I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT NGUYN MINH TM GIá TRị ĐÔNG á Và ảNH HƯởNG CủA Nó
ĐốI VớI Sự PHáT TRIểN QUYềN CON NGƯờI
ở VIệT NAM HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Phỏp lut v quyn con ngi
Mó s: Chuyờn ngnh o to thớ im
LUN VN THC S LUT HC Ngi hng dn khoa hc: TS. HONG VN NGHA
MỤC LỤCTrang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ GIÁ TRỊ ĐÔNG Á VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 13
1.1. Khái niệm, nguồn gốc và lịch sử phát triển quyền con người 13
1.1.1. Khái niệm 13
1.1.2. Nguồn gốc và lịch sử phát triển 14
1.2. Các đặc trưng cơ bản của quyền con người 18
1.2.1. Tính phổ quát (universal) 18
1.2.2. Tính không thể chia cắt (indivisible) 19
1.2.3. Tính không thể chuyển nhượng (inalienable) 20
1.2.4. Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent) 20
1.3. Giá trị Đông Á về quyền con người 21
1.3.1. Quan niệm về giá trị Đông Á 21
1.3.2. Một số nội dung cơ bản 26
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ TRỊ ĐÔNG Á ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM 43
2.1. Khái quát cơ sở hình thành những đặc trưng văn hóa Việt Nam 43
2.2. Những ảnh hưởng tích cực của giá trị Đông Á đến sự phát
triển quyền con người ở Việt Nam 45
3.2.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm tăng cường bảo đảm quyền
con người 90
3.2.3. Thành lập cơ quan nhân quyền quốc gia 92
3.2.4. Tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội giám sát việc
thực thi chính sách và pháp luật 93
3.2.5 . Tăng cường hợp tác quốc về vấn đề quyền con người 95
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 1.1:
Khái quát các mốc phát triển của tư tưởng về
quyền con người
17
1
MỞ ĐẦU
rằng, trong nhận thức và việc bảo đảm các quyền con người, phải tính đến ý
nghĩa “(tầm) quan trọng của tính đặc thù về dân tộc, khu vực cũng như bối
cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo”[22, tr.337]. Tuy nhiên, mối
quan hệ giữa tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người cũng đã và
đang là chủ đề gây nhiều tranh cãi giữa các quốc gia phát triển phương Tây
với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước ở châu Á.
Thừa nhận về tính đa dạng văn hóa (sự khác nhau giữa các nền văn
hóa), cũng như quyền con người vừa mang tính phổ phiến, vừa mang tính đặc
thù hiện nay là một điều vô cùng quan trọng. Bởi vì, cho dù hầu hết các quốc
gia và dân tộc đều (thống nhất) đồng ý với nhau về một số quy tắc cơ bản của
quyền con người, nhưng việc giải thích và thực hiện các quy tắc đó lại là khác
nhau, phụ thuộc vào tâm lý, tập quán, tôn giáo và những giá trị trong nền văn
hóa của họ. Do đó, các quyền con người cũng được thực hiện theo những
cách thức khác nhau. Tuy vậy, cũng nên tránh, không được thổi phồng quá
mức, từ chối việc cải thiện tình trạng quyền con người ở mỗi nước chỉ vì cái
cớ văn hóa truyền thống.
Cho nên, nghiên cứu mối quan hệ giữa quyền con người và truyền
thống văn hóa của các quốc gia, dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa. Trước hết
nhằm để so sánh các quan điểm, nhận thức về quyền con người, từ đó có thể
tìm ra được những tiếng nói chung trong khi vẫn giữ gìn và tôn trọng những
sự khác biệt, thúc đẩy trao đổi, giao lưu hiểu biết và học hỏi lẫn nhau trên lĩnh
vực này. Tiếp đó có thể tìm kiếm được những sự bổ sung cho nhận thức về
quyền con người thông qua việc phân tích, đánh giá, nhận ra những điểm
mạnh (những khía cạnh tốt đẹp của văn hóa truyền thống) và điểm yếu trong
3
nền văn hóa của mình, nhằm sửa đổi hoặc loại bỏ những quan điểm còn hạn
chế, mang tính rào cản; tiếp thu và học hỏi những quan điểm mới mang tính
nhân văn, tiến bộ.
