Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
Tác động của xuất nhập khẩu đến phát triển kinh tế philippines
LỜI NÓI ĐẦU
Như chúng ta đã biết, trong những năm 60 của Thế kỷ trước, người ta đã từng coi
Philippines là một “Nhật Bản thứ hai” với việc nhận được rất nhiều viện trợ từ Mỹ. Thế
nhưng điều này đã không thể xảy ra bởi nạn tham nhũng trầm trọng và những chính sách
sai lầm của Chính Phủ. Đến thập kỷ 90, Philippines lại tiếp tục phải trải qua cuộc khủng
hoảng tiền tệ năm 1997, cuộc khủng hoảng thực sự đã làm suy sụp nền kinh tế của quốc
đảo này.
Tuy nhiên, trong năm năm đầu của Thế kỷ 21 này (2000 – 2005), với những cải
cách mạnh mẽ từ phía Chính Phủ, nền kinh tế Philippines đã có được những bước phát
triển khá tích cực. Trong sự thay đổi tích cực đó, không thể không nói đến vai trò rất
quan trọng của hoạt động thương mại xuất nhập khẩu. Vậy, xuất nhập khẩu tác động đến
sự phát triển kinh tế của Philippines như thế nào và Chính Phủ Philippines có những biện
pháp gì để phát triển hoạt động này một cách hợp lý? Đây chính là hai vấn đề quan trọng
nhất sẽ được đề cập đến trong bài.
Ngoài ra, qua việc tìm hiểu về xuất nhập khẩu và những chính sách thúc đẩy xuất
nhập khẩu của Chính Phủ Philippines, chúng ta cũng có thể rút ra được rất nhiều bài học
có ích cho Việt Nam khi mà nước ta đang hòa nhập sâu rộng với Thế Giới qua việc trở
thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương Mại Thế Giới và được bầu vào ghế ủy
viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hợp Quốc.
Chúng em cũng xin được cảm ơn TS. Phan Thị Nhiệm đã tận tình hướng dẫn để
chúng em có thể hoàn thành bài viết một cách tốt nhất! Do còn thiếu nhiều kinh nghiệm
nên bài viết của nhóm có thể còn nhiều thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sự góp ý
của cô.
*&*
Nhóm 1
1
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NƯỚC CỘNG HÒA PHI-LÍP-PIN
(THE REPUBLIC OF THE PHILIPPINES)
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
+ Lãnh đạo nhà nước hiện nay:
- Tổng thống: Bà Gloria Macapagal Arroyo.
- Phó tổng thống: Ông Noli De Castro.
- Chủ tịch Thượng viện: Ông Manuel B.
- Chủ tịch Hạ viện: Ông Jose.
- Ngoại trưởng: Ông Alberto.
1.2. Thể chế chính trị:
1.2.1. Thể chế nhà nước: Cộng hòa.
+ Từ 1972 trở về trước: Theo Hiến Pháp năm 1935, Quốc hội gồm Thượng viện và
Hạ viện. Đứng đầu Nhà nước và Chính phủ là Tổng thống với nhiệm kỳ 4 năm do dân
bầu trực tiếp.
+ Từ 1981 – 1985: Theo Hiến Pháp năm 1973, Quốc hội chỉ gồm một viện (bỏ
Thượng viện). Đứng đầu Nhà nước là Tổng thống với nhiệm kỳ 6 năm, không được tái
cử. Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng. Quyền lực tập trung vào Tổng thống.
+ Từ 1986 đến nay: Theo Hiến pháp năm 1987, cơ quan lập pháp cao nhất là Quốc
hôi bao gồm hai viện. Thượng viện gồm 24 nghị sĩ (nhiệm kỳ 6 năm) và Hạ viện với 200
đến 250 nghị sĩ (nhiệm kỳ 3 năm).
+ Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ. Tổng thống có quyền: bổ
nhiệm các bộ trưởng nội các với sự thong qua của Quốc hội; thành lập các hội đồng…
+ Cơ chế bầu cử: Theo Hiến Pháp 1987, dân trực tiếp bầu Tổng thống, phó tổng
thống và các nghị sĩ.
1.2.2. Tình hình chính trị chính:
Philippines là một quốc gia có nhiều đảng phái chính trị khác nhau nên tình hình
chính trị trong nước có nhiều bất ổn.
