Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
ĐỀ TÀI:
Hoạt động của Ngân hàng Nhà nước
(NHNN) và vai trò của nó đối với sự phát triển
kinh tế.
MỞ ĐẦU
Đối với tất cả các quốc gia, NHTW được sử dụng như một công cụ quan
trọng trong điều chỉnh kinh tế của nhà nước vì NHTW nắm trong tay các mối
liên hệ kinh tế quan trọng nhất. ở Việt Nam, cùng với quá trình chuyển dịch từ
nền kinh tế hàng hóa tập trung sang phát triển nền kinh tế thị trường, trong
những năm qua ngân hàng Việt Nam đã được hình thành và từng bước hoàn
thiện theo xu hướng năng động, tích cực với xu hướng phát triên của nền kinh
tế thế giới. mặc dù đến nay qui mô của thị trường còn rất khiêm tốn nhưng nó
đã đóng vai trò nhất định trong việc kết nối cung cầu về vốn ngắn hạn cho các
NHTM, doanh nghiệp… Đặc biệt, thị trường tiền tệ Việt Nam đã góp phần
tháo gỡ khó khăn cho các ngân hàng trong việc bảo đảm khả năng thanh toán,
an toàn hệ thống cũng như mở hệ thống cho vay.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG
1. Quá trình hình thành Ngân hàng trung ương
1.1. Quá trình hình thành
Ngân hàng trung ương ra đời chính thức đầu tiên ở Châu Âu, vào thế kỷ
17. Khi ấy, tiền mặt lưu hành vẫn chủ yếu dưới dạng vvàng và bạc, tuy rằng,
các tờ cam kết thanh toán (promises to pay) đã được sử dụng rộng rãi như là
những biểu hiện của giá trị ở cả Châu Âu và Châu Á. Ngược lại 500 năm trước
đấy, Tổ chức Hiệp sĩ dòng Đền (Knight Templar) thời Trung Cổ sử dụng một
cơ chế có thể nói là hình mẫu đầu tiên của Ngân hàng trung ương. Các giấy tờ
cam kết thanh toán của họ được chấp nhận rộng rãi, và nhiều người cho rằng
các hoạt động này đặt nền tảng cơ bản cho hệ thống ngân hàng hiện đại. Cùng
thời gian đó, Thành Cát Tư Hãn phát hành tiền giấy ở Trung Hoa, và áp đặt sử
Đầu thế kỉ 20, ở các nước ngân hàng được phép phát hành tiền đều thuộc
sở hữu tư nhân, nhà nước không có điều kiện can thiệp các hoạt động kinh tế
thông qua tác động của tiền tệ. Khủng hoảng kinh tế thế giới 1929- 1933, đã
buộc chính phủ các nước tăng cường hơn nữa can thiệp của mình vào lĩnh vực
kinh tế. Ngoài việc điều tiết nến kinh tế thông qua hệ thống luật pháp, chính
sách thuế,…Nhà nước cần phải nắm lấy phương tiện cơ bản của nền kinh tế thị
trường- tiền tệ góp phần giải quyết những bất ổn trong nền kinh tế. Vì thế, sau
tổng khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, phần lớn các nước đã tiến hành
quốc hữu hóa hoặc thành lập mới nhà nước phát hành thuộc sở hữu nhà nước,
nhằm nắm trọn quyền phát hành tiền tệ nhằm qua đó điều tiết các hoạt động
kinh tế vĩ mô. Canada quốc hữu hóa ngân hàng nhà nước vào năm 1938, Đức
quốc hữu hóa nhà nước phát hành vào năm 1939, Pháp quốc hữu hóa nhà nước
phát hành vào năm 1945, Anh quốc hữu hóa nhà nước vào năm 1946… Từ đó
khái niệm ngân hàng trung ương được sử dụng để thay thế cho ngân hàng phát
hành.