Vấn đề quyền con người ở Việt Nam nói chung, quan điểm của Đảng
và thực thi pháp luật, chính sách ở nhiều quốc gia châu Á, bao gồm Trung
Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Indonesia và Việt Nam.
Cho nên, việc nghiên cứu và làm rõ những giá trị văn hóa, pháp luật truyền
thống và ảnh hưởng của nó lên việc bảo đảm, thực hiện các quyền con người
mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
Vì những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Giá trị Đông Á và ảnh
hưởng của nó đối với sự phát triển quyền con người ở Việt Nam hiện nay”
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, nhằm góp phần luận giải và làm rõ về
mối quan hệ giữa văn hóa và pháp luật truyền thống với quyền con người, sự
ảnh hưởng, tác động qua lại giữa chúng, nhằm tìm ra những giải pháp vừa có
thể bảo tồn, phát huy được những điểm tốt của văn hóa truyền thống, vừa có
thể bảo đảm tốt hơn các quyền con người ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Quyền con người nói chung, mối quan hệ giữa quyền con người với
văn hóa nói riêng, đã được nghiên cứu sâu rộng ở các nước trên thế giới từ rất
sớm, nhất là từ giữa và cuối thế kỷ XX trở lại đây. Có thể kể ra một số công
trình, tài liệu sau đây:
- Công trình: Bình luận và khuyến nghị chung của các ủy ban công ước
thuộc Liên hợp quốc về quyền con người, NXB Công an nhân dân (2008) đã
giải thích rõ nội dung của các điều khoản, những quy định quan trọng của
công ước quốc tế về quyền con người theo quan điểm của Liên hợp quốc.
5
- Công trình: Phát triển là quyền tự do (Development as Freedom) của
tác giả Amartya Sen – nhà kinh tế học, triết gia Ấn Độ cho rằng văn hóa vừa
là phương tiện, vừa là mục đích của sự phát triển. Nội dung xuyên suốt của
cuốn sách là mối tương tác giữa phát triển kinh tế và tự do. Các quyền tự do
không chỉ là mục đích cơ bản của sự phát triển, mà còn là một trong số các
phương tiện chủ yếu của sự phát triển.
luận của các học giả nước ngoài, NXB Lao động-xã hội (2012) đã phân tích
một số khía cạnh về dân chủ, phản bác lại những luận điểm truyền thống văn
hóa như “giá trị châu Á” để bảo vệ cho sự chuyên chế, độc tài, hạn chế dân
chủ ở một số xã hội châu Á.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
- Công trình: Các thiết chế hiến định độc lập: Kinh nghiệm quốc tế và
triển vọng ở Việt Nam, NXB ĐH QGHN (2013) của các tác giả Đào Trí Úc,
Nguyễn Thị Mơ, Nguyễn Văn Thuận và Vũ Công Giao đồng chủ biên, trong
đó tập hợp các tham luận và bổ sung một số nghiên cứu có liên quan đến cơ
quan nhân quyền quốc gia, một thiết chế có ý nghĩa tích cực trong việc bảo vệ
và thúc đẩy quyền con người ở các quốc gia.
- Công trình: Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính
trị (ICCPR, 1966) và Giới thiệu công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn
hóa và xã hội (ICESCR, 1966), NXB Hồng Đức (2012) của Trung tâm nghiên
cứu Quyền con người và Quyền công dân – khoa Luật, ĐHQGHN cung cấp
những phân tích sâu sắc về nội hàm của các quyền con người, đồng thời cũng
trình bày sơ lược về quá trình phát triển của các quyền con người.
