chúng ta đã biết mục tiêu chính của quỹ tín dụng nhân dân cơ sở là
mang ính chất tương trợ về vốn giữa các thành viên song với lãi suất quá cao so với
mức lãi suất chính thức các Ngân hàng thì sẽ mất đi tính chất tương trợ . Hầu hết
những người tìm đến vay vốn quỹ tín dụng cơ sở là người nghèo hay có hoàn cảnh
Trang 16