THỰC TRẠNG chính sách phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay - Pdf 70



85
xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên; phấn đấu xây dựng một nền GDĐH
có chất lượng giảng dạy và nghiên cứu theo chuẩn quốc tế phải trở thành những
nhiệm vụ thường xuyên của trường đại học.
- Nhà nước cần thiết phải có hệ thống chính sách đồng bộ đối với đội ngũ
trí thức để ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám.
1.4.2.2. Những kinh nghiệm về thực hiện qúa trình xây dựng và hoàn thiện
chính sách
- Làm tốt công tác dự báo đánh giá tác động kinh tế-xã hội của chính sách
GDĐH sẽ được ban hành; quy định đầy đủ và chặt chẽ các yêu cầu về giai đoạn
nghiên cứu chính sách trước khi lập chương trình xây dựng chính sách; đồng
thời, thực hiện pháp lý hóa công tác dự báo đánh giá tác động của chinh sách.
- Nghiên cứu chính sách trên cả 2 lĩnh vực lý thuyết và thực tế; tiến hành
các nghiên cứu so giữa sách chính sách phát triển GDĐH trong nước với chính
sách phát triển GDĐH của nước ngoài để có có những lựa chọn phù hợp và tối
ưu với điều kiện thực tiễn, nhu cầu phát triển của GDĐH Việt Nam trong quá
trình phát triển và hội nhập.
- Đảm bảo tính nhất quán và ổn định tương đối của chính sách; chính sách
phát triển GDĐH phải phù hợp với định hướng chiến lược và chiến lược phát
triển kinh tế-xã hội của đất nước.
- Chính sách không vì quyền lợi cục bộ của một nhóm lợi ích, một ngành
hoặc một số ít người, mà phải phù hợp với quyền lợi chung và thúc đẩy sự phát
triển chung của xã hội. Chính sách phải bảo đảm tính minh bạch và có môi 86
trường thực hiện bình đẳng cho mọi đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của
chính sách.
- Đảm bảo tính công khai của chính sách. Quá trình hình thành chính sách

giải quyết; sự linh hoạt trong các hình thức biểu hiện văn bản chính sách; phạm
vi liên đới của các tổ chức và cá nhân chịu trách nhiệm; tính kế thừa của chính
sách; số lượng ý kiến ủng hộ thông qua chính sách, và kết quả thụ hưởng chính
sách của các nhóm lợi ích khác nhau.
Sản phẩm GDĐH trong nền KTTT được coi là một loại sản phẩm dịch
vụ. Chủ đề về một số chính sách cải cách tầm quốc gia tập trung vào thị trường
GDĐH mang tính cạnh tranh đang được thảo luận. Việc theo đuổi một thị trường
GDĐH sẽ được kiểm chứng thông qua xem xét các biện pháp cải cách về chính
sách thị trường đang được triển khai tại nhiều quốc gia. Các nhà nghiên cứu
chính sách phát triển GDĐH ở hầu hết các nước trên thế giới đã và đang cố gắng
điều hòa suy nghĩ chung về vấn đề trên. Họ không chỉ dừng lại ở góc độ nghiên
cứu hỗ trợ cho việc chuyển đổi chính sách, mà còn đi sâu vào tìm kiếm và nhận
thức tốt hơn về cả hai mặt tác động tích cực và tiêu cực của nó.
Giữa chính sách của chính phủ và cách hành xử của xã hội có mối quan hệ
mật thiết với nhau. Thị trường cạnh tranh sẽ mất đi hiệu quả nếu không có sự hỗ
trợ về chính sách từ chính phủ. Trong trường hợp này, GDĐH không chỉ ở riêng 88
quốc gia nào được coi như một sản phẩm hàng hóa của tư nhân. Vì vậy, chính
phủ luôn luôn giữ vai trò kiểm soát độc quyền. Cho đến nay, tại nhiều quốc gia
GDĐH vẫn được quan niệm là một loại sản phẩm công (nhà nước).
Chính sách phát triển GDĐH đóng một vai trò quan trọng trong sự phát
triển của một quốc gia và khu vực trong thời đại nền kinh tế dựa vào tri thức hơn
bất kỳ giai đoạn nào trong lịch sử. Tuy nhiên, không có quốc gia nào có tất cả
các câu trả lời cho những vấn đề phức tạp đối mặt với những thách thức mới của
thế kỷ 21, đặc biệt là trong hệ thống GDĐH. Để tự thích nghi với tình thế, nhiều
nước, kể cả các nước phát triển và đang phát triển đã cải thiện hệ thống giáo dục
đại học trong những năm 90 của thế kỷ 20. Hoàn cảnh quốc gia- về mặt thực tiễn
kinh tế, xã hội, chính trị và giáo dục cụ thể cũng quá phức tạp để có thể đơn giản