- Công trình nghiên cứu: Quyền con người ở Trung Quốc và Việt Nam:
Truyền thống, lý luận và thực tiễn, NXB CT-QG (2003) gồm gần 100 bài viết
của các học giả, nhà nghiên cứu và quản lý của hai nước Việt Nam và Trung
7
Quốc về các khía cạnh khác nhau của quyền con người, với một tầm bao quát
rộng, có hệ thống về truyền thống, lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền con
người ở Việt Nam, Trung Quốc.
- Công trình nghiên cứu: Quyền con người: Lý luận và thực tiễn ở Việt
Nam và Ốt-xtrây-lia, NXB Lý luận Chính trị (2004) gồm một số nghiên cứu
của các học giả Việt Nam và Ốt-xtrây-lia, trong đó đã đề cập đến lịch sử và
cơ sở của quyền con người ở Việt Nam và Ốt-xtrây-lia, vai trò của văn hóa
truyền thống, văn hóa và triết học trong việc tạo lập những nền tảng cho việc
với những thông tin ngắn gọn, súc tích bao gồm cả những vấn đề lý luận,
pháp lý về quyền con người ở tầm quốc tế và Việt Nam.
- Một số bài đăng tạp chí về mối liên hệ giữa văn hóa và quyền con
người, tính phổ quát tương đối của quyền con người như: Reinterpreting
East-Asian Culture and Human Rights: The Case of Traditional Vietnamese
Legal Culture, của tác giả Hoàng Văn Nghĩa đăng trên tạp chí quốc tế:
International Studies Journal (ISJ)/No.36/VII (ngày 1/8/2012). Tiếp cận văn
hóa với tính cách là một quyền con người cơ bản, của tác giả Hoàng Văn
Nghĩa đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị tháng 5-2011. Bàn về tính phổ quát
tương đối của quyền con người, của tác giả Hoàng Văn Nghĩa đăng trên Tạp
chí Nghiên cứu Con người, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm
2013. Văn hóa truyền thống Đông Á: Có hay không các giá trị nhân quyền,
của tác giả Vũ Công Giao đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Con người, Viện
Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2007.
Các công trình nghiên cứu trên đây đã luận giải và làm rõ tương đối sâu
rộng về vấn đề quyền con người, cũng như mối quan hệ giữa quyền con người
và văn hóa, giữa các giá trị văn hóa với quan niệm và thực tiễn quyền con
người,… Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu hệ thống hóa
9
và làm rõ giá trị Đông Á với quyền con người, tiếp cận từ góc độ so sánh và
đối chiếu từ luật quốc tế về quyền con người, cũng như từ thực tiễn của sự
phát triển quyền con người ở Việt Nam trong truyền thống và hiện tại.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích của nghiên cứu là góp phần làm rõ những nền tảng đạo
đức, chính trị, lịch sử, truyền thống văn hóa Đông Á ở Việt Nam và luận
giải về mối quan hệ, tác động, ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển
quyền con người ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ
trị học và luật học.
6. Những nét mới của luận văn
Ở Việt Nam hiện mới chỉ có một vài nghiên cứu về cơ chế nhân quyền
ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào đề
cập đến khía cạnh lịch sử, văn hóa của khu vực trong mối quan hệ với quyền
con người. Luận văn này là nghiên cứu đầu tiên phân tích một cách toàn diện
về truyền thống văn hóa – giá trị Đông Á – và quyền con người. Vì vậy, nó
góp phần bổ sung, khỏa lấp khoảng trống trong nghiên cứu về văn hóa, chính
trị và quyền con người ở Việt Nam.
7. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những luận cứ
khoa học về mối quan hệ giữa văn hóa với quyền con người (truyền thống văn
hóa và quyền con người); các quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản và Nhà
nước Việt Nam về quyền con người; các đề xuất, kiến nghị góp phần phát huy
những giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống, đồng thời khắc phục, sửa đổi
những hạn chế, rào cản của văn hóa truyền thống đối với việc tôn trọng, bảo
11
vệ và thực hiện các quyền con người đầy đủ cho tất cả mọi người.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động giảng dạy,
nghiên cứu ở Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội và các cơ sở đào tạo
khác ở Việt Nam. Ngoài ra, luận văn còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo
cho các nghiên cứu, hội thảo, chuyên đề có liên quan đến vấn đề văn hóa và
quyền con người.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết được kết cấu như sau:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quyền con người và giá trị Đông
Á về quyền con người. Chương này cung cấp những nhận thức chung về
quyền con người thông qua việc phân tích khái niệm, nguồn gốc, quá trình
13
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
VÀ GIÁ TRỊ ĐÔNG Á VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1. Khái niệm, nguồn gốc và lịch sử phát triển quyền con người
1.1.1. Khái niệm
Quyền con người là một vấn đề chính trị – pháp luật nhạy cảm, phức
tạp, luôn là một chủ đề gây nhiều tranh cãi về mặt hệ tư tưởng, quan điểm, giá
trị và thực tiễn việc tôn trọng và bảo đảm. Với tính cách là đối tượng nghiên
cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn (bao gồm: luật học, chính
trị học, triết học, văn hóa học, đạo đức, tôn giáo,…), quyền con người là một
phạm trù đa diện, có tính chất liên ngành, đa ngành. Theo một tài liệu thống
kê của Liên hợp quốc vào năm 1994 cho thấy, “có đến gần 50 định nghĩa về
quyền con người đã được công bố”[21, tr.37]. Trong phạm vi của luận văn
được phát triển,… bất kể sự khác nhau về chủng tộc, màu da, tôn giáo, ngôn
ngữ, hay bất kì sự khác biệt nào khác; thứ hai, các quyền này yêu cầu phải
được ghi nhận và đảm bảo bằng các nguyên tắc của pháp luật cả ở phạm vi
quốc gia và quốc tế (các điều ước quốc tế, luật tập quán quốc tế, các nguyên
tắc chung và các nguồn khác của luật quốc tế).
1.1.2. Nguồn gốc và lịch sử phát triển
Nghiên cứu lịch sử tư tưởng về quyền con người trong một số học
thuyết chính trị và pháp lý cơ bản đã chỉ ra cho thấy “quyền con người là một
khái niệm tiến triển theo thời gian”[44]. Sự phát triển của nó gắn liền với “sự
phát triển của các tôn giáo, tư tưởng, tập quán và pháp luật trong các giai
đoạn lịch sử của nhân loại”[25, tr.19].
Trong thời kì cổ đại và trung đại, những giá trị chung, cốt lõi tương ứng
15
với khái niệm về quyền con người hiện đại đã xuất hiện trong các tôn giáo
lớn, một số bộ luật cổ, và trong các tác phẩm của các nhà tư tưởng thời kì đó.
Các giáo lý của Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo đều “chứa đựng nhiều
tư tưởng có ý nghĩa đạo đức về hạnh phúc, bình đẳng và tự do”[24, tr.11-46].
Các bộ luật cổ như: Bộ luật Hammurabi cổ đại, Bộ luật của Cyrus Đại đế, Bộ
luật Ashoka, Luật Manu,… đã phản ánh được “những nhận thức và quan
niệm về công bằng, giá trị của nhân phẩm, và các quyền lợi chính đáng của
con người”[24, tr.47-63]. Các nhà tư tưởng có ảnh hưởng trong thời kì này cả
ở phương Đông và phương Tây như: Khổng Tử, Mặc Tử, Platon, Aristotle,…
trong các tác phẩm của mình đều đã đề cập đến “những nội dung, khía cạnh
của tư tưởng về quyền con người, các giá trị tự do, bình đẳng”[24, tr.64-105].