Ngân hàng trung ương không chỉ thực hiện chức năng phát hành tiền tệ
vào lưu thông mà còn thực hiện chức năng quản lí về mặt nhà nước trên lĩnh
vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. Tuy nhiên, ở một số ngân hàng phát hành
không hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của nhà nước, nhưng hoạt động vẫn mang
tính chất của một ngân hàng nhà nước và cơ quan quản lí cao nhất của nó là do
nhà nước bổ nhiệm và miễn nhiệm. Ngân hàng trung ương Nhật Bản là ngân
hàng cổ phần theo luật năm 1942, trong đó cổ phần nhà nước chiếm 55%, cổ
phần thuộc sở hữu tư nhân chiếm 45% nhưng có quan quản trị ngân hàng là hội
đồng chính sách có 7 thành viên do chính phủ bổ nhiệm và miễn nhiệm. Ở Mĩ,
hệ thống dự trữ liên bang là ngân hàng cổ phần tư nhân, nhưng cơ quan lãnh
đạo cao nhất của ngân hàng này là hội đồng thống đốc có bảy thành viên do
Tổng thống đề cử và quốc hội bổ nhiệm…
1.2. Đặc thù của ngân hàng trung ương
Tuy có nhiều tên gọi khác nhau như Ngân hàng trung ương, Ngân hàng
nhà nước, Ngân hàng dự trữ liên bang…, nhưng chúng đều có tính chất chung ,
Ngân hàng trung ương thực hiện chức năng quản lí nhà nước về tiền tệ , tín
dụng ngân hàng. Nhưng nó khác với tính chất quản lí của các cơ quan khác
trong bộ máy nhà nước. Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách quản lí
không chỉ đơn thuần bằng các luật lệ, các biện pháp hành chính, mà còn thông
qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh sinh lời. Ngân hàng trung ương có các
khoản thu nhập từ các tài sản có của mình: chứng khoán chính phủ, cho vay
chiết khấu, kinh doanh trên thị trường ngoại hối…Hai mặt quản lí và kinh
doanh gắn chặt với nhau trong tất cả các hoạt động với ngân hàng trung ương.
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh chỉ là phương tiện để quản lí, tự nó không
phải là mục đích của ngân hàng trung ương. Hầu hết các khoản thu nhập của
ngân hàng trung ương, sau khi trừ đi các chi phí hoạt động, đều phải nộp vào
ngân sách nhà nước.
2. Chức năng của ngân hàng trung ương
2.1 Phát hành giấy bạc ngân sách và điều tiết ngân sách và điều tiết lượng
tiền cung ứng
Đi liền với sự ra đời của ngân hàng Trung ương thì toàn bộ việc phát hành
tiền được tập trung vào ngân hàng trung ương theo chế độ nàh nước độc quyền
phát hành tiền và nó trở thành trung tâm phát hành tiền của cả nước.
Giấy bạc ngân hàng do Ngân hàng trung ương phát hành là phương tiện thanh
toán hợp pháp, làm chức năng phương tiện thanh toán lưu thông tiền tệ của đất
nước. Để cho giá trị của đồng tiền được ổn định , nó đòi hỏi việc phát hành tiền
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phải tuân theo nguyên tắc nghiêm ngặt. Các nguyên tắc cơ bản cho việc phát
hành tiền tệ đặt ra là :
Nguyên tắc phát hành tiền phải có vàng bảo đảm. Nguyên tắc này quy
định việc phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông được đảm bảo bằng trữ
kim hiện hữu nằm trong kho của ngân hàng trung ương. Ngân hàng trung ương
phải đảm bảo việc tự do trao đổi giấy bạc ngân hàng ra vàng theo luật định khi
người có giấy bạc yêu cầu. Tuy nhiên, vận dụng theo nguyên tắc này, mỗi nước
hoảng đồng rúp năm 1998 của chính phủ Nga.
Ở Hoa Kỳ, trái phiếu chính phủ mệnh giá bằng đô la là hình thức đầu tư tiền
an toàn nhất. An toàn hay không có rủi ro là theo nghĩa rủi ro có thể không
được thanh toán. Các rủi ro khác vẫn tồn tại như tỷ giá– là khi đồng nội tệ mất
giá so với các ngoại tệ; rủi ro thứ hai là lạm phát – tiền gốc nhận lại khi đáo
hạn giảm giá trị vì lạm phát vượt quá dự kiến. Nhiều chính phủ phát hành công
trái điều chỉnh theo lạm phát để bảo vệ các nhà đầu tư trước rủi ro lạm phát.
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Trung Quốc nắm giữ nhiều trái phiếu của Mỹ nhất.Theo số liệu của Bộ
Tài chính Mỹ công bố, tính đến cuối tháng 9/2008, Trung Quốc đã sở hữu lượng
trái phiếu của Mỹ với tổng trị giá lên đến 585 tỷ USD.Nhật Bản hiện sở hữu
lượng trái phiếu trị giá 573,2 tỷ USD của Mỹ - đứng thứ hai. Xếp thứ ba là Anh.
Ngân hàng Trung ương cũng có thể tăng lãi suất cơ bản, qua đó làm tăng
lãi suất tiền gửi của các Ngân hàng thương mại, kích thích người dân gửi tiền
vào các ngân hàng, làm giảm lượng tiền trong lưu thông.Một cách nữa, Ngân
hàng Trung Ương có thể tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc (Reserve Requirements) của
các NHTM, từ đó hạn chế và rút bớt một lượng tiền trong lưu thông.