từ cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, quan liêu và bao cấp sang nền kinh tế nhiều
thành phần sở hữu, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng XHCN đã tạo ra bước ngoặt cho GDĐH Việt Nam. Năm 1987
Bộ Giáo dục và Đào tạo (lúc đó là Bộ Đại học-Trung học Chuyên nghiệp và Dạy
nghề) lần đầu tiên tổ chức Hội nghị hiệu trưởng các trường đại học tại thành phố
Nha Trang tỉnh Khánh Hoà triển khai 3 chương trình hành động của ngành, khởi
động một quá trình lâu dài nhằm đổi mới nền đại học Việt Nam cho phù hợp với
những điều kiện kinh tế và xã hội trong nền kinh tế chuyển đổi. Từ đây, GDĐH
bắt đầu một giai đoạn phát triển theo hướng linh hoạt, đa dạng đáp ứng nhiều loại
nhu cầu xã hội trong nền kinh tế nhiều thành phần và huy động nhiều kênh tài
chính đầu tư. Trường đại học, cao đẳng bắt đầu được mở rộng tuyển sinh đến các
đối tượng sinh viên có đủ kiến thức và đủ khả năng trả học phí. Sứ mạng GDĐH,
vai trò nhà nước và các mối quan hệ, nội dung quản lý của Bộ, ngành chủ quản
với trường đại học được đặt ra để xác định lại. Trường đại học được chấp nhận 90
giao các dự án ủy quyền và được phép mở rộng hợp tác với các lĩnh vực khác
trong xã hội và trong cả nền kinh tế. Tất cả những điều này ngụ ý nói đến vai trò
ngày càng mạnh hơn của các lực lượng thị trường trong GDĐH. Tại hội nghị
này, đồng chí Võ Nguyên Giáp, ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó
Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng; khẳng định
khi khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khi công nghệ đóng vai
trò quan trọng đối với sự đổi mới của nền sản xuất, và khi giáo dục được coi là
nhân tố rất cơ bản làm thay đổi lực lượng sản xuất thì, cải cách nền GDĐH và
gia tăng hiệu suất phục vụ của nó, không còn là nhiệm vụ tự thân của ngành đại
học, mà chuyển thành yêu cầu khách quan của kinh tế-xã hội. Trong bối cảnh ấy,
nền GDĐH cần được xem xét lại trên nhiều bình diện. Nền GDĐH ngày càng trở
thành nền giáo dục của số đông dân cư, không dành riêng cho một bộ phận nhỏ
trong nhân dân, cũng không thuộc quyền sở hữu của một thành phần kinh tế nào.