Liên minh Lakas-NUCD-UMDP do Tổng thống Arroyo làm Chủ tịch và ông De
venecia làm đồng chủ tịch. Hiện nay Liên minh này đổi tên là “Lakas ng Kristiyano at
Muslim Democrata “ (Liên minh Sức mạnh quần chúng của những người dân chủ Thiên
chúa giáo và Hồi giáo).
1.3. Kinh tế:
4
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
Chương 2. TÁC ĐỘNG CỦA XUẤT NHẬP KHẨU ĐẾN PHÁT TRIỂN
KINH TẾ PHILIPPINES
Với đường bờ biển rất dài bao quanh cùng tài nguyên thiên nhiên cả trên cạn và
dưới biển đều rất dồi dào, Philippines hội tụ những điều kiện vô cùng thuận lợi để có thể
phát triển kinh tế, đặc biệt là hoạt động thương mại xuất nhập khẩu. Chương này chúng
ta sẽ nghiên cứu về các lợi thế so sánh, hàng rào thuế quan cũng như những vấn đề chính
khác về tình hình, cơ cấu xuất nhập khẩu của Philippines.
2.1. Vai trò của xuất khẩu đối với phát triển kinh tế Philippines:
Như đã nói ở trên, với vị trí địa lý của mình, Philippines có rất nhiều điều kiện để
đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu. Vậy với những lợi thế đó, chính phủ Philippines đã làm
gì để thúc đẩy xuất khẩu, trong phần này chúng ta sẽ tập trung nghiên cứu về xuất khẩu
của Philippines trên tất cả các mặt.
2.1.1. Tình hình và cơ cấu xuất khẩu của Philippines:
Đối với một quốc gia được bao bọc bởi đại dương như Philippines, việc khai thác
và xuất khẩu thủy hải sản là hết sức quan trọng. Và điều đó quả thật đã được minh chứng
bởi vị trí hàng đầu Thế Giới của Philippines về nuôi trồng và xuất khẩu thủy hải sản,
chẳng hạn: đứng thứ tư Thế Giới về xuất khẩu cá ngừ, thứ hai Thế Giới về sản lượng cá
rô phi, nhà xuất khẩu tôm chân trắng hàng đầu thế giới … Cùng với đó là các loại thủy
hải sản khác như cá mú, cá chẽm, cá măng, mực, tôm…
Ngành nông nghiệp cũng đóng góp không nhỏ cho xuất khẩu. Trong đó, chăn nuôi
chiếm một tỷ trọng tương đối lớn (9.26% toàn ngành nông nghiệp), hiện Philippines đang
xuất khẩu gia súc gia cầm sang rất nhiều nước bao gồm: Indonesia, Brunei, Việt Nam,
Malaysia, Nepal, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Iran… Trong đó xuất sang các
nước ASEAN chủ yếu là con giống. Cùng với đó là các sản phẩm cây nông nghiệp như
xoài, chuối, dứa, dừa (dầu dừa)… Trong đó, đặc biệt có xoài Leon và dứa Queen. Hiện
xoài Leon, nhất là sản phẩm xoài chế biến được xuất khẩu rộng rãi sang Nhật Bản, Anh,
Mỹ, Trung Quốc và Trung Đông. Sản lượng xoài Leon đạt tới 5000 tấn/năm đem lại cho
Nhóm 1
(Nguồn: Website: http://www.gso.gov.vn – Tổng cục thống kê Việt Nam)
Qua biểu đồ ta dễ thấy đã có sự tăng trưởng khá nhanh trong xuất khẩu của
Philippines kể từ 2002 đến nay. Tuy nhiên giá trị xuất khẩu vẫn còn ở mức thấp, đây
cũng là điều dễ nhận ra ở các nước đang phát triển như Philippines.
Nhóm 1
6
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
Đất nước Philippines có quyền tự hào với những bãi biển tươi đẹp, gồm nhiều
đảo nhỏ và có nhiều địa điểm du lịch đầy tiềm năng khác nhau như các tỉnh đảo, thành
phố đảo Palawan, Davao, Cebu, Mount Apo để phát triển du lịch. Hệ thống khách sạn,
nhà nghỉ sang trọng được xây dựng dọc theo những bãi cát trắng trải dài, kèm theo các
dịch vụ bơi lặn và người hướng dẫn nhiệt tình. Bên cạnh đó, người Philippines có nghề
truyền thống nổi tiếng là đan giỏ bằng mây và bằng các sản phẩm tự nhiên khác rất tinh
xảo. “Với những tiềm năng du lịch của đất nước chúng tôi, không lý do gì khiến du
khách Trung Quốc lại không thể đến với Philippines” - Ông Duterte (bộ trưởng bộ du
lịch Philippines ) nói.