Dự trữ bắt buộc, hay tỷ lệ dự trữ bắt buộc (Reserve Requirements )là một quy
định của ngân hàng trung ương về về tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi mà các
ngân hàng thương mại bắt buộc phải tuân thủ để đảm bảo tính thanh khoản.Các
ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng tỷ lệ dữ trữ bắt buộc nhưng
không được phép giữ tiền mặt ít hơn tỷ lệ này. Nếu thiếu hụt tiền mặt các ngân
hàng thương mại phải vay thêm tiền mặt, thường là từ NHTW để đảm bảo tỷ lệ
dự trữ bắt buộc.
Ở Việt Nam, tính đến tháng 1/2009, tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các NHTM với
tiền gửi VND không kỳ hạn và dưới 12 tháng là 5% và từ 12 tháng trở lên là
1%.
2.2. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng
dụng khác bằng nghiệp vụ chiết khấu hoặc tái chiết khấu.
Ngân hàng trung ương còn là trung tâm thanh toán của hệ thống ngân
hàng và các tổ chức tín dụng . Với trung tâm này, Ngân hàng trung ương thực
hiện các nghiệp vụ thanh toán như:
Thanh toán từng lần: mỗi lần có nhu cầu thanh toán, các ngân hàng gửi
các chứng từ thanh toán đến ngân hàng trung ương, yêu cầu trích tiền từ lãi của
mình để trả cho ngân hàng thụ hưởng.
Thanh toán bù trừ: Ngân hàng trung ương là ngân hàng trung tâm tổ
chức thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng, kể cả kho bạc nhà nước. Việc thanh
toán bù trừ được tiến hành giữa các ngân hàng theo định kì hoặc cuối mỗi ngày
làm việc. Việc thanh toán dựa trên cơ sở trao đổi các chứng từ thanh toán nợ
kèm theo các bảng kê khai thanh toán bù trừ của các ngân hàng hoặc bù trừ
thông qua hệ thống vi tính , số dư cuối cùng được thực hiện bằng cách trích tài
khoản của người phải trả nợ tại ngân hàng trung ương.
2.3. Ngân hàng trung ương là ngân hàng của Nhà nước
Nói chung, Ngân hàng trung ương là ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước ,
được thành lập và hoạt động theo pháp luật. Ngân hàng trung ương vừa thực
hiện chức năng quản lí về mặt nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng ngân
hàng, vừa thực hiện là chức năng của ngân hàng nhà nước. Ở đây, ngân hàng
trung ương thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu sau:
Ngân hàng trung ương là cơ quan quản lí về mặt nhà nước các hoạt
động của hệ thống ngân hàng bằng pháp luật:
- Xem xét, cấp và thu hồi giấy phép hoạt động của các ngân hàng và các
tổ chức tín dụng.
- Kiểm soát tín dụng thông qua cơ chế tái cấp vốn và tỷ lệ dự trữ bắt
buộc.
- Quy định các thể chế nghiệp vụ, các hệ số an toàn trong quá trinh hoạt
động cho các ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
- Thanh tra và kiểm soát toàn bộ các hoạt động của toàn bộ hệ thống
ngân hàng Áp dụng các chế tài trong trường hợp vi phạm pháp luật,
- Chính sách tiền tệ mở rộng, nhằm tăng lượng tiền cung ứng, khuyến
khích mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo việc làm. Trường hợp
này, chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái kinh tế, chống thất
nghiệp.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm lượng tiền cung ứng, hạn chế
đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế. Trường hợp này
chính sách tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát.
Chính sách tiền tệ là hoạt động cơ bản, chủ yếu nhất của ngân hang
trung ương. Có thể coi chính sách tiền tệ là linh hồn, xuyên suốt trong mọi hoạt
động của ngân hàng trung ương. Các hoạt động khác của ngân hàng trung ương
đều nhằm thực thi chính sách tiền tệ đề đạt mục tiêu của nó.
3.2. Nhiệm vụ
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Chính sách tiền tê, một mặt là cung cấp đầy đủ phương tiện thanh
toán cho nền kinh tế (lượng tiền cung ứng), mặt khác phải giữ ổn định giá trị
đồng bản tệ. Để thực hiện điều đó. Thông thường trên thế giới, việc xây dựng
và thực hiện chính sách tiền tệ được giao cho ngân hàng trung ương. Có một số
nước, việc xây dựng chính sách tiền tệ có thể do một cơ quan khác , nhưng
thực hiện chính sách tiền tệ này vẫn là ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, trong
lĩnh vực này, Ngân hàng trung ương cần được độc lập ở một mức độ nhất định
với chính phủ.