quy mô GDĐH cần mở rộng một cách hợp lý nhằm nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay
nghề, có năng lực thực hành. Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14 tháng 1 năm
1993 Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, Nghị quyết
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII , Nghị quyết
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX và X tiếp tục khẳng định giáo dục và
đào tạo là quốc sách hàng đầu; giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công
nghệ là nhân tố quyết định tǎng trưởng kinh tế và phát triển xã hội; đầu tư cho 92
giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là cần có các giải
pháp mạnh mẽ để phát triển GDĐH và việc phát triển GDĐH phải coi trọng cả
ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả; thực hiện đa
dạng hoá các loại hình đào tạo; mở rộng các hình thức đào tạo không tập trung,
đào tạo từ xa, từng bước hiện đại hóa, chuẩn hóa và xã hội hóa GDĐH; chuyển
dần mô hình GDĐH hiện nay sang mô hình mở - mô hình xã hội học tập với hệ
thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, thực hiện sự liên thông giữa các bậc học,
các hình thức đào tạo, bảo đảm sự công bằng xã hội trong GDĐH.
Dưới ánh sáng của các Nghị quyết sau mỗi lần đại hội, sứ mạng GDĐH,
vai trò nhà nước và các mối quan hệ, nội dung quản lý của Bộ, ngành chủ quản
với trường đại học đã từng bước được điều chỉnh. Từ đây, trường đại học được
chấp nhận giao các dự án ủy quyền và được phép mở rộng hợp tác với các lĩnh
vực khác trong xã hội và trong cả nền kinh tế. Số lượng sinh viên đại học tăng
lên liên tục và cơ cấu ngành nghề đào tạo cũng có những thay đổi nhằm đáp ứng
nguồn nhân lực phù hợp về trình độ và chuyên môn cho nhu cầu phát triển kinh
tế-xã hội và quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước. Kết quả đổi mới
chính sách tăng trưởng trong GDĐH được thể hiện cụ thể trên các khía cạnh sau:
- Tăng să lăăng trăăng ăăi hăc, cao ăăng và mă răng quy mô giáo dăc ăăi
hăc. Số lốống trốống ốối hốc và cao ốống ốã tống tố 95 (nốm 1981) lên 98 (nốm


94
2005, tỷ lệ tăng trưởng quy mô đào tạo trình độ sau đại học bình quân khoảng
18,7%/năm; đào tạo trình độ đại học bình quân khoảng 8,7%/năm và đào tạo
trình độ cao đẳng với xấp xỉ 7,4%/năm. Đối với đào tạo sau đại học, giai đoạn từ
năm 2003 đến năm 2005, các ngành học thuộc nhóm khoa học tự nhiên và công
nghệ thông tin (đối với tiến sỹ), kinh tế-quản trị kinh doanh-quản lý giáo dục
(đối với thạc sỹ) vẫn giữ được tỷ lệ tăng; trong khi các ngành còn lại giữ nguyên
hoặc giảm. Đối với đào tạo đại học và cao đẳng, các ngành học thuộc nhóm
ngành kinh tế-quản trị kinh doanh-tài chính-ngân hàng-công nghệ thông tin và sư
phạm vẫn là những ngành học có quy mô sinh viên tăng cao nhất [43].
2.1.1.2. Những đổi mới về chính sách cơ cấu trong phát triển giáo dục
đại học.
Cụ thể hóa tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991),
Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/1/1993 của Ban chấp hành Trung ương
khóa VII đề ra những chủ trương, chính sách và biện pháp lớn nhằm đổi mới tư
duy, quan điểm và cách làm giáo dục nhằm phù hợp với quá trình hình thành nền
KTTT định hướng XHCN. Một trong những yêu cầu đặt ra là chuyển đổi hệ
thống GDĐH theo hướng linh hoạt hóa, đa dạng hóa về loại hình, phương thức,
chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo để người học có nhiều cơ hội
hơn trong việc lựa chọn phù hợp với nhu cầu và khả năng của họ. Chuyển mục
tiêu GDĐH sang đáp ứng nhu cầu cho cả phát triển kinh tế-xã hội và phát triển
của mỗi cá nhân. Cơ cấu lại hệ thống GDĐH theo yêu cầu của thị trường lao
động mới thông qua việc mở rộng quy mô đào tạo đội ngũ chuyên gia, nhà quản
lý trong nền kinh tế thị trường; ưu tiên đào tạo kỹ sư, các nhà khoa học trong các
ngành, lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ thông tin để chuẩn bị cho quá trình 95
tiếp nhận sự chuyển giao công nghệ và nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế

cơ sở) triển khai đào tạo trên 300 chuyên ngành và 127 cơ sở đào tạo trình độ 96
tiến sĩ (58 trường đại học và 69 viện nghiên cứu; so với năm 1997 tăng thêm 20
cơ sở ), tổ chức thành 976 Hội đồng khoa học thực hiện đào tạo trên 400 chuyên
ngành. Trong 11 năm (từ năm 1996 đến năm 2007) đã tuyển đào tạo 11.498
nghiên cứu sinh và 109.831 học viên cao học ( năm 2007 so với năm 1996, quy
mô tuyển nghiên cứu sinh tăng 33,1% tuyển học viên thạc sĩ tăng 439,2%); đã
cấp 9.636 bằng tiến sỹ và 38 bằng tiến sỹ khoa học. Đào tạo sau đại học trong
nước đã đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nguồn nhân lực trình độ cao
cho đất nước, đặc biệt sau khi hệ thống XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu
có biến động mạnh mẽ về thể chế chính trị.

Hình 1. Tăng trưởng quy mô đào tạo 2001-2005 theo trình độ đào tạo [43]
Thứ hai, về hình thức đào tạo, thay vì chỉ ưu tiên đào tạo hệ chính quy tập
trung như trước đây, từ năm 1986 các trường đã mở rộng đào tạo sang các hình
thức không chính quy (vừa học, vừa làm; liên thông, hoàn chỉnh kiến thức; đào
41,170
33,678
27,581
24,904
20,793
1,056,344
950,369
878,181
822,080
758,237
237,443
217,885

a. Chính quy 74,7 71,1 67,4 37,3 60,2 47,1 64,4
b. Tại chức và
cử tuyển
25,3 28,9 33,6 62,7 39,8 52,9 35.6
Trước năm 1993, đào tạo không chính quy chủ yếu tuyển sinh những
người đã có tối thiểu 2 năm làm việc thực tế. Từ năm 1994, nhờ chính sách mở
cửa, nền kinh tế chuyển mạnh sang cơ chế thị trường, nhu cầu học để tìm việc 98
làm và chuyển đổi nghề nghiệp của người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế
ngày càng tăng nên quy định thời gian công tác đã được bãi bỏ.
Thă ba, vă thăi gian ăào tăo ăăi hăc và cao ăăng, ốã có số linh hoốt hốn.
Thay vì chố có các khóa 3 nốm và tố 4 ốốn 6 nốm nhố trốốc ốây, tố nốm 2005,
thối gian ốào tốo cao ốống tố 1,5 nốm ốốn 3 nốm và thối gian ốào tốo ốối hốc tố
2,5 nốm ốốn 6 nốm phố thuốc vào loối ngành nghố hốc và trình ốố vốn bống mà
ngốối hốc ốốt ốốốc trốốc khi nhốp hốc. ốào tốo tình ốố thốc số và tiốn số chố
ốốốc tiốn hành ố mốt số trốống ốối hốc, hốc viốn và viốn nghiên cốu. Thối gian
ốào tốo thốc số tố 1 ốốn 2 nốm hốc và thối gian ốào tốo tiốn số tố 3 ốốn 4 nốm
hoốc lâu hốn phố thuốc vào loối vốn bống mà ngốối hốc ốốt ốốốc trốốc khi nhốp
hốc và theo quy ốốnh cốa Bố trốống bố giáo dốc và ốào tốo trong các trốống hốp
kéo dài. Nghiên cốu sinh tiốn số ốòi hối phối có các công trình nghiên cốu khoa
hốc.
Thă tă, vă măng lăăi các trăăng ăăi hăc và cao ăăng, ốã ốốốc sốp xốp lối
theo hốống ốa dống hoá các loối hình trốống và gốn kốt chốt chố hốn trốống ốối
hốc vối các viốn nghiên cốu. Các trốống ốối hốc và cao ốống ốốốc bố trí lối cố
vố ốốa lý và cố cốu. Hình thành các trốống ốối hốc ốa ngành, trốống ốối hốc
hoốc cao ốống chuyên ngành và trốống cao ốống cống ốống. Nhiốu trốống ốối
hốc ốa ngành ốốốc thành lốp trên cố số tố chốc lối các trốống ốào tốo chuyên
nhành nhố ốối hốc Quốc gia Hà Nối, ốối hốc Quốc gia thành phố Hố Chí Minh,