Philippines đang đẩy mạnh xây dựng thêm cơ sở vật chất mới, nâng cao chất
lượng cơ sở hạ tầng để thu hút khách du lịch. Như việc xây dựng 23 nhà vệ sinh kỹ thuật
cao còn bảo đảm đủ nước, giấy vệ sinh và xà phòng ở các cơ sở vệ sinh công cộng. Với
mục tiêu thu hút 3 triệu du khách nước ngoài vào cuối năm 2006 và 5 triệu du khách vào
cuối năm 2010, Philippines (từ tháng 5-2005) đã cho phép các hãng hàng không giá rẻ
trong và ngoài nước thực hiện các chuyến bay nối sân bay quốc tế và các điểm du lịch
nước này với các thành phố ở các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực. Biện pháp nói
trên đã giúp tăng 8,2% lượng du khách đến nước này một năm qua.
Trong nhưng năm qua nghành du lịch Phillipines tuy có tiềm năng lớn nhưng
chưa được phát huy, đóng góp của ngành du lịch khoang 2-3% vào nền kinh tế. Ngành
du lịch nước này đang hướng đến mục tiêu sẽ thu hút được 5 triệu khách du lịch mỗi năm
bắt đầu từ năm 2008. Các nước Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ là những thị
trường du khách chủ yếu mà Philippines nhắm đến trong kế hoạch của họ.
2.1.2. Tác động của xuất khẩu tới phát triển kinh tế của Philippines:
Từ biểu đồ ta thấy: Xuất khẩu của Philippines đóng góp vào GDP tương đối lớn
( chiếm khoảng 40% GDP) – Theo cách tiếp cận thu nhập.
Năm 200, do việc bế tắc về đường lối chính sách kinh tế do đó xuất khẩu và GDP
đều giảm, nhưng từ năm 2001 có sự phát triển nhưng không đáng kể.
Chúng ta có thể nghiên cứu sự tác động của xuất khẩu đến GDP của Philippines
theo phương pháp OLS (Ordinary Least Squares Estimation) – phương pháp nghiên cứu
của môn kinh tế lượng. Ta xây dựng mô hình hồi quy đơn cho hai biến GDP, EX trong
giai đoạn 2000-2005:
GDP: Tổng sản phẩm quốc dân của Philippines (triệu USD).
Nhóm 1
8
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
EX: Giá trị hàng xuất khẩu của Philippines (triệu USD).
Bảng số liệu:
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
GDP 75912 71216 76813 79634 86703 98372
EX 28078.25 32150.2 35208.16 36231.21 39680.52 41254.68
Xử lý các số liệu trên bằng phần mềm nghiên cứu Kinh Tế Lượng MFIT 4 ta
được các kết quả sau: (lấy mức ý nghĩa α = 5%)
Ordinary Least Squares Estimation
***********************************************************************
Dependent variable is GDP
6 observations used for estimation from 2000 to 2005
***********************************************************************
Regressor Coefficient Standard Error T-Ratio[Prob]
INPT -14881.0 26886.3 55348[.609]
EX 2.5963 .72234 3.5942[.023]
***********************************************************************
R-Squared .76357 R-Bar-Squared .70446
S.E. of Regression 5293.9 F-stat. F( 1, 4) 12.9184[.023]
lực, vật lực vào các ngành có khả năng xuất khẩu cao. Đối với Philippines, chính phủ có
những chính sách hỗ trợ cho các ngành có tiềm năng xuất khẩu như: Ngành thuỷ sản: cá
ngừ, cá rô phi, tôm chân trắng….đặc biệt sản lượng tôm chân trắng xuất khẩu của
Philippines đứng đầu thế giới; ngoài ra ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp chế biến
cũng đóng góp một phần không nhỏ trong các mặt hàng xuất khẩu của Philippines, qua
đó tạo ra những thay đổi rõ rệt trong cơ cấu kinh tế của nước này.
•Xuất khẩu ảnh hưởng tới cơ cấu xã hội:
Như một quy luật tất yếu, bất cứ sự phát triển kinh tế nào cũng sẽ bao gồm cả
những thay đổi tùy theo mức độ của cơ cấu xã hội. Philippines không phải một ngoại lệ.