Đến thời kì khai sáng và cách mạng tư sản, quyền con người đã có
bước phát triển lên tầm cao mới với sự ra đời của những học thuyết, tư tưởng
tiến bộ trong thời kì khai sáng, cùng với những văn kiện pháp lý quan trọng ra
đời trong các cuộc cách mạng tư sản. Nổi bật trong giai đoạn này là tư tưởng
về pháp luật tự nhiên và quyền tự nhiên. Các học giả tiêu biểu như: Thomas
bản của con người. Sự ra đời của Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, Tuyên ngôn
Dân quyền và Nhân quyền của Pháp, Bộ luật về quyền của Mỹ đã thể hiện
quyền con người như một chân lý hiển nhiên, rằng “con người sinh ra tự do
bình đẳng về quyền lợi và luôn được tự do bình đẳng về quyền lợi”[24,
tr.119]. Các văn kiện này cũng đã đưa đến việc ghi nhận và thực hiện nhiều
quyền con người khác nhau trong các lĩnh vực đời sống xã hội như: quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo; tự do báo chí, quyền lập hội và hội họp; quyền bình
đẳng trong xét xử, quyền tự do về thân thể (habeas corpus), quyền sở hữu,…
Từ thế kỷ 19 cho đến nay, với các phong trào đấu tranh nhằm xóa bỏ
chế độ nô lệ và cải thiện điều kiện sống cho người lao động, phong trào đấu
tranh giành độc lập của các nước thuộc địa, sự ra đời của các tổ chức quốc tế
17
như Tổ chức Lao động Quốc tế, và đặc biệt là Liên hợp quốc, đã đánh dấu
một bước phát triển mới của quyền con người. Quyền con người dần trở nên
phổ biến, ngày càng được thừa nhận và tuân thủ bởi các quốc gia trên thế
giới, bất chấp sự khác biệt về chế độ chính trị, hệ tư tưởng, truyền thống văn
hóa, triết lý tôn giáo. Việc Liên hợp quốc xây dựng hàng loạt các văn kiện về
quyền con người (cốt lõi là Bộ luật về Quyền gồm 3 văn kiện: UDHR, ICCPR
và ICESCR) và các cơ chế để đảm bảo thực hiện càng khẳng định các quyền
con người phổ quát cho mọi thành viên của gia đình nhân loại.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của phong trào đấu tranh cho quyền
con người trên phạm vi toàn cầu, những khái niệm và vấn đề khác có liên
quan đến quyền con người cũng đã được đưa ra và phát triển, như: dân chủ,
phát triển bền vững, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, cách tiếp cận dựa
trên quyền, quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền được hưởng
hòa bình,… làm cho “quyền con người trở thành một trong những khái niệm
được đề cập, chấp nhận và cổ vũ một cách rộng khắp, thường xuyên và nồng
nhiệt nhất hiện nay”[21, tr.56].
Bảng dưới đây là khái quát một số sự kiện, văn kiện đánh dấu sự phát
kiện quốc tế về quyền con người, các cơ chế đảm bảo thực hiện;
xây dựng và tổ chức các Hội nghị, Chương trình hành động về
quyền con người
(Nguồn: Bảng này được tổng hợp từ Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
và Tìm hiểu về quyền con người: Tài liệu hướng dẫn về giáo dục quyền con người)1.2. Các đặc trưng cơ bản của quyền con người
Theo pháp luật quốc tế về quyền con người hiện nay, thì quyền con
người có các đặc trưng cơ bản sau đây:
1.2.1. Tính phổ quát (universal)
Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776 có thể được coi là văn kiện chính
19
thức đầu tiên về mặt nhà nước thể hiện (khẳng định) tính phổ quát của các quyền
con người khi khẳng định: “Chúng tôi tin rằng những chân lý này là hiển nhiên,
rằng: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những
quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy có quyền được
sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc”[24, tr.115]. Tiếp đến,
Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người 1948 đã tiếp tục khẳng định lại, rằng:
Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân
phẩm và các quyền…. Mọi người đều được hưởng tất cả các quyền
và tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này mà không có bất kì sự phân
biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo,
quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc
xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay các địa vị khác[22, tr.49].
Như vậy, xuất phát từ sự bình đẳng của mọi người với tư cách con
người, cho nên mọi người phải có các quyền ngang nhau mà không có bất sự
phân biệt vì lý do gì. Tuy nhiên, “sự bình đẳng ở đây không phải là cào bằng
về mức độ hưởng thụ các quyền, mà bình đẳng về tư cách chủ thể và cơ hội