3. Các tỉnh miền núi phía Bắc 25 30 39 100
4. Các tỉnh Bắc Trung bộ 13 22 27
5. Các tỉnh Duyên hải miền trung 19 31 41
6. Các Tỉnh Tây Nguyên 4 10 11
7. Các tỉnh ĐBSCL 14 24 36
Thă sáu, vă că cău să hău, ốã có số thay ốối rõ rốt. Mốt trong nhống thay
ốối chính là số mố rống mống lốối các trốống ốối hốc và cao ốống ngoài công
lốp. Nốu nhố trong thối kố trốốc ốối mối, hố thống GDốH ố nốốc ta chố có các
trốống công lốp, thì trong thối kố ốối mối, nhốt là tố nhống nốm 2000 ốốn nay,
bên cốnh các trốống công lốp, hố thống các trốống ốối hốc ngoài công lốp ngày
càng phát triốn. Tố lố các trốống ốối hốc cao ốống ngoài công lốp tống nhanh tố
nốm 2000 ốốn nay. Nốu nhố nốm 2000 cố nốốc có 23 trốống ốối hốc, cao ốống
ngoài công lốp, chiốm khoống 10% số trốống ốối hốc cao ốống trong cố nốốc.
ốốn nốm 2007 số trốống ốối hốc, cao ốống ngoài công lốp ốã tống lên 65 trốống,
chiốm 18%.
Hố thống trốống ốối hốc và cao ốống ngoài công lốp phát triốn song hành
bên cốnh các trốống công lốp ốốt nốn móng cho quá trình ốa dống hóa quyốn số
hốu ốối hốc; góp phốn giốm nhố sốc ép nhu cốu ngân sách nhà nốốc ốốu tố vào
lốnh vốc giáo dốc ốối hốc. Nó ốáp ống mốt cách có hiốu quố và mốm dốo hốn
nhu cốu thay ốối và tống thêm cố hối hốc tốp vối chi phí nhà nốốc rốt ít hoốc
không cốn bố sung chi phí.
Bảng 6. Số lượng trường đại học, cao đẳng ngoài công lập [10, 11 và 28]
Năm 2000 2005 2008
1. Tổng số trường ĐH và CĐ 223 311 369 101

nước thuộc khối XHCN Đông Âu, vì sự hiểu biết lẫn nhau và sự thịnh vượng của các
dân tộc. Phương pháp giảng dạy đại học và kỹ năng truyền thụ kiến thức thuần túy
mang tính lý thuyết, đơn điệu, thiếu tính phản biện và ít được kiểm chứng thực tiễn. Sự
tuyển dụng và cơ hội thăng tiến của cán bộ giảng dạy phụ thuộc vào thâm niên giảng
dạy, vị trí công việc trong kế hoạch nhân sự và mức khống chế của tổng quỹ tiền lương
nên không đủ sức thu hút những người giỏi và thiếu tính khuyến khích cá nhân các
giảng viên nâng cao trình độ kiến thức và chuyên môn. Một lực lượng rất lớn các
chuyên gia giỏi ở các viện nghiên cứu khoa học đứng bên ngoài hoạt động giảng dạy
đại học do hệ thống các viện nghiên cứu tách rời hệ thống các trường đại học.
Trong thời kỳ này, bằng việc thực thi cơ chế cân đối đồng bộ, trong điều
kiện cụ thể của nền kinh tế mệnh lệnh, GDĐH đạt được hiệu quả ngoài khá cao
(hầu như không có người thất nghiệp và tỷ lệ làm việc trái ngành nghề thấp),
nhưng trường đại học thiếu sự liên kết với các viện nghiên cứu quốc gia. Nhà
trường đại học dần dần xa rời các hoạt động nghiên cứu khoa học và lao động
sản xuất. Nội dung, chương trình đào tạo từng bước trở nên bất cập với những
yêu cầu của nền kinh tế-xã hôi thường xuyên thay đổi năng động từng ngày. Các
trường đại học tập trung chủ yếu ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một vài địa
phương như Thái Nguyên, Huế và Đà Nẵng. Tình trạng này dẫn đến việc sinh viên
tốt nghiệp đại học dồn về các thành phố lớn, làm nảy sinh những rối loạn của thị
trường lao động xét trên cả phạm vi quốc gia và vùng lãnh thổ. Sức ép về dư thừa
lao động có trình độ cao ở khu vực thành thị có xu hướng tăng lên là nguyên nhân 103
làm xuất hiện căn bệnh bằng cấp, trong khi nông thôn, miền núi, vùng sâu và hải
đảo vẫn còn thiếu hụt đội ngũ lao động được đào tạo ở bậc đại học để phục vụ cho
sự phát triển kinh tế và xã hội.
Trường đại học thực hiện quy trình đào tạo theo niên chế và không thực
hiện quá trình chuyển đổi, liên thông giữa các trường và giữa các ngành nghề
đào tạo. Tổ chức thi tuyển đầu vào mỗi năm một lần. Chính sách tuyển sinh và