Hoạt động xuất khẩu của Philippines, như đã nói ở trên, tạo ra những cú hích tích cực
cho sự tăng trưởng kinh tế và thay đổi cơ cấu kinh tế, do đó đã gây ra những thay đổi khá
rõ rệt trong cơ cấu xã hội của đất nước này. Việc đẩy mạnh xuất khẩu thủy hải sản đã
làm một bộ phận lớn lao động trong khu vực nông thôn chuyển sang các ngành khai thác
thủy hải sản và ngành công nghiệp chế biến. Việc hàng điện tử và công nghiệp chiếm tỷ
trọng lớn nhất trong cơ cấu hàng xuất khẩu cũng thúc đẩy một bộ phận lớn lao động di
chuyển sang ngành này. Tóm lại, một cách rất dễ dàng, chúng ta có thể nhận ra rất rõ rệt
sự tác động của xuất khẩu vào cơ cấu kinh tế Philippines.
2.1.3. Hoạt động xuất khẩu của Philippines:
a) Lợi thế so sánh trong xuất khẩu của Philippines:
Nằm trên vành đai gió mùa châu Á –Thái Bình Dương, được bao bọc bởi đại
dương, phần lớn diện tích là núi và Đồng Bằng Duyên Hải cùng với nguồn tài nguyên
thiên nhiên dồi dào, Philippines hội tụ những điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển nông
Nhóm 1
10
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
lâm ngư nghiệp. Đồng thời chính phủ đã có những chính sách tác động tích cực tạo ra
những lợi thế lớn cho hoạt động xuất khẩu của Philippines.
•Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên:
Philippines là một quần đảo với 7.017 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau, tạo điều kiện
thuận lợi trong việc khai thác và nuôi trồng thuỷ hải sản. Philippines nằm ở “vành đai cá
tăng cường năng lực sản xuất cho nông dân nhằm tăng năng suất bằng việc thường xuyên
trang bị máy móc thiết bị hiện đại và tiến hành nhiều chương trình hỗ trợ đào tạo người
nông dân. Ví dụ: Những khu trồng dứa ứng dụng công nghê cao tại Bicol và Camarine
Norte.
Hệ thống đường bộ, mạng lưới viễn thông ổn định cùng những cảng côngtennơ
lớn luôn sẵn sàng giao thương với Thế Giới cũng là những thuận lợi rất lớn cho xuất
khẩu của Philippines.
b) Chính sách của Chính Phủ Philippines đối với hoạt động xuất khẩu:
Philippines là một nước nông nghiệp, nên các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là
hàng nông thủy sản và một số sản phẩm công nghiệp như linh kiện điện tử, dầu dừa…
Đây là các mặt hàng có tính cạnh tranh cao vì đây là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
của hầu hết các nước. Do vậy chính phủ cần có các biện pháp quản lí và hỗ trợ đẻ tạo ưu
thế xuất khẩu trên thị trường thế giới.
• Tỷ gía hối đoái và chính sách của chính phủ Philippines :
Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàng trung ương
Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ đồng peso bằng cách
nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15% lên 24%. Đồng peso vẫn mất
giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào
cuối khủng hoảng. Cuối cùng cuộc khủng hoảng tài chính đã được giải quyết nhờ một số
biện pháp của ngân hàng trung ương như:
+ Bình ổn tỉ giá đồng peso với USD
+ Tăng lượng ngoại hối chảy vào từ nước ngoài chảy vào
+ Tăng cường xuất khẩu hàng điện tử giúp bù đắp những tác động của việc
giá dầu nhập khẩu tăng lên tài khoản vãng lai
+ Lãi suất thực tế thấp và chi ngân sách lớn hơn sẽ giúp duy trì tốc độ tăng
trưởng ở mức 7.5%
Nhờ những chính sách đó nên Philippines có những tiến bộ đáng kể
+ Tỷ giá hối đoái trung bình đồng Peso - Dollar Hoa Kỳ là 56,04 năm 2004,
tức là đồng peso giảm giá 3,4% so với tỷ giá 52,20 năm 2003. Năm 2005, tỷ giá này là
55,086.