3.3. Các công cụ của CSTT :
3.3.1. Nghiệp vụ thị trường mở:
Khái niệm: Là những hoạt động mua bán chứng khoán do NHTW thực
hiện trên thị trường mở nhằm tác động tới cơ số tiền tệ qua đó đIều tiết lượng
tiền cung ứng.
Cơ chế tác động:Khi NHTW mua (bán)chứng khoán thì sẽ làm cho cơ
số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên (giảm đi).
Khái niệm : Đây là hoạt động mà NHTW thực hiện cho vay ngắn hạn đối với
các NHTM thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc đIều chỉnh lãI suất táI
chiết khấu (đối với thương phiếu) và hạn mức cho vay táI chiết khấu(cửa sổ
chiết khấu)
Cơ chế tác động:Khi NHTW tăng (giảm ) lãi suất tái chiết khấu sẽ hạn chế
(khuyến khích) việc các NHTM vay tiền tại NHTW làm cho khả năng cho
vay của các NHTM giảm (tăng) từ đó làm cho mức cung tiền trong nền kinh
tế giảm (tăng).Mặt khác khi NHTW muốn hạn chế NHTM vay chiết khấu của
mình thì thực hiện việc khép cửa sổ chiết khấu lại. Ngoài ra, ở các nước có thị
trường chưa phát triển (thương phiếu chưa phổ biến để có thể làm công cụ táI
chiết khấu) thì NHTW còn thực hiện nghiệp vụ này thông qua việc cho vay táI
cấp vốn ngắn hạn đối với các NHTM.
Đặc điểm:Chính sách tái chiết khấu giúp NHTW thực hiện vai trò là người
cho vay cuối cùng đối với các NHTM khi các NHTM gặp khó khăn
trong thanh toán ,và có thế kiểm soát đựoc hoạt động tín dụng của các NHTM
đồng thời có thể tác động tới việc đIều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế
thông qua việc ưu đãi tín dụng vào các lĩnh vực cụ thể.Tuy vậy ,hiệu qủa của
cộng cụ này còn phụ thuộc vào hoạt động cho vay của các NHTM, mặt khác
mức lãi suất tái chiết khấu có thể làm méo mó ,sai lệch thông tin về cung cầu
vốn trên thị trường.
Trên đây là 3 công cụ tác động gián tiếp tới qui mô lượng tiền cung
ứng,trong một nền kinh tế nếu NHTW sử dụng có hiệu quả cấc công cụ này
thì sẽ không cần đến bất cứ một công cụ nào khác .Tuy vậy trong những điều
kiện cụ thể (các quốc gia đang phát triển ;các giai đoạn kinh tế quá nóng ) thì
để đạt được mục tiêu của mình ,NHTW có thể sử dụng các công cụ điều tiết
trực tiếp sau:
3.3.4. Quản lý hạn mức tín dụng của các NHTM
Khái niệm :là việc NHTW quy định tổng mức dư nợ của các NHTM
không được vượt quá một lượng nào đó trong một thời gian nhất định(một
năm) để thực hiện vai trò kiểm soát mức cung tiền của mình.Việc định ra hạn
cho các NHTM bị động,tốn kém trong hoạt động kinh doanh của mình.
Phụ lục: Đặc điểm của một số ngân hàng ở các quốc gia khác
Ngân hàng trung ương (Central Bank) ở bất cứ quốc gia nào đều là một
trong những cơ quan có vị thế cực kỳ quan trọng, là ngân hàng đứng đầu trong
hệ thống ngân hàng. Đặc điểm nổi bật của ngân hàng trung ương là nó không
giao dịch, làm nghiệp vụ trực tiếp với các nhà kinh doanh và công chúng,
khách hàng của nó là tất cả các ngân hàng khác. Ngân hàng trung ương giữ vai
trò là ngân hàng của các ngân hàng; bảo quản quỹ dự trữ tiền tệ của các ngân
hàng; cho các ngân hàng vay vốn khi cần thiết, thực hiện chính sách tiền tệ tín
dụng của nhà nước; cơ quan phát hành tiền tệ trong nước; thanh toán và tín
dụng quốc tế với ngân hàng trung ương các nước khác; là cơ quan cung cấp
tiền cho ngân sách khi cần và làm một số nghiệp vụ của kho bạc nhà nước.
Mỹ
Hệ thống Dự trữ Liên bang (Federal Reserve System) có chức năng như một
ngân hàng trung ương, mặc dù chính thức nó không phải là một ngân hàng mà
chỉ chịu những ảnh hưởng hạn chế của nhánh hành pháp và lập pháp. Hệ thống
này được thành lập ngày 23 tháng 12 năm 1913, nhằm đưa ra trong nước một
11