sinh viên được đào tạo theo diện rộng nên một số môn học chung được tổ chức
đào tạo ở các khoa hoặc trường đại cương, nhờ đó tận dụng được các điều kiện
về nhân lực, đặc biệt là khắc phục được tình trạng thiếu thầy giỏi về các môn
khoa học cơ bản và thiếu điều kiện về cơ sở vật chất (nhà học, thí nghiệm, thư
viện…). Cùng với việc phân chia quá trình đào tạo là việc từng bước thiết lập và
hoàn thiện hệ thống tổ chức kiểm định, đánh giá chất lượng đào tạo; xây dựng
quy trình kiểm định chất lượng đào tạo đại học để thúc đẩy các trường phấn đấu
đạt công nhận chất lượng quốc gia cho các loại văn bằng.
Thứ hai, phát triển chương trình đào tạo vừa theo định hướng nghiên cứu,
vừa theo định hướng nghề nghiệp ứng dụng; nâng mặt bằng kiến thức của các
chương trình đại học lên ngang tầm các nước trong khu vực và thế giới; chú trọng
đào tạo đồng thời cả về khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn và khoa
học-công nghệ; thực hiện liên thông giữa các trình độ đào tạo trong toàn hệ thống;
triển khai việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài; tiếp thu có chọn lọc các chương 105
trình đào tạo tiên tiến của thế giới. Cải cách đào tạo sau đại học với việc thiết lập
một cấp học mới (cao học và sau đổi thành master), đồng thời nâng cao chất lượng
đào tạo nghiên cứu sinh để lấy bằng tiến sỹ.
Thứ ba, chuyển cơ chế đánh giá kết quả hoạt động của trường đại học,
cao đẳng từ dựa vào mức độ hoàn thành kế hoạch nhà nước giao hàng năm sang
cơ chế kiểm định và đánh giá dựa trên hệ thống các tiêu chí đảm bảo chất lượng.
Cải cách tuyển sinh đại học theo hướng phân cấp cho các trường ĐH và CĐ chủ
động tuyển theo quy chế chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Xây dựng cơ sở pháp
lý và bồi dưỡng năng lực cán bộ để nhà trường có thể tự chủ về các mặt xây dựng
và thực hiện kế hoạch tuyển sinh, đánh giá và thi cử. Thí sinh được dự thi nhiều
trường và được chọn trường để học.
Thứ tư, tăng thời lượng thực tập và thực hành môn học; thay đổi phương
pháp thi cử và đánh giá. Tổ chức các trung tâm nghiên cứu khoa học-lao động sản