nguồn vốn có khả năng cho vay để phục vụ cho khu vực nông nghiệp. Đồng thời thành
lập quỹ tín dụng bảo đảm công nghiệp, trong đó những người vay thuộc vùng chậm phát
triển được hưởng tỷ lệ lãi suất ưu đãi thấp hơn 20% so với thị trường, thành lập quỹ tín
Nhóm 1
13
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
dụng nông nghiệp tổng hợp, Quỹ tín dụng cho những người hành nghề tự do, Quỹ bảo
lãnh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ v.v
• Chính sách của chính phủ nhằm tăng sản lượng nông nghiệp:
Với mục đích đẩy mạnh phát triển nông nghiệp đáp ứng cho nhu cầu trong nước
và mục tiêu xuất khẩu chính phủ Philippines đã đưa ra những chính sách ưu tiên khuyến
khích phát triển sản xuất nông nghiệp:
+ Giảm thuế nông nghiệp và công nghiệp chế biến các sản phẩm từ dừa.
+ Hỗ trợ tín dụng, kỹ thuật và giống cho nông dân, nông trang trồng dừa.
+ Ban hành đạo luật bảo tồn dừa, nghiêm cấm việc đốn dừa.
+ Chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp dầu
thực vật.
+ Philippines dự định sẽ tăng cường sản xuất lúa miến đường để chế biến
thành nhiên liệu sinh học làm năng lượng thay thế. Nông dân sẽ là những người có lợi
nhờ việc sản xuất đồng loạt loại lúa miến lai đang được phát triển ở Ấn Độ.
+ Chính phủ Philipin đưa lúa miến vào danh sách các mặt hàng ưu tiên nghiên
cứu và phát triển vì ngoài tác dụng lương thực còn có nhiều tác dụng khác.
+ Chính phủ đưa ra những biện pháp tài chính để khuyến khích sản xuất nhiên
liệu sinh học từ sản phẩm nông nghiệp.
• Chính sách xuất khẩu hàng nông thủy sản Philippines:
Theo thống kê, cá ngừ, rong biển và tôm là các mặt hàng thủy sản xuất khẩu
chính của philippies chủ yếu được xuất sang Mỹ, Nhật bản và Hông Kông với tổng kim
nghạch 475,379 triệu USD vào năm 2005. Giống như các công ty xuất khẩu thủy sản
Indonesia các doanh nghiệp thủy sản Philippines cũng được miễn thuế xuất khẩu từ ngày
02/01/2007.
hàng nhập khẩu của Phillipin chưa có sự thay đổi rõ rệt trong những năm qua. Máy móc
thiết bị chiếm khoảng 30% kim nghạch nhập khẩu của Phillipin, trong những năm gần
đây lượng vật liệu xây dựng, sắt thép đang được Phillipin tăng cường nhập khẩu để phục
vụ cho nhu cầu xây dựng trong nước.
• Về nông nghiệp:
Tuy là một nước nông nghiệp nhưng Philippines hiện đang phải nhập khẩu gạo từ
Việt Nam và một số nước khác. Kể từ đầu năm tới nay Philippines đã nhập khẩu tới 1.61
triệu tấn gạo từ việt nam. Từ năm 1996 hai nước chính thức thiết lập quan hệ thương mại,
chỉ sau 10 năm kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Philippines đã từ 168 triệu USD
(năm 1996) lên tới 778 triệu USD (năm 2005) tăng 460%. Hiện nay kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam chiếm khoảng 1,8% kim ngạch nhập khẩu của Philippines.
Nhóm 1
15
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
Số liệu xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Philippin tháng 9 và 9 tháng 2006:
Mặt hàng xk ĐVT Tháng 9/2006 9 tháng 2006
Lượng Trị giá (USD) Lượng Trị giá (USD)
Hàng hải sản USD 220.643 2.359.044
Hạt điều Tấn 43.750 113 350.591
Cà phê Tấn 16 762.804 6.439 4.545.688
Chè Tấn 551 186.472 339 949.618
Hạt tiêu Tấn 65 95.841 942 1.204.495
Gạo Tấn 4.223136 1.405.388 1.473.399 417.430.196
Mặc dù Philippin là thị trường đã có thói quen tiêu dùng hàng hoá nhập khẩu theo
tiêu chuẩn của các nước phát triển. Song số đông người nghèo vẫn cần những loại hàng
hoá chất lượng trung bình, giá cả hợp túi tiền. Tận dụng cơ hội này hàng hoá Việt Nam
XK sang Philippin ngày càng nhiều về số lượng cũng như chủng loại. Nhóm hàng chính
xuất khẩu của Việt Nam sang Phillipin là lương thực phẩm, hàng năm kim nghạch chiếm
50-60% trong tổng kim nghạch xk của Việt Nam sang Phillipin. Năm 2005 Philllipin
gia, chính vì vậy khi nghiên cứu các hoạt động kinh tế không thể không nói đến ảnh
hưởng của nó đến GDP. Chúng ta sẽ nói đến sự ảnh hưởng của nhập khẩu đến GDP của
Philippines trong phần dưới đây tiếp theo dưới đây.
