Vận dụng cơ chế thị trường trong phát triển giáo
dục đại học ở Việt Nam
Hoàng Văn Mạnh Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh tế Chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Dũng
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Hệ thống hóa lý luận chung về cơ chế thị trường (CCTT), những tác động của
nó đến hoạt động giáo dục đại học (GDĐH) và một số vấn đề về GDĐH trong CCTT.
Kinh nghiệm vận dụng CCTT trong phát triển GDĐH ở một số nước điển hình trên thế
giới. Phân tích, đánh giá thực trạng vận dụng CCTT trong GDĐH Việt Nam. Đề xuất
quan điểm cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm vận dụng CCTT trong phát triển
GDĐH Việt Nam.
Keywords: Kinh tế chính trị; Giáo dục đại học; Cơ chế thị trường; Việt Nam Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh thế giới đang thực hiện bước quá độ sang nền kinh tế tri thức thì đội ngũ
lao động có chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ cao về khoa học-công nghệ (KH-CN) giữ vai trò
quyết định. Để có được đội ngũ này, kinh nghiệm của các nước phát triển sớm cho thấy cần phải
có một nền giáo dục phát triển, đặc biệt là giáo dục đại học (GDĐH). Đó là bởi vì GDĐH có vai
trò quyết định đến việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp
phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) ở mọi quốc gia.
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam dần chuyển đổi sang kinh tế thị trường
KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn nhiều bất cập.
Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, mở cửa và hội nhập
quốc tế trên nhiều phương diện. Yêu cầu cấp thiết là phải xây dựng cho được đội ngũ lao động
chất lượng cao, đủ năng lực tham gia trên thị trường lao động quốc tế. Vì thế vận dụng CCTT để
phát triển GDĐH là không thể tránh khỏi. Ở đây vấn đề không còn là tranh luận có nên vận dụng
CCTT phát triển GDĐH hay không. CCTT đã hiện diện trong GDĐH Việt Nam. Vấn đề đặt ra là
nghiên cứu để phát hiện ra những tác động tích cực cũng như tác động tiêu cực của CCTT trong
phát triển GDĐH, tìm kiếm các yếu tố tích cực của CCTT có thể vận dụng cho phát triển GDĐH.
Theo đó việc nghiên cứu đánh giá mang tính toàn diện về vấn đề vận dụng CCTT trong phát
triển GDĐH ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết. Mục tiêu là tìm ra những yếu tố thị trường thúc
đẩy hoặc cản trở sự phát triển GDĐH từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất quan điểm và giải pháp
vận dụng CCTT phát triển GDĐH ở Việt Nam. Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài này mang tính
cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về GDĐH, nhưng nghiên cứu về việc vận dụng CCTT
phát triển GDĐH thì vẫn còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam. Trong những năm gần đây chủ đề
này cũng đã được đề cập nhiều trong các bài phát biểu của những người có liên quan và một số
bài đăng trên các ấn phẩm, Websites, Một số hội thảo, buổi tọa đàm cũng đã được tổ chức với
việc bàn về các khía cạnh khác nhau có liên quan đến giáo dục trong nền KTTT. Ngoài ra cũng
có một số công trình nghiên cứu về GDĐH có liên quan đến KTTT.
- Trong bài viết " Mấy vấn đề về giáo dục trong CCTT định hướng XHCN ở nước ta hiện
nay", Bà Nguyễn Thị Bình- Nguyên Phó Chủ tịch nước đã đề cập đến mối quan hệ giữa giáo dục
với CCTT, giáo dục trong CCTT ở Việt Nam. Tác giả bày tỏ quan điểm về phát triển giáo dục nói
chung trong CCTT định hướng XHCN, trong đó GDĐH chỉ được nêu ra với tư cách là một bộ
phận trong tổng thể nền GD-ĐT.
- Năm 2005, ThS. Nguyễn Đông Hanh công bố Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa
học(NCKH) do Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chương trình giáo dục chủ trì với nhan đề:
“Phạm vi và đặc điểm biểu hiện CCTT trong giáo dục, đào tạo ở Việt Nam”. Đề tài có một phạm
vi nghiên cứu tương đối rộng bao gồm toàn bộ nền GD-ĐT của Việt Nam. Đề tài làm rõ một số
các biểu hiện của CCTT trong các hoạt động GD-ĐT từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp về
GD-ĐT của Việt Nam.
- Năm 2008 GS.TS Mai Ngọc Cường xuất bản cuốn “Tự chủ tài chính ở các trường ĐH
công lập Việt Nam hiện nay ”. Cuốn sách phân tích và làm rõ những vấn đề chung về tự chủ tài
chính của các trường ĐH trong điều kiện KTTT. Đánh giá thực trạng tự chủ tài chính của các
trường ĐH công lập ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra những thành tựu, những hạn chế trong việc tạo
lập các điều kiện thực hiện tự chủ tài chính của các trường ĐH công lập. Trên cơ sở đó, một số
phương hướng và giải pháp cho việc xây dựng các điều kiện tự chủ tài chính trong các trường
ĐH công lập đã được đề xuất và luận giải. Như vậy, ở một phạm vi nào đó, công trình này
nghiên cứu một khía cạnh nhất định của vấn đề vận dụng CCTT trong phát triển GDĐH. Tuy
nhiên, đây chưa phải là công trình nghiên cứu toàn diện về việc vận dụng CCTT trong phát triển
GDĐH ở Việt Nam.