định chương trình khung và chủ trương xây dựng chương trình khung cho hệ
thống GDĐH. Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập các hội đồng tư vấn về chương
trình khung theo khối ngành và ngành đào tạo.
Thứ sáu, triển khai áp dụng rộng rãi trong các trường đại học và cao
đẳng phương pháp giảng dạy tích cực để tăng cường tính chủ động của sinh viên
và sử dụng các phương tiện hiện đại như máy chiếu, máy vi tính, video,
multimedia để tiết kiệm thời gian của hoạt động giảng dạy trên giảng đường. Các
trường coi trọng phương pháp đào tạo bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu; 107
tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực
hành, tham gia nghiên cứu khoa học, thực nghiệm và ứng dụng. Trong nội dung
giảng dạy khắc phục lối truyền thụ một chiều; chú trọng các kiến thức về phương
pháp luận, phương pháp nghiên cứu và kỹ năng thực hành của sinh viên. Cấu
trúc nội dung giảng dạy hướng tới khả năng liên kết giữa các khối kiến thức, khả
năng hỗ trợ của phương tiện kỹ thuật và sử dụng rộng rãi công nghệ thông tin;
kết hợp hợp lý giữa phương pháp diễn giải với phương pháp thảo luận, phương
pháp thực hành thực tập và phương pháp tự nghiên cứu.
Thứ bảy, coi nhiệm vụ phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý đại học
trở thành nhiệm vụ trung tâm, quan trọng nhất của trường đại học, cao đẳng; xây
dựng và hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng và đãi ngộ đội ngũ giảng viên và
cơ chế huy động, khuyến khích cán bộ khoa học ở các viện, trung tâm nghiên cứu,
giáo sư người Việt Nam ở nước ngoài và giáo sư nước ngoài tham gia giảng dạy
được xác định trở thành nhiệm vụ cấp bách. Chú trọng công tác đào tạo lại, bồi
dưỡng cán bộ giảng dạy, đặc biệt đối với cán bộ giảng dạy các ngành kinh tế, quản trị
kinh doanh để có thể đổi mới nội dung giảng dạy cho phù hợp với KTTT. Sắp xếp
cán bộ giảng dạy theo các chức danh giáo sư, phó giáo sư, giảng viên chính và giảng
viên. Số lượng giảng viên cao đẳng, đại học đã tăng từ 18.702 (năm 1986), lên
48.579 (năm 2006).

Tû lÖ gi¶ng viªn tr×nh ®é Sau ®¹i häc109
Trước thời kỳ đổi mới, tất cả các chính sách phát triển GDĐH được pháp lý
hóa dưới dạng các quyết định, chỉ thị, nghị định, thông tư của Chính phủ và các
cơ quan chính phủ. Từ cuối những năm 1990, hệ thống pháp luật trong phát triển
GDĐH đã có nhiều sự thay đổi cả về nội dung và hình thức. Điểm nổi bật là sự
thay đổi về quan niệm của các nhà soạn thảo luật pháp; trong đó nhấn mạnh vào
việc giảm bớt sự ôm đồm của các cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH. Việc
soạn thảo các văn bản dưới luật của các cơ quan công quyền cũng từng bước
giảm bớt sự áp đặt các thủ tục phức tạp và biện pháp trừng phạt khi vi phạm thủ
tục. Quy trình xây dựng văn bản quy phạm đã có sự minh bạch hơn bằng việc
khi ban hành văn bản dưới luật để hướng dẫn thi hành luật, các cơ quan soạn
thảo không tự ý giải thích luật theo lợi ích cục bộ, hoặc đặt ra các thủ tục mà luật
không minh định. Nhờ đó, trong chừng mực nhất định, chính sách phát triển
GDĐH đã tạo được sự cân bằng giữa lợi ích nhà nước và quyền lợi của công
dân.
Hệ thống luật pháp trong phát triển GDĐH đã tạo bối cảnh cho cơ quản lý
nhà nước về GDĐH cấp trung ương tiến hành những cải cách cần thiết, bước đầu
nhằm phân cấp, phân quyền cho các trường đại học, chính quyền địa phương và
các bộ, ngành để mỗi đơn vị, cơ quan có thể phát huy quyền chủ động, sáng tạo
trong quản lý. Nội dung các văn bản quy phạm pháp luật cũng được cải tiến theo
hướng: i). Điều tiết những vấn đề thực tiễn; ii). thể chế hóa và bảo đảm thực hiện
các chính sách theo định hướng và chủ trương của Đảng; iii). có thể tạo ra, phân
bổ, phát huy các nguồn lực nhằm phát triển GDĐH; và iv). tạo nhiều cơ hội cho
việc quản lý và phát triển hệ thống một cách hiệu quả hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status