• Nhập khẩu ảnh hưởng tới GDP của Philippines :
GDP của Philippines từ năm 2000 – 2005
0
20000
40000
60000
80000
100000
2000 2001 2002 2003 2004 2005
GDP(triệu USD)
Nhập khẩu(Triệu USD)
Biểu đồ: 2.1
(Nguồn: Website: http://www.gso.gov.vn - Tổng cục thống kê Việt Nam)
Nhìn trên biểu đồ ta thấy GDP của Philippines có xu hướng tăng với nhịp độ tương
đối đều đặn. GDP của Philippines tăng từ 75912.5 triệu USD năm 2000 lên tới 98305.9
triệu USD năm 2005, và giá trị hàng nhập khẩu cũng tăng dần theo các năm tương ứng,
từ 33087 triệu USD năm 2000 lên 49487 triệu USD năm 2005.Ta có thể nhận thấy nhập
Nhóm 1
17
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
khẩu chiếm tỉ trọng khá lớn trong GDP của Philippines, điều đó cho ta thấy sự ảnh hưởng
của nhập khẩu tới GDP của Philippines là rất lớn.
Theo cách tính GDP là tổng tiêu dùng, các nhà kinh tế học đưa ra một công thức
như sau:
GDP = C + I + G + NX
Trong đó:
• C: là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nền kinh tế.
Cao su 216 264 268 274 311 326
Cà phê 126 110 107 106 103 106
Cây chuối sợi 77 73 63 70 74
Khai khoáng
Quặng crôm 27 28 22 34 43 38
Đồng 32 96 79 81 71 75
Công nghiệp chế biến
Xi măng 11959 11378 13398 13067 13057
Năng lượng
Dầu thô 66 75 317 149 139 208
Than 1354 1231 1665 1857 2482 2880
Điện (Tr, Kwh) 45290 47049 48467 52941 55957 56553
(Nguồn: Website: http://www.gso.gov.vn - Tổng cục thống kê Việt Nam)
Từ bảng số liệu ta có thể thấy sản lượng ngành nông nghiệp của Philippines vẫn
còn thấp, không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, chính vì vậy Philippines có
sản lượng nông nghiệp nhập khẩu rất lớn, một bạn hàng lớn trong việc nhập khẩu hàng
nông nghiệp (đặc biệt là nhập khẩu gạo) của Philippines là Việt Nam. Hàng năm Viêt
Nam và Philippines đã kí kết những hợp đồng xuất nhập khẩu với giá trị lên tới hàng
trăm nghìn tấn.
Biểu đồ 2.3: Giá trị xuât nhập khẩu của Philippines 2000-2005(triệu USD)
Nhóm 1
19
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
0
5000
10000
15000
20000
25000
30000
Philippines, chính sách thuế và các biện pháp quản lý nhập khẩu khác.
• Hàng rào thuế quan và phi thuế quan:
Trong hơn 15 năm qua Philippines đã từng bước nới lỏng hàng rào thuế quan
của mình. Biểu thuế nhập khẩu đã giảm đáng kể cho dù vẫn còn khá nhiều ngành đang
nhận được sự bảo hộ khá lớn từ phía chính phủ như: ô tô, hóa dầu, thép, may mặc, thủ
công mỹ nghệ…
Tuy nhiên Philippines vẫn giữ mức thuế cao cùng những thủ tục giấy tờ phức
tạp đối với hàng nông sản, đặc biệt là những mặt hàng nhạy cảm. Chẳng hạn, đối với
lương thực, đặc biệt là ngô, mức thuế trong hạn ngạch là 35% còn ngoài hạn ngạch là
65%; khoai tây: mức thuế trong hạn ngạch là 45%, ngoài hạn ngạch là 60%; hạt cà phê:
trong hạn ngạch là 10%, ngoài hạn ngạch là 60%.