Các công trình, bài viết, hội thảo khoa học nêu trên đã đề cập ở những khía cạnh nhất
định của việc vận dụng CCTT trong phát triển GDĐH ở Việt Nam. Một số nội dung cơ bản được
đề cập như: vấn đề có hay không dịch vụ GDĐH, tính thiết yếu phát triển GDĐH đáp ứng yêu
cầu của KTTT. Ở một số công trình trên, các giải pháp vĩ mô được đưa ra có tính đến sự tác
động của CCTT đến giáo dục nói chung, GDĐH nói riêng nhưng hoặc là chưa hoàn toàn thoát
khỏi tư duy kinh tế bao cấp hoặc mới chỉ đề cập đến một mặt nào đó của vấn đề vận dụng CCTT
phát triển GDĐH. Nói cách khác, những công trình khoa học, bài viết và những cuộc hội thảo
này chưa nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện và trực tiếp về việc chủ động vận dụng CCTT
phát triển GDĐH ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn vận dụng CCTT trong phát triển
GDĐH và thực trạng vận dụng CCTT trong phát triển GDĐH tại Việt Nam. Trên cơ sở đó luận
văn đề xuất quan điểm và luận giải một số giải pháp cơ bản nhằm vận dụng CCTT trong phát
triển GDĐH ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa lý luận chung về CCTT, những tác động của nó đến hoạt động GDĐH và
một số vấn đề về GDĐH trong CCTT
- Kinh nghiệm vận dụng CCTT trong phát triển GDĐH ở một số nước điển hình trên thế
References
1. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (2008), Giáo dục và đào tạo-chìa khóa của sự phát
triển, Nxb Tài chính, Hà Nội.
2. Nguyễn Thanh Bình (2008), Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb ĐH Sư
phạm, Hà Nội.
3. Bộ GD-ĐT (2005), Đề án " Đổi mới GDĐH Việt Nam" (2006-2020), bản slice.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Báo cáo tổng kết năm học 2008–2009 và phương
hướng nhiệm vụ năm học 2009-2020 khối các trường ĐH, CĐ.
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Báo cáo sự phát triển của hệ thống GDĐH, các giải
pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng.
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Giáo trình kinh tế chính trị Mác – Lênin (Dùng cho
các khối ngành Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong các trường ĐH, cao đẳng), Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
7. Bộ GD-ĐT (2010), Đổi mới quản lý hệ thống GDĐH giai đoạn 2010-2012, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn
2009-2014.
9. Nguyễn Bá Cần (2009), Hoàn thiện chính sách phát triển giáo dục đại học Việt Nam
hiện nay, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
10. Nguyễn Hữu Châu (2007), Giáo dục Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
11. Chính phủ nước cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nghị quyết về đổi mới
cơ bản và toàn diện GDĐH Việt Nam giai đoạn 2006-2020.
12. CIEM (2007), Thông tin chuyên đề Phát triển con người và phát triển nguồn nhân
lực.
13. Mai Ngọc Cường (2008), Tự chủ tài chính ở các trường ĐH công lập Việt Nam hiện
nay, Nxb ĐH kinh tế quốc dân, Hà Nội.
14. Nguyễn Tấn Dũng (2006), Gia nhập WTO- cơ hội và thách thức của chúng ta.
15. Phạm Văn Dũng (2008), "Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển thị trường khoa
30. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp
31. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật giáo dục 2005.
32. Trần Anh Tài, Trần Văn Tùng (2009), Liên kết giữa trường ĐH và doanh nghiệp
trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
33. Ngô Ngọc Thắng (2008), " Thực hiện CCTTđịnh hướng xã hội chủ nghĩa trong
GDĐH ở nước ta hiện nay "Tạp chí cộng sản, 16(160), Tr. 20-25.
34. Lâm Quang Thiệp, Phillip G. Altbach, D. Bruce Johnstone (2006) Giáo dục đại học
Hoa Kỳ, Nxb Giáo dục, Hà Nội
35. UNDP (2003), Báo cáo về Phát triển con người
36. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (2010), Báo cáo kết quả giám sát “Việc thực hiện chính
sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và đảm bảo chất lượng đào tạo đối với
giáo dục đại học” của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 7.
37. Đặng Ứng Vận (2006), Phát triển GDĐH Việt Nam trong cơ chế thị trường, Báo cáo
tổng hợp kết quả đề tài NCKH do Văn phòng Hội đồng quốc gia giáo dục chủ trì, Hà
Nội.
38. http://www.itaexpress.com.vn/tin_ita/d_i_s_ng/tin_t_c/giao_d_c _la_d_ ch
_v_m_t_quan_di_m_mang_tinh_th_i_d_i
39. http://www.chungta.com.vn/Desktop.aspx/GiaoDuc/DeXuat-GiaiPhap-GD
/Phat_trien_giao_duc_trong_xu_huong_toan_cau/
40. http://muasam247.vn/Desktop.aspx/TinTuc/Chat_luong_song/iao_duc _la_hang_hoa/
41. http://www.hce.edu.vn/readarticle.php?article_id=104
42. http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=277369& ChannelID=13
43. http://vietsciences.free.fr/vongtaylon/giaoduc/nguyennhanvdgdhiennay. htm
44. http://www.ier.edu.vn/content/view/152/161/
45. http://ciecer. org/joomla/index.php? option=com_content&task =view&i
d=139&Itemid=43
46. http://www.hids.hochiminhcity.gov.vn/Hoithao/VNHOC/TB14/tra.pdf
47. http://lypham.net/joomla/index.php?option=com_content&task=view&id= 148
&Itemid=2
48. http://dt.ussh.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article &id= 222