15 dòng thuế đối với nông sản hiện khi nhập khẩu phải chịu những ràng buộc về
khối lượng tối thiểu theo hạn ngạch thuế quan. Những mặt hàng phải chịu hạn ngạch thuế
quan bao gồm: động vật sống, thịt bò tươi và thịt bò ướp lạnh, thịt lợn ướp lạnh, thịt gia
cầm, thịt dê, khoai tây, cà phê, cây ngũ cốc và đường. Chỉ thị (A.0) số 9 năm 1996 của
chính phủ nước này đã được sửa đổi thành chỉ thị số 8 năm 1997. Theo đó, những hạn
ngạch thuế quan này vẫn sẽ được thực hiện kèm theo đó là việc sử dụng những giấy phép
nhập khẩu. Điều này rõ ràng cũng nhằm bảo trợ cho ngành nông nghiệp Philippines.
• Hệ thống thuế quan:
* Thuế nhập khẩu:
Cũng như tất cả các nước khác trên Thế Giới, tất cả hàng hóa nhập khẩu vào
Philippines đều phải nộp thuế hải quan nếu như không phải là những mặt hàng được
miễn thuế phù hợp với quy định của Bộ Tài Cính nước này. Biểu thuế nhập khẩu của
Philippines rất đa dạng, từ 3-50% tùy từng loại hàng hóa. Theo chương trình cắt giảm
thuế quan đơn phương, hầu hết các mặt hàng đều đã được giảm thuế theo chỉ thị hiện
hành E0470; E0189 giảm thuế đối với thiết bị vốn; E0204 đối với hàng dệt may và hóa
chất đầu vào; E0264 giảm thuế còn 3% đối với nguyên vật liệu và 10% đối với thành
phẩm trước năm 2003. Đây hẳn là những động thái nhằm từng bước dỡ bỏ thuế theo lộ
trình cam kết khi Philippines gia nhập WTO.
* Định giá tính thuế hàng nhập khẩu:
(3) Thanh toán thuế
(4) Giải phóng hàng hóa khỏi khu vực thuế quan
Hải quan Philippines áp dụng hai loại tờ khai nhập khẩu là chính thức và không
chính thức.
Nhóm 1
22
Đại học Kinh Tế Quốc Dân Kinh Tế Đầu tư K47B
+ Chính thức: Hàng hóa nhập khẩu do mục đích thương mại với mức thuế
dưới 500 USD hoặc hàng gia dụng không có giá trị thương mại được mang vào
Philippines trong hành lý của khách du lịch và thư với mục đích sử dụng cá nhân.
+ Không chính thức: Các hình thức khác.
Tất cả hàng hóa nhập khẩu được yêu cầu kiểm tra trước khi chuyên chở (PSI). Việc kiểm
tra được thực hiện bởi một công ty kiểm định được phép hoạt động tại nước xuất khẩu.
Hàng hóa phải được chứng nhận “sạch” (CRF) và phải được nộp kèm với tờ khiai nhập
khẩu.
* Nhập khẩu tạm thời:
Ở Philippines, những mặt hàng được nhập khẩu tạm thời là những mặt hàng được
phép nhập khẩu không có điều kiện, trong đó những mặt hàng nhất định sử dụng cho các
mục đích cụ thể được miễn thuế nhưng phải nộp một khoản bảo đảm tương đương 150%
thuế được xác định để đảm bảo tái xuất trong một thời hạn cụ thể.
Các mặt hàng được nhập khẩu tạm thời bao gồm:
+ Hàng mua để phục vụ sửa chữa, chế biến hoặc tu bổ sẽ được tái xuất sau
khi hoàn thành việc sửa chữa, chế biến, tu bổ trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày nhập.
+ Hàng, phương tiện cá nhân và đồ gia dụng thuộc sở hữu của các chuyên
gia nước ngoài đang làm việc trong nước và các nhân viên cũng như gia đình của họ
được mang theo trong một khoảng thời gian hợp lý.
+ Hàng đựoc sử dụng cho giải trí công cộng hoặc trưng bày triển lãm, các
thiết bị chung sẽ được tái xuất sau 6 tháng kể từ ngày nhập.
+ Các vật phẩm do nhà sản xuất phim nước ngoài mang theo được tái xuất
trong vòng 6 tháng kể từ ngày nhập, có thể gia hạn thêm 6 